Đề tài " Quản lý nhà nước về xăng dầu " - Pdf 16

Luận văn
Đề tài : Quản lý nhà nước về xăng dầu
Bài thảo luận nhóm 2 _ Lớp 100TECO 0511 Hà Nội 11/2010 1
Mục lục
PHẦN THỨ I
KHÁI QUÁT LÝ LUẬN
1.Khái niệm và một số đặc điểm của quản lý nhà nước về thương mại
Quản lý nhà nước về thương mại
Đặc điểm cơ bản của quản lý nhà nước về thương mại
2.Chức năng quản lý nhà nước về thương mại
a.Chức năng kế hoạch hóa về thương mại
b.Chức năng tổ chức và phối hợp các hoạt động quản lý thương mại
c.Chức năng lãnh đạo ,điều khiển các hoạt động thương mại
d.Chức năng kiểm soát các quan hệ trao đổi ,các hoạt đông thương mại.
3.Vai trò của quản lý nhà nước về thương mại
a.Định hướng ,hướng dẫn hoạt động của các chủ thể trao đổi
b.Tạo lập môi trường thương mại và cạnh tranh
c.Hỗ trợ các doanh nghiệp giải quyết các mâu thuẫn,tranh chấp thương mại
d.Điều tiết quan hệ thị trường ,các hoạt động thương mại
e.Giám sát ,kiểm tra thực hiện các mục tiêu phát triển thương mại
PHẦN THỨ II
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM
I.Chức năng và vai trò quản lý nhà nước về xăng dầu
Bài thảo luận nhóm 2 _ Lớp 100TECO 0511 Hà Nội 11/2010 2
a. Quy hoạch phát triển hệ thống kinh doanh xăng dầu
b. Tổ chức kinh doanh xăng dầu
c. Quản lý kinh doanh xăng dầu
d.Thanh tra ,kiểm tra xử lý các hoạt động kinh doanh xăng dầu.
II.Thực trạng quản lý nhà nước về xăng dầu tại Việt Nam
1.Tổng quát về hoạt động kinh doanh xăng dầu
2.Phân tích hoạt động quản lý kinh doanh xăng dầu qua các giai đoạn

Đặc điểm cơ bản của quản lý nhà nước về thương mại
Quản lý nhà nước về thương mại mang những đặc điểm chung của quản lý
nhà nước về kinh tế.Mọi loại hình quản lý về kinh tế bao gồm hai hệ thống
là các cơ quan quản lý và đối tượng quản lý.Con người là trung tâm của
quản lý nằm ở hai hệ thống,do vậy mọi quản lý suy cho cùng là quản lý con
người,vì con người .Quản lý bao giờ cũng có sự trao đổi thông tin và liên hệ
ngược,nếu không có thông tin quản lý sẽ không thể thực hiện hiệu quả.Quản
lý kinh tế luôn hướng vào mục tiêu xác định và phải có giải pháp thực hiện
mục tiêu đã vạch ra.
Tính đặc thù của quản lý nhà nước về thương mại
Mục tiêu của quản lý nhà nước về thương mại gắn liền với quá trình kinh
tế xã hội ,các lợi ích cần đạ được từ thương mại trong từng thời kỳ cụ thể
.Mục tiêu quản lý nhà nước về thương mại bị chi phối bởi mục tiêu quản lý
kinh tế xã hội mà Đảng ,Nhà nước đã vạch ra .Mục tiêu bao trùm của quản
lý nhà nước về thương mại là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định ,bền vững
và đảm bảo sự tiến bộ và công bằng xã hội.
Bài thảo luận nhóm 2 _ Lớp 100TECO 0511 Hà Nội 11/2010 4
Để đạt được mục tiêu ,quản lý nhà nước về thương mại cần phải có quá
trình tổ chức công nghệ và kỹ thuật để vận hành ,phải sử dụng các công
cụ ,phương tiện mang tính liên ngành để điều tiết hoạt động thương mại theo
định hướng mục tiêu ,phù hợp với lợi ích mong muốn trong mỗi thời kỳ.
Quản lý nhà nước về thương mại bao gồm quản lý các chủ thể thương
nhân ,các nhà sản xuất và người tiêu dùng trong và ngoài nước cũng như
hoạt động trao đổi của họ cùng cơ sở hạ tần vật chất kỹ thuật thương mại
.Quản lý nhà nước về thương mại còn bao gồm việc kiểm tra sự chấp hành
chính sách,pháp luật và các định chế khác có liên quan tới lĩnh vực thương
mại .Nó liên quan tới nhiều cấp ,nhiều ngành và đòi hỏi phải có sự phối hợp
trong nước và quốc tế .
2.Chức năng quản lý nhà nước về thương mại
a.Chức năng kế hoạch hóa về thương mại

nhiều bộ ngành .Do vậy ,nhà nước phải phối hợp giữa các cơ quan quản lý
về thương mại ,các cấp trung ương và tỉnh ,giữa các ngành thương mại dịch
vụ với các ngành sản xuất trong nền kinh tế ,giữu chính phủ ,quốc hội ,tòa
án và cơ quan khác .
c.Chức năng lãnh đạo ,điều khiển các hoạt động thương mại
Nhà nước là người đại diện quyền lợi hợp pháp của mọi chủ thể tham gia
thị trường ,đảm bảo thực thi quyền kinh doanh của các doanh nghiệp,bằng
luật pháp ,khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền.Một
mặt ,nhà nước hướng dẫn ,kích thích doanh nghiệp hoạt động theo định
hướng đã vạch ra.Mặt khác ,nhà nước phải điều tiết thị trường ,can thiệp khi
cần thiết để ổn định kinh tế vĩ mô ,duy trì sức mạnh nền tài chính quốc gia
,giữ vững sức mua của tiền tệ ,đảm bảo lợi ích của người sản xuất và người
tiêu dùng .Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau để điều tiết thị
trường và quan hệ thương mại ,xử lý mâu thuẫn của các quan hệ trao đổi
đó .Những biện pháp khuyễn khích hay hạn chế trong thương mại quốc tế
thường được sử dụng là các chính sách kinh tế như ; thuế ,lãi suất ,giá,tỷ
giá,trợ cấp khác và các công cụ phi thuế.Nhà nước sử dụng hệ thống pháp
Bài thảo luận nhóm 2 _ Lớp 100TECO 0511 Hà Nội 11/2010 6
luật để ràng buộc quan hệ trao đổi ,buôn bán của các chủ thể kinh doanh trên
thị trường ,không phân biệt đó là nhà kinh doanh trong nước hay nước ngoài
.
d.Chức năng kiểm soát các quan hệ trao đổi ,các hoạt đông thương mại.
Nhà nước kiểm soát tất cả các quan hệ trao đổi buôn bán trên thị trường
giữa các bên thông qua bộ máy tổ chức bằng việc sử dụng các phương
pháp ,công cụ khác nhau .Nhà nước kiểm soát trực tiếp hoạt động sản xuất
kinh doanh đối với các doanh nghiệp nhà nước để đảm bảo sử dụng hiệu quả
các nguồn lực ,tài sản quốc gia cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
trong từng thời kỳ.
Phát hiện những lệch lạc nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạm pháp luật và
các quy định chính sách của nhà nước như buôn bán hàng cấm ,kinh doanh

thuẫn giữa các chủ thể kinh doanh với nhau trong mua và bán ,trong nhập
khẩu và xuất khẩu ,mâu thuẫn giữa kinh doanh đúng đắn ,trung thực và kinh
doanh bất hợp pháp ,giữa kinh doanh hàng thật và hàng giả …
Nhà nước dựa vào các chuẩn mực về pháp luật,các định chế cần thiết để
thực hiện và cướng chế việc thi hành luật ,giả quyết tranh chấp thương mại
thông qua hệ thống luật pháp và hệ thống hành pháp .
d.Điều tiết quan hệ thị trường ,các hoạt động thương mại
Các quan hệ thị trường ,các hoạt động trao đổi tự nó không phải bao giờ
cũng cân đối và hiệu quả .Theo quy luật thị trường ,các chủ thể kinh doanh
luân quan tâm tới việc bố trí nguồn lực đến nơi có điều kiện sản xuất và
thương mại thuận lợi ,bán được giá cao ,tìm kiếm lợi nhận dẫn tới việc phân
bổ nguồn lực mất cân đối giữa các vùng miền .Do vậy,nhà nước phải điều
tiết các quan hệ trao đổi ,các hoạt động thương mại để hạn chế nhược điểm
trên nhằm đảm bảo tính cân đối và để mọi người dân đều được hưởng thành
tựu kinh tế xã hội ,để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân .
Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ ,biện pháp khác nhau để điều tiết
thị trường và thương mại xử lý đúng đắn mâu thuẫn của các quan hệ trao
đổi.Những biện pháp khuyến khích hay hạn chế thương mại thường được sử
dụng là thuế quan và các biện pháp phi thuế quan .Để điều tiết thị trường
Bài thảo luận nhóm 2 _ Lớp 100TECO 0511 Hà Nội 11/2010 8
,trong nhiều trường hợp nhà nước phải sử dụng thực lực kinh tế nhà nước để
điều hòa cung cầu ,ổn định giá cả thị trường ,nâng cao sức mua của xã hội .
e.Giám sát ,kiểm tra thực hiện các mục tiêu phát triển thương mại
Quản lý nhà nước về thương mại bao giờ cũng hướng tới mục tiêu cụ thể
phù hợp với định hướng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
trong từng thời kỳ .Do vậy ,thông qua thực hiện các chức năng của quản
lý ,nhà nước sẽ giám sát ,kiểm tra và phát hiện những biểu hiện sai lệch
,những mâu thuẫn bất hợp lý trong quá trình thực hiện mục tiêu để từ đó đưa
ra các giải pháp điều chỉnh sự phát triển cho phù hợp.Các mục tiêu của
thương mại mang tính bền vững bao gồm mục tiêu về kinh tế xã hội ,về môi

• Sản xuất xăng dầu
• Kinh doanh phân phối xăng dầu
• Kinh doanh dịch vụ xăng dầu
• Dự trữ và lưu thông xăng dầu
c. Quản lý kinh doanh xăng dầu
Các quy định vể kinh doanh xăng dầu và điều kiện kinh doanh xăng dầu tại
thị trường Việt Nam hiện nay được thực hiện theo nghị định Số 84/2009 NĐ
CP của thủ tướng chính phủ.
A. Một số khái niệm
1. Xăng dầu là tên chung để chỉ các sản phẩm của quá trình lọc dầu mỏ,
dùng làm nhiên liệu, bao gồm: xăng động cơ, dầu diesel, dầu hoả, dầu
mazut, nhiên liệu máy bay; các sản phẩm khác dùng làm nhiên liệu động cơ,
không bao gồm các loại khí hoá lỏng.
2. Kinh doanh xăng dầu, bao gồm các hoạt động kinh doanh: xuất khẩu,
nhập khẩu, tạm nhập tái xuất xăng dầu; nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất,
chế biến xăng dầu; sản xuất, chế biến xăng dầu; phân phối xăng dầu tại thị
Bài thảo luận nhóm 2 _ Lớp 100TECO 0511 Hà Nội 11/2010 10
trường trong nước; dịch vụ cho thuê cảng, kho, tiếp nhận xăng dầu nhập
khẩu và dịch vụ vận tải xăng dầu.
3. Sản xuất, chế biến xăng dầu là quá trình lọc dầu, chuyển hoá dầu thô và
các nguyên liệu khác thành các sản phẩm xăng dầu.
4. Cơ sở kinh doanh xăng dầu là nơi thực hiện việc sản xuất, chế biến, giao
nhận, tồn trữ, bán lẻ xăng dầu, bao gồm: cảng chuyên dụng xuất nhập xăng
dầu; nhà máy sản xuất, chế biến xăng dầu; kho xăng dầu; phương tiện vận
tải xăng dầu; cửa hàng, trạm bán lẻ xăng dầu.
5. Nguyên liệu để sản xuất, chế biến xăng dầu, bao gồm: dầu thô,
condensate, xăng có chỉ số octan cao, reformate, naphta và các chế phẩm,
phụ gia khác.
6.Thương nhân kinh doanh xăng dầu bao gồm :thương nhân kinh doanh xuất
khẩu ,nhập khẩu xăng dầu ,thương nhân sản xuất xăng dầu ,thương nhân làm

Tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, gia công xuất khẩu xăng dầu và nguyên
liệu thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành.
Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục hải quan đối với hoạt động xuất khẩu
xăng dầu, nguyên liệu có nguồn gốc nhập khẩu.
3.Quy định về thành lập quỹ bình ổn giá
Thương nhân đầu mối có nghĩa vụ trích lập Quỹ Bình ổn giá để tham gia
bình ổn giá theo quy định .
Quỹ Bình ổn giá được lập để tại doanh nghiệp, được hạch toán riêng và chỉ
sử dụng vào mục đích bình ổn giá.
Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế hình thành, quản lý và sử dụng Quỹ Bình
ổn giá.
4.Giá bán xăng dầu
Bài thảo luận nhóm 2 _ Lớp 100TECO 0511 Hà Nội 11/2010 12
- Nguyên tắc quản lý giá bán xăng dầu
a) Giá bán xăng dầu được thực hiện theo cơ chế thị trường, có sự quản lý
của Nhà nước
b) Thương nhân đầu mối được quyền quyết định giá bán buôn; việc điều
chỉnh giá bán lẻ xăng dầu được thực hiện theo nguyên tắc, trình tự và có
trách nhiệm tham gia bình ổn giá theo quy định của pháp luật hiện hành và
được bù đắp lại những chi phí hợp lý khi tham gia bình ổn giá
c) Thời gian giữa hai (02) lần điều chỉnh giá liên tiếp tối thiểu là mười (10)
ngày dương lịch đối với trường hợp tăng giá, tối đa là mười (10) ngày dương
lịch đối với trường hợp giảm giá; khi điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu, thương
nhân đầu mối đồng thời phải gửi quyết định giá và phương án giá của mình
đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
d) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khi nhận được quyết định giá và
phương án giá của thương nhân đầu mối, có trách nhiệm giám sát để bảo
đảm việc điều chỉnh giá của thương nhân đầu mối thực hiện đúng quy định
của pháp luật;
đ) Căn cứ tình hình kinh tế - xã hội, giá xăng dầu thế giới trong từng thời kỳ,

2. Thương nhân kinh doanh xăng dầu phải thực hiện các quy định hiện hành
về quản lý chất lượng xăng dầu trong quá trình nhập khẩu, sản xuất, pha chế,
tồn trữ, vận chuyển và bán cho người tiêu dùng; chịu trách nhiệm về chất
lượng xăng dầu trong hệ thống phân phối thuộc mình quản lý. Phải bảo đảm
độ chính xác của dụng cụ đo lường xăng dầu bán cho các đối tượng sử dụng;
bán đủ số lượng, đúng chất lượng.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm chỉ đạo việc kiểm định các
thiết bị đo lường theo quy định hiện hành của pháp luật về đo lường và việc
bảo đảm chất lượng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và Tiêu chuẩn công
bố áp dụng; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan rà soát các tiêu chuẩn
quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng dầu để điều chỉnh, bổ sung
các chỉ tiêu chất lượng, phương pháp thử phù hợp với tiêu chuẩn của các
nước trong khu vực và quốc tế; chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp trong
nước; tiến hành thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp của tổ
Bài thảo luận nhóm 2 _ Lớp 100TECO 0511 Hà Nội 11/2010 14
chức đánh giá sự phù hợp nước ngoài để bảo đảm đáp ứng yêu cầu kịp thời,
nhanh chóng, chính xác và thuận lợi cho công tác kiểm tra.
d.Thanh tra ,kiểm tra xử lý các hoạt động kinh doanh xăng
dầu.
Thương nhân kinh doanh xăng dầu phải chịu sự thanh tra ,kiểm tra của các
cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh
xăng dầu.
Các Bộ ,cơ quan ngang bộ ,ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo chức năng
,nhiệm vụ của mình có trách nhiệm chỉ đạo ,tổ chức thanh tra ,kiểm tra việc
chấp hành các quy định tại nghị định 84 của thủ tướng chính phủ về kinh
doanh xăng dầu và các văn bản khác ;ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành
vi vi phạm ,bảo đảm bình ổn thị trường xăng dầu ,đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế xã hội và được thực hiện cụ thể như sau:
1. Bộ Công Thương
- Kiểm tra, giám sát thương nhân đầu mối tuân thủ các điều kiện và quy định

1.Tổng quát về hoạt động kinh doanh xăng dầu
Xăng dầu là một trong những loại vật tư
chiến lược hàng đầu của sản xuất, quốc
phòng. Đó là loại vật tư nguyên liệu
không thể thiếu trong cuộc sống. xăng
dầu dùng làm nhiên liệu cho các phương
tiện cho các phương tiện giao thông, máy
Bài thảo luận nhóm 2 _ Lớp 100TECO 0511 Hà Nội 11/2010 16
móc sản xuất trong moi linh vực như công nghiệp, nông nghiệp. Ngay cả
trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày cũng đóng vai trò thiết yếu. Vì vậy
những biến động về giá cả hay trong quản lý xăng dầu cũng sẽ gây ra
những biến động với cuộc sống của người dân, vì đây là vấn đề hết sức
nhạy cảm có tác động trực tiếp.
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung, bao cấp sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, hoạt động kinh doanh xăng
dầu cũng đã trải qua các giai đoạn tương ứng, từ phương thức cung cấp theo
định lượng, áp dụng một mức giá thống nhất do Nhà nước quy định đến mua
bán theo nhu cầu, thông qua hợp đồng kinh tế.
Để tiệm cận với những thay đổi đó, đặc biệt là giai đoạn bắt đầu tiếp cận thị
trường, Nhà nước đã nhiều lần điều chỉnh cơ chế quản lý vĩ mô về kinh
doanh xăng dầu với những chính sách phù hợp với đặc thù của mỗi giai
đoạn.
Khái quát thị trường xăng dầu trong 20 năm qua, kể từ khi Việt Nam đặt
viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng của thị trường xăng dầu năm 1989,
quá trình chuyển đổi có thể phân chia thành 4giai đoạn: trước năm 2000, từ
năm 2000 đến cuối năm 2008 , từ cuối năm 2008 đến tháng 12 năm 2009 và
từ cuối năm 2009 đến nay.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá và nhìn nhận trên mọi góc cạnh của thị
trường, chúng ta cần khẳng định những bước tiến của quá trình đổi mới cơ
chế kinh doanh xăng dầu, đối diện với những mặt hạn chế và đặt ra các vấn

Lệ phí giao thông thu từ năm 1994 cũng được hình thành từ nguyên tắc tận
thu cho ngân sách Nhà nước khi điều kiện cho phép, là khoản thu cố định và
sau này đổi tên là phí xăng dầu.
Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là: nhờ quy định của Nhà nước về giá
chuẩn, doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh giá bán xăng dầu nhập khẩu
thuộc nguồn ngoại tệ tự huy động từ các doanh nghiệp xuất khẩu, đảm bảo
quyền lợi cho họ thông qua tỷ giá phù hợp nên đã huy động được số ngoại tệ
nhập khẩu gần 60% nhu cầu xăng dầu cho nền kinh tế sau khi không còn
nguồn xăng dầu theo Hiệp định.
Chính phủ chủ trương không áp dụng cơ chế bù giá cho các đối tượng sử
dụng xăng dầu thông qua doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là điều kiện
quyết định để Việt Nam có thể tự cân đối được ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu
ngay cả khi nguồn ngoại tệ tập trung của Nhà nước từ dầu thô mới chỉ chiếm
Bài thảo luận nhóm 2 _ Lớp 100TECO 0511 Hà Nội 11/2010 18
tỷ trọng nhỏ hơn 50% so với tổng nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu lúc
đó.
Giai đoạn này cũng là thời kỳ giá xăng dầu thế giới ở mức đáy (dầu thô chỉ ở
mức trên 10 usd/thùng), tương đối ổn định nên với cơ chế giá tối đa, Nhà
nước đã đạt được mục tiêu đề ra, cụ thể là :
1. Cân đối cung - cầu được đảm bảo vững chắc;
2. Các hộ sản xuất và người tiêu dùng lẻ được hưởng mức giá tương đối ổn
định; biến động giá tuy chỉ theo xu hướng tăng song mức tăng đều, không
gây khó khăn nhiều cho sản xuất và tiêu dùng khi chủ động hoạch định được
ngân sách cho tiêu thụ xăng dầu hàng năm;
3. Ngân sách Nhà nước tăng thu thông qua việc tận thu thuế nhập khẩu, phụ
thu, phí xăng dầu
4. Doanh nghiệp có tích luỹ để đầu tư phát triển, định hình hệ thống cơ sở
vật chất, từ cầu cảng, kho đầu mối, kho trung chuyển, phương tiện vận tải
đến mạng lưới bán lẻ.
Mặc dù vậy, cơ chế quản lý - điều hành trong giai đoạn này cũng đã bộc lộ

tỷ đồng này cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh doanh xăng dầu, đã
có thể tạo lập một hệ thống kinh doanh xăng dầu đủ lớn và hiện đại, có khả
năng cạnh tranh khi mở cửa thị trường xăng dầu trong tương lai gần.
Cũng trong giai đoạn này, sau khi nổ ra cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ
2; giá xăng dầu đã dịu lại song cũng đã hình thành một mặt bằng mới; trước
nguy cơ không thể cân đối ngân sách cho bù giá xăng dầu, Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Quyết định số 187/2003/QĐ-TTg ngày 15/9/2003 về kinh
doanh xăng dầu.
Cho đến thời điểm này, sự đổi mới cơ chế quản lý, chủ yếu là quản lý giá
theo Quyết định 187 vẫn được coi là mạnh mẽ nhất với các tư tưởng cơ bản
bao gồm:
- Nhà nước xác định giá định hướng; doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh
tăng giá bán trong phạm vi + 10% (đối với xăng) và + 5% (đối với các mặt
hàng dầu).
- Hình thành 2 vùng giá bán; giá bán tại vùng xa cảng nhập khẩu, doanh
nghiệp được phép cộng tới vào giá bán một phần chi phí vận tải nhưng tối đa
không vượt quá 2% so với giá bán ở vùng gần cảng nhập khẩu.
- Chỉ thay đổi giá định hướng khi các yếu tố cấu thành giá thay đổi lớn, Nhà
nước không còn công cụ điều tiết, bảo đảm các lợi ích của người tiêu dùng -
Nhà nước và doanh nghiệp.
Bài thảo luận nhóm 2 _ Lớp 100TECO 0511 Hà Nội 11/2010 20
Tuy nhiên, vì những lý do khách quan, sự đột phá cơ chế điều hành giá trong
QĐ 187 chưa được triển khai trên thực tế; cho đến hiện nay, Nhà nước tiếp
tục điều hành và can thiệp trực tiếp vào giá bán xăng dầu, kể cả chiều tăng
và giảm.
Trong giai đoạn này, mặc dù chưa vận hành điều khoản về giá xong sự ra
đời của QĐ 187 năm 2003 và NĐ 55 năm 2007 đã tạo ra một hệ thống phân
phối rộng khắp với gần 10.000 cửa hàng xăng dầu trên cả nước, góp phần ổn
định, lành mạnh hóa thị trường trước đây khá lộn xộn khi thiết lập quan hệ
giữa người nhập khẩu và các đại lý, tổng đại lý khi gắn trách nhiệm, quyền

kinh doanh xăng dầu không có hiệu quả mà luôn được Nhà nước bù lỗ.
Cũng cần khẳng định rằng, chỉ khi Nhà nước bảo đảm đủ cân đối ngoại tệ
cho nhập khẩu xăng dầu thì mới có thể áp dụng biện pháp bù giá. Đây chính
là điểm khác biệt so với giai đoạn trước, khi mà nguồn ngoại tệ từ dầu thô và
các nguồn dự trữ tập trung khác của Nhà nước đã đủ lớn.
c. Giai đoạn từ cuối năm 2008 đến nay
Năm 2009, thị trường tiếp tục diễn biến phức tạp
Năm 2009, thị trường xăng dầu thế giới tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp
và khó dự báo. Thế giới tiếp tục phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách
thức từ hậu quả nặng nề của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế.
Trong giai đoạn 2008-2009, nhu cầu xăng dầu của thế giới đã giảm hơn 2
triệu thùng/ngày, từ mức 86 giảm xuống 84 triệu/ngày, mặc dù trong những
tháng cuối năm 2009, nhu cầu đã bắt đầu tăng trưởng trở lại. Hầu hết, lượng
giảm tập trung tại các nước phát triển OECD (trong đó 1/3 là từ Mỹ, 1/3 từ
Bài thảo luận nhóm 2 _ Lớp 100TECO 0511 Hà Nội 11/2010 22
Châu Âu); những nước đang phát triển ngoài khối OECD như Trung Quốc,
Ấn Độ chỉ chứng kiến sự chững lại tạm thời và sau đó tiếp tục tăng trưởng.
Trong năm 2009, Mỹ chiếm 23%, Châu Âu chiếm 18% nhu cầu tiêu thụ
xăng dầu toàn thế giới.
Giá dầu thế giới nằm trong dự báo, đã lập lại mặt bằng mới với mức giá dầu
thô WTI bình quân cả năm là 61,8 USD/thùng (năm 2008 là xấp xỉ 100
USD/thùng); giá các sản phẩm xăng dầu biến động khá phức tạp với biên độ
dao động rộng hầu như lặp lại của năm 2008, khi so sánh giá bình quân
tháng 12 với tháng 1 của ba sản phẩm chính (xăng 92 - điêzen 0,05S -
madút): năm 2009 tăng tương ứng 61% - 36% - 83%; năm 2008 giảm 61% -
43% - 52%.
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trong nước cũng không nằm
ngoài vùng xoáy của khủng hoảng khi phải đối diện với sản lượng tiêu thụ
sụt giảm, giá sản phẩm biến động khá phức tạp với biên độ dao động không
thua kém năm 2008; Tình hình đảm bảo ngoại tệ cho nhập khẩu xăng dầu

dầu.
Tuy nhiên, từ khi công bố chấm dứt bù giá đến nay, doanh nghiệp vẫn
không có thực quyền về xác định giá bán như các văn bản quy định; Nhà
nước không có biện pháp kiểm soát các doanh nghiệp kết cấu giá bán xăng
để hình thành nguồn trả nợ ngân sách, tạo ra sự mấp mô về giá bán, doanh
nghiệp không bình đẳng trong cạnh tranh; các văn bản mới tiếp tục ra đời
song cũng không đi vào thực tế (barem thuế nhập khẩu, quỹ bình ổn giá); cơ
Bài thảo luận nhóm 2 _ Lớp 100TECO 0511 Hà Nội 11/2010 24
chế đăng ký giá kéo dài mang nặng tính xin cho (phê duyệt), các cơ quan
truyền thông khai thác và đưa ra thông tin về tăng giảm giá rất sớm, không
những không có tính định hướng dư luận mà tạo ra áp lực nặng nề cho cả
doanh nghiệp và cơ quan quản lý, nguồn lực từ doanh nghiệp đầu mối
chuyển qua đại lý rất khó kiểm soát sự minh bạch và đúng đắn của các nhu
cầu ở trước thời điểm tăng giá. Trầm trọng hơn là xã hội không thừa nhận
hoạt động kinh doanh xăng dầu là phải có lãi (dù rất thấp) như tất cả các
hoạt động kinh doanh khác, trong khi dễ dàng chấp nhận thông tin về hoạt
động ngân hàng có thể lãi hàng ngàn tỷ đồng trong 6 tháng 2009.
Trên cả nước trong những năm qua tình hình kinh doanh xăng dầu phát
triển nhanh cả về số lượng Thương nhân kinh doanh và tổng mức lưu
chuyển háng hoá trên thị trường gia tăng góp phần tích cực phục vụ cho các
ngành sản xuất, nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Tuy vậy, trong kinh doanh
xăng dầu hiện nay còn biểu hiện một số hạn chế
• Kinh doanh bán lẻ xăng dầu còn nhiều bất cập
Các cơ sở kinh doanh phát triển nhanh nhưng mang tính tự phát, chưa có
quy hoạch, phân bố không đều, phần lớn tập trung ở thành thị, trên quốc lộ
1A và ven biển; nhiều cơ sở kinh doanh không đảm bảo điều kiện, không có
Giấy Chứng nhận đầy đủ điều kiện kinh doanh nhưng vẫn kinh doanh, nhiều
cột bơm không được Kiểm định. Một số cơ sở kinh doanh không nộp hoặc
nộp không đủ thuế, không Niêm yết giá, thậm chí có hiện tượng phá cặp chì
điều chỉnh phương tiện đo, pha dầu vào xăng, gian lận trong hoá đơn Chứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status