ÔN TẬP LỊCH SỬ TRIẾT HỌC doc - Pdf 17

ÔN TẬP LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Câu 1 : Trình bày quan điểm nhân sinh quan trong Triết học Phật Giáo
Ấn Độ cổ đại.
* Sơ lược tiểu sử :
_ Phật Giáo là trào lưu tôn giáo, xuất hiện khoảng TK6 TCN ở miền Bắc Ấn
Độ. Phật Giáo phản ánh sự phản đối đạo Balamon, sự phân chia đẳng cấp
khắc nghiệt, đòi tự do tư tưởng, lý giải sự khổ đau của con người, và đi tìm
con đường để giải thoát con người khỏi khổ đau. _ Phật Giáo được xây dựng
trên cơ sở đời sống của đức Thích Ca Mâu Ni (Sakyamauni – tức là bậc hiền
giả dòng Sakya ) Phật (Bụt) có nghóa là đấng giác ngộ người khác. _ Lòch sử
của đạo Phật được ghi chép trong kinh Jakata ( được viết sau khi Phật đã
mất 100 năm ), thêm nữa, tôn giáo khi xây dựng tôn giáo của mình thường
thêm thắt các chi tiết để làm tăng chất linh thiêng. Tuy nhiên, giới nghiên
cứu đều thống nhất ở các điểm sau :
1+ Phật là người có thật, con của vương hầu sống cạnh dãy núi Malayia,
bố là Suildhodina, và mẹ là Maga. Tương truyền đức Phật khi sinh ra
nói được ngay, 1 tay chỉ lên trời, 1 tay chỉ xuống đất, mẹ đức Phật
mất, sống với dì ghẻ ( cũng là dì ruột ).
2+ Theo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam; Phật sinh 624 TCN, theo tài liệu
của Trung Quốc trong tác phẩm Tỳ Bà Sa Luận cho rằng Phật sinh
486386 TCN.
3+ Phật đi tu vì : ngay từ nhỏ là người từ bi yêu thương nhân loại. Năm
19t, vua bắt Phật lấy vợ, vì sợ Phật bỏ nhà nên mỗi lần Phật đi chơi
đều cho đi theo và 4 lần Phật đi chơi đều gặp cảnh khổ. Năm 29t,
Phật từ bỏ tất cả ( vợ, con, cung điện ) để đi tu. Lúc đầu tu ở dòng
Sankhya ( lấy roi quật vào người ) 6 năm nhưng không giác ngộ nên
Phật đã bỏ xuống núi đổi cách tu. Phật ngồi gốc cây bồ đề 48 ngày và
khi nhận 1 bát sữa từ tay cô gái chăn bò, có 1 luồng sáng từ trời chiếu
xuống nên giác ngộ.
4+ Sau đó Phật trở về dòng Sankhya giác ngộ cho các bạn cùng tu, rồi
truyền đạo khắp nơi, gặp mùa mưa thì lưu lại, mùa khô thì tiếp tục

1+ Nhò khổ : bên trong & bên ngoài .
2+ Tam khổ : cái khổ quá khứ, hiện tại & tương lai .
3+ Tứ khổ : sinh lão bệnh tử .
4+ Bát khổ .
5+ Oán tăng hội .
6+ Thụ biệt ly : đang yêu mà phải xa nhau -> khổ .
7+ Sở cầu bất đắc khổ : cái ta mong muốn ( công danh , đòa vò , phú
quý ,
tình duyên mà không đạt được -> khổ ) .
8+ Ngũ thủ uẩn khổ : khổ vì thân xác . Thống kê lại , đời người có 110
nỗi khổ . Đời là bể khổ do :
9+ Gắn với chế độ thống trò và đẳng cấp khắc nghiệt ở .
10+ Vòng đới quá ngắn ngủi .
11+ Nhân đế ( tập đế ) : Phật giải thích nguyên nhân của nỗi khổ là do
nguyên nhân nhận thức , nguyên nhân tinh thần . Cụ thể là do Thập
nhò
nhân duyên & nghiệp báo luân hồi gây ra .
12+ Thập nhò nhân duyên :
% • Vô minh : không sáng suốt , không nhận thức sự vật , hiện tượng
.
% • Duyên hành : Hành động của ý thức , dao động của tâm &
khuynh hướng , manh nha của nghiệp .
% • Duyên thức : là tâm thức của con người , từ chỗ trong sáng cân
bằng là minh -> ô nhiễm mất cân bằng là vô minh .
% • Duyên danh sắc : là sự hội nhập của các ý thức tinh thần & vật
chất . Danh là tinh thần , sắc là vật chất . Cơ thể cấu tạo bởi ngũ
uẩn : sắc ( vc ) , thụ ( cảm giác ) , tưởng , hành , thức là tinh thần .
% • Duyên lục nhập : là quá trình tiếp xúc thế giới khách quan ( lục
căn tiếp xúc lục trần )
% • Duyên xúc : là sự tiếp xúc phối hợp giữa lục căn , lục trần và

kiếp khác chòu khổ .
5.+ Phật tại tâm . Niết bàn được hiểu nhiều nghóa nhưng tóm lại niết bàn
là 1 trạng thái không còn ý thức và cái vô thức cũng chìm vào chân
không , nó không còn là 1 quá trình , không có 1 nội dung nào . Tất
cả chỉ còn lại sự yên lặng vô biên . _ Đạo đế : đưa ra con đường giải
thoát diệt khổ , thực chất là nhằm tiêu diệt vô minh , gồm bát chánh
đạo ( 8 con đường chính ) , tam học và lục độ .
6.+ Bát chánh đạo :
% • Chính kiến : hiểu biết đúng đắn .
% • Chính tư duy : suy nghó đúng đắn .
% • Chính ngữ : giữ cho lời nói được chân chính .
% • Chính nghiệp : nghiệp có tà nghiệp và chính nghiệp . Chính
nghiệp phải giữ cẩn thận .
% • Chính mệnh : phải tiết chế dục vọng , phải trì giới ( giữ gìn các
điều răn ) .
% • Chính tinh tiến : phải cố gắng nỗ lực trong việc tìm kiếm và
truyền bá chân lý của đạo Phật
% • Chính niệm : thường phải nhớ Phật và niệm Phật .
% • Chính đònh : là phải ngồi thiền , tónh lặng , tập trung tư tưởng để
suy
nghó về tứ diệu đế và vô ngã vô thường .
+Tam học : gồm giới , đònh , và tuệ .
% • Giới ( điều răn ) : phải giữ gìn các điều răn gồm : ngũ giới ( bất
sát , bất đạo đức là không trộm cắp , bất vọng ngữ tức là không nói
xấu người khác , bất tà tâm là không quan hệ nam nữ lung tung , bất
tữu tức là không uống rượu ) . Bát giới ( không xem ca nhạc , không
nằm soãi tay chân , không ăn quá ngọ , không lấy vợ lấy chồng ,
không được tồn trữ tiền bạc , không được ăn trộm, ăn cắp , không
được nói xấu người khác , không được giết hại sinh vật nhất là người .
% • Đònh : tức là thiền đònh tức là phải ngồi tập trung tư tưởng đến

tồn tại nhiều mâu thuẫn thể hiện tư tưởng của ông vừa mang tính bảo thủ
vừa mang tính tiến bộ. Cụ thể Khổng Tử cho rằng : “trời” là quy luật, trật tự
của vạn vật và mặt khác ông lại khẳng đònh có sự tồn tại của thiên mệnh
và số phận của mỗi con người là do thiên mệnh qui đònh. Mặt khác, ông
cũng khẳng đònh rằng con người với nỗ lực chủ quan của mình hoàn toàn
có thể thay đổi thiên mệnh. Quan niệm về “qủy thần”, Khổng Tử không
nghi ngờ sự tồn tại của qủy thần và ông lại ít bàn đến quỷ thần. Ông
khuyên con người đối xử với qủy thần bằng cách tôn kính, xa lánh và cảnh
giác.
* Học thuyết của Khổng Tử về chính trò – xã hội :
Lý tưởng chính trò của Khổng Tử được biểu hiện tập trung ở trong các học
thuyết nhân, lễ, chính danh.
0 + Nhân: bao gồm nhiều nghóa khác nhau song về cơ bản nhân
được hiểu là ái nhân (thương người). Thương người theo Khổng Tử
là việc gì không muốn xảy ra với mình thì đừng đem áp dụng cho
người khác. Thương
1 người còn được hiểu mình muốn thành đạt phải giúp người khác
thành đạt, mình muốn lập thân phải giúp người khác lập thân.
Thân còn bao gồm hàng loạt các đức tính khác nhau : khiêm tốn,
dũng cảm, thật thà, trung, hiếu, học gắn liền với hành, biết yêu
người đáng yêu, biết ghét kẻ đáng ghét. Từ đó suy ra nhân không
chỉ là thương người mà thực chất còn là đạo làm người. Tuy nhiên,
học thuyết nhân của Khổng Tử lấy việc yêu thương người thân là cơ
sở. Mặt khác nó bò hạn chế bởi lập trường giai cấp. Khổng Tử
khẳng đònh chỉ người quân tử mới có đức nhân, còn kẻ tiểu nhân
thì không có đức nhân. Điều kiện để thực hiện đức nhân là phẩm
chất thật thà, chất phát của con người.
2.+ Lễ : được hiểu theo nghóa rộng là thể chế chính trò xã hội, là phong
tục tập quán truyền thống (sinh, tử, tang, hôn). Khổng Tử cho rằng cần
phải dùng lễ để khôi phục đức nhân, mọi người cần phải tuân thủ

% • Phải có binh lực mạnh để bảo vệ dân.
% • Phải giữ được lòng tin đối với dân. Đồng thời Khổng Tử cho rằng vua
phải lấy lễ để khiến bề tôi, bề tôi phải lấy đạo trung để thờ vua, coi
vua như cha mẹ của mình. _ Đối với quan hệ cha-con : cha đối với
con phải lấy từ ái làm trọng, còn con đối với cha phải lấy đạo hiếu
làm đầu. Hiếu là cốt ở tâm thành kính, đồng thời con cái phải can
ngăn nhẹ nhàng lỗi mà cha mẹ mình mắc phải.Để thực hiện chính
danh Khổng Tử chủ trương lễ, nhạc, thi, thư. Theo Khổng Tử người ta
tạo lập là nhờ lễ hứng khởi là nhờ thi, thành đạt là nhờ nhạc. Nếu
nhạc mà trang nghiêm hoà nhã và có tác dụng nuôi dưỡng tính tình,
cảm hoá lòng người và hướng con người đến chân thiện mỹ. Còn thi
thư giúp con người trình bày tư tưởng của mình và biện luận với người
khác. Tuy nhiên, dùng lễ nhạc thi thư thì phải trên nền tảng của đức
nhân. Nếu 1 người không có đức nhân mà dùng lễ nhạc thi thư thì chỉ
là sự sáo rỗng của hình thức. Câu 11 : Trình bày những điều kiện và
tiền đề ra đời của Triết học M-L.
* Điều kiện kinh tế – xã hội :
Triết học C.M ra đời vào thời kỳ chủ nghóa phong kiến sụp đổ và chủ nghóa
tư bản lớn mạnh ở 1 số nước Châu Âu và Bắc Mỹ. Chủ nghóa tư bản đã tạo
ra nền công nghiệp khó và cùng với nó là giai cấp vô sản cách mạng – giai
cấp hiện thân của nền sản xuất mới, giai cấp trung tâm của thời đại. Sự
hình thành và phát triển các trung tâm công nghiệp lớn đã tạo ra những
biến đổi sâu sắc trong phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản. Là người
con của dân tộc Đức, Mác đã xuất hiện rất đúng lúc. Trên cơ sở kế thừa có
chọn lọc và sáng tạo những di sản tư tưởng Triết học của loài người, phân
tích đúng thực tiễn kết hợp với năng lực tư duy của nhà bác học. Các Mác
và Anghen xây dựng nên chủ nghóa duy vật biện chứng và chủ nghóa duy
vật lòch sử.
* Tiền đề về lý luận của Mác : kế thừa có chọn lọc và sáng tạo.
Toàn bộ những hạt nhân hợp lý của toàn bộ hệ thống Triết học trước đó,

% • Tính trống không : bản chất của đạo là sự im lặng trống không,
sự im lặng trống không này rõ ràng là không có gì ngoài cái trống
không. Nhưng theo LT, sự trống không đó nó lại có 1 nội dung xác
đònh bởi vì nó là cái đầu tiên sinh ra vạn vật và nó vô cùng vô tận.
Bản chất của vũ trụ, của trái đất là cái khoảng không vónh cửu, nó là
cái đầu tiên sinh ra vạn vật. Từ bản chất đó LT cho rằng đạo là cái vô
danh, con người không thể nghe thấy, nhìn thấy nắm bắt được đạo.
LT viết “không tên là gốc trời đất, có tên là mẹ vạn vật”. Không tên
chỉ là mặt thể (bản chất) của đạo. Đây là trạng thái ban đầu nguyên
thuỷ của đạo khi đạo chưa vận động, chưa bộc lộ bản chất. Có tên là
mặt dùng chỉ trạng thái đạo vận động biến đổi để sản sinh ra vạn vật.
Vì đạo tồn tại tự nhiên theo bản tính vốn có của mình và vạn vật sinh
ra từ đạo rồi tồn tại theo qui luật
tự nhiên. LT gọi là đạo vô vò “ Đạo thường không làm nhưng
không gì không làm”. _ Phép biện chứng chất phác trong TH Lão Tử :
Toàn bộ thế giới là 1 cuộc đại chuyển tiếp không ngừng, tức là mọi sự vật
luôn luôn vận động biến đổi phát triển. Trong sự vận động biến đổi đó tất
cả chỉ là tương đối, chỉ là 1 giai đoạn của dòng chuyển hoá vô tận. Sự vận
động của vạn vật không phải là hỗn loạn mà luôn luôn tuân theo qui luật
của tạo hoá, đây là qui luật hết sức nghiêm ngặt, không 1 sự vật nào đứng
ngoài qui luật đó, kể cả thần linh thượng đế. Toàn bộ vũ trụ tuân theo 2 qui
luật phổ biến là : luật quân bình và phản phục.
+ Luật quân bình : là luôn luôn giữ cho sự vận động được thăng bằng không
để cho cái gì thái quát thiên lệch hay bất cập. Theo LT “ khuyết thì đầy,
cong thì ngay, trũng lại đầy, cũ lại mới, ít thì được, nhiều thì mất”.
Chính nhờ luật quân bình vạn vật mới tồn tại theo 1 trình tự nhất đònh.
Luật quân bình chống lại những gì thái quá trái với qui luật tự nhiên. Để
chống lại những gì thái quá nó lấy nhu thắng cương, lấy nhược thắng cương.
+Luật phản phục : có 2 nghóa :
% • Vạn vật biến hoá trao đổi cho nhau theo 1 vòng tuần hoàn đều

XH. Theo đạo vô vi có 3 cái phải nắm giữ bảo vệ : từ ái, cần kiệm,
không dám đứng trước thiên hạ. Con người sống phải biết từ ái, cần
kiệm, khoan dung, tri thức….Lão Tử chủ trương bỏ hết những gì trái
với đạo TN vô vi, vượt quá bản tính tự nhiên của con người, LT kêu
gọi đưa con người về trạng thái tự nhiên nguyên thuỷ chất phác. =>
Tóm lại : tư tưởng về đạo, tư tưởng về phép biện chứng và tư tưởng về
đạo vô vi của LT đã đạt đến 1 trình độ sâu sắc độc đáo, 1 trình độ tư
duy lý luận rất cao, đóng góp vào nét đặc sắc của phương Đông. Tuy
còn nhiều điểm hạn chế nhưng chúng ta phải nghiêng mình trước
những gì mà ông đã đưa ra.
Câu 4 : Trình bày những tư tưởng triết học của L.Phoiơbách về tự nhiên
và con người .
* Sơ lược tiểu sử : ( 1804 – 1872 )
9 Luc-vich Phoiơbách sinh ra trong 1 gia đình luật sư nổi tiếng. Gia đình
ông muốn ông trở thành 1 luật sư nhưng khi học đại học Phoiơbách
lại học triết học. Do ông học giỏi nên được giữ lại trường, trở thành
phó giáo sư rồi giáo sư. Phoiơbách đã phát hiện ra những bất hợp lý
trong triết học của Heghen, ông cùng Mac-Anghen tham gia sinh hoạt
trong nhóm “Heghen trẻ”. Sau 1 thời gian, ông bất mãn với hệ thống
triết học, ông bỏ dạy về quê ở ẩn trong 28 năm.
9 Tác phẩm nổi tiếng : “ Phê phán triết học của Heghen ” –xb 1839,
“bản chất đạo Thiên Chúa” và “luận cương sơ bộ của cải cách triết
học” – xb 1842, “ cơ sở triết học của tương lai ” –xb 1843, “bản chất
tôn giáo” –xb 1845.
9 Toàn bộ hệ thống triết học của Phoiơbách được gọi là CNDV nhân bản
vì ông xác đònh lấy con người làm đối tượng trung tâm của triết học.
Ông xác đònh nghiên cứu khoa học tự nhiên để phục vụ cho nghiên
cứu con người.
9 Về cuối đời, Phoiơbách đọc triết học của Mác, ông đã
bỏ triết học của mình và theo triết học của Mac. Quan

cho con người quan niệm mới chính bản thân mình đồng thời
tạo cho con người 1 đời sống hạnh phúc. Phoiơbách còn quan
niệm con người là 1 bộ phận của tự nhiên, con người là 1 sinh
vật có cảm giác, biết tư duy, có ham muốn, có dục vọng, có mơ
ước. Theo Phoiơbách, bản chất của con người chính là tình yêu.
Trong các loại tình cảm thì tình yêu nam nữ là đỉnh cao của
bản chất con người, từ đó Phoiơbách đưa khẩu hiệu : “con
người hãy ôm hôn nhau đi thì XH sẽ hết mọi điều đau khổ”. Từ
đó Phoiơbách sùng bái tình yêu và tôn thờ tình yêu như 1 thứ
tôn giáo.
+ Tiêu biểu : quan tâm con người ( chủ yếu quan tâm về mặt tự
nhiên, mặt sinh học ).
+ Hạn chế : Phoiơbách đã tuyệt đối hoá tình yêu, coi tình yêu là bản chất
của con người mà không chú ý đến mặt XH và không thấy được điều kiện
chính trò XH mà con người sống. Phoiơbách phê phán con người trong triết
học của Heghen là trừu tượng trong khi quan điểm của ông về con người
cũng trừu tượng.

Câu 5 : Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Thức ,
Vai Trò Của Tri Thức Khoa Học Đối Với Sự Nghiệp Đổi Mới Của Nền Kinh
Tế Nước Ta Hiện Nay ?
Phân Tích Mối Quan Hệ Biên Chứng Giữa Vật Chất Và Thức
Xuất phát từ việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, chủ nghóa duy vật
biện chứng khẳng đònh: vật chất là tính thứ nhất quyết đònh ý thức, ý thức
là tính thứ hai phụ thuộc vào vật chất và con người có khả năng nhận thức
được thế giới khách quan. Nghiên cứu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
trong thực tiển xã hội được thể hiện thông qua mối quan hệ biện chứng giữa
nhân tố vật chất (khách quan) và nhân tố tinh thần (chủ quan). Trong mối
quan hệ đó thì vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết đònh đối với nhân tố
tinh thần, nhưng ngược lại nhân tố tinh thần tác động một cách tích cực đối

quan, không phải là sự phản ánh thụ động, đơn giản mà nó có tính tích
cực, năng động và sáng tạo. Cho nên, kết quả của sự phản ánh đúng về
hiện thực bao giờ cũng có ý nghóa đònh hướng chung cho hoạt động thực
tiễn và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của hoạt động thực tiễn. Ý thức là
sự phản ánh hiện thực khách quan trong bộ não con người và được cải tiến
ở trong đó. Cho nên nó có tính độc lập tương đối. Vai trò của ý thức thể
hiện ở tính năng động và sáng tạo của nó được thể hiện ngay từ khi con
người xác đònh đối tượng mục tiêu, phương hướng hoạt động cũng như việc
lựa chọn cách thức, phương pháp thực hiện mục tiêu đã đề ra. Có nghóa là
nó đònh hướng cho con người biết phân tích, lựa chọn những khả năng thực
tế của việc vận dụng những qui luật khách quan trong hoạt động thực tiễn.
Sức mạnh của ý thức (nhưng nó cũng do hoàn cảnh khách quan qui đònh)
tùy thuộc vào mức độ xâm nhập của nó vào hoạt động của quần chúng và
một khi lý luận khoa học xâm phạm vào hoạt động của quần chúng thì nó
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Trong những điều kiện khách quan
nhất đònh, ý thức của con người có thể giữ vai trò quyết đònh đến kết quả
của hoạt động thực tiển. Có nghóa là, nhân tố chủ quan với sự nhận thức
đúng đắn và ý chí của con người có thể phát huy được năng lực tối đa của
các nhân tố vật chất và nhân tố tinh thần trong những điều kiện khách
quan nhất đònh. Nhưng xét quá trình lâu dài thì nhân tố vật chất bao giờ
cũng giữ vai trò quyết đònh đối với nhân tố tinh thần
* Ý nghóa phương pháp luận
Vật chất và các qui luật khách quan vốn có của nó đều tồn tại khách quan
độc lập với ý thức của con người nhưng lại quyết đònh với ý thức của con
người. Cho nên, trong hoạt động thực tiển xã hội của con người phải xuất
phát từ hiện thực khách quan, chứ không xuất phát từ ý muốn chủ quan của
con người. Nhưng mặt khác cũng phải thấy tính độc lập tương đối và tính
tích cực, năng động và sáng tạo của ý thức trong hoạt động thực tiễn Khắc
phục tính tiêu cực, thụ động và ỷ lại trông chờ vào điều kiện khách quan
Chống lại quan điểm duy tâm siêu hình về vấn đề này Vận dụng vào quá

hiện nay. Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức, sự hình thành và phát
triển của ý thức có liên quan mật thiết đến quá trình con người nhận thức
về thế giới, tích lũy những tri thức, sự hiểu biết nói chung. Tri thức là kết
quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan và có tính chất lòch sử xã
hội. Tri thức bao gồm có tri thức cảm tính và tri thức lý tính (hoặc tri thức
kinh nghiệm và tri thức lý luận). Như vậy, xét về nguồn gốc tri thức là một
hiện tượng mang tính xã hội. Chúng ta biết rằng khoa học là hệ thống các
tri thức của con người về thế giới. Tri thức khoa học khác biệt với tri thức
thông thường và tri thức kinh nghiệm. Tri thức kinh nghiệm được hình
thành một cách trực tiếp thông qua những điều kiện sống thường ngày,
mang tính hiện tượng, tính bên ngoài, tính riêng biệt và cụ thể, còn tri thức
khoa học đem lại hiểu biết cái bản chất, cái qui luật của hiện thực khách
quan. Xét về vai trò và tác dụng, tri thức khoa học bao gồm khoa học cơ
bản và khoa học ứng dụng. Khoa học cơ bản vạch ra những nguyên tắc, qui
tắc, phương pháp cụ thể để ứng dụng trực tiếp vào hoạt động cải tiến tự
nhiên và xã hội. Vai trò của tri thức khoa học ngày càng quan trọng và đóng
vai trò chủ đạo trong việc đònh hướng nền kinh tế, một nền kinh tế đang
chuyển mình đi lên: *Trong sự chuyên môn hóa, tự động hóa ngày càng
cao, tri thức khoa học được kết tinh trong mọi nhân tố của lực lượng sản
xuất-trong đối tượng lao động - kỹ thuật – quá trình công nghệ và cả trong
những hình thức tổ chức tương ứng của sản xuất; người lao động không còn
là nhân tố thao tác trực tiếp trong hệ thống kỹ thuật mà chủ yếu là vận
dụng tri thức khoa học để điều khiển và kiểm tra quá trình sản xuất, hoàn
thiện lực việc quản lý kinh tế… *Khoa học ngày nay đã trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp, thành đối tượng lao động, thành máy móc thiết bò và
phương pháp công nghệ mới, thành các hình thức tổ chức sản xuất mới,
cho nên tri thức khoa học là không thể thiếu được trong sự nghiệp đổi mới
nền kinh tế nước ta hiện nay. Chúng ta bước vào xây dựng XHCN với một
xuất phát điểm về kinh tế nhất là lực lượng sản xuất do đó chúng ta phải
tập trung sức lực toàm dân để phát triển lực lượng sản xuất trước hết là đầu

thuộc tính, các yếu tố bên trong (mâu thuẫn bên trong) qui đònh sự tồn tại,
vận động và phát triển của các sự vật. *Mối liên hệ bên ngoài của các sự
vật và hiện tượng. *Mối liên hệ về không gian, thời gian; mối liên hệ bản
chất và hiện tượng; nguyên nhân và kết quả; nội dung và hình thức Dù
thể hiện dưới hình thức nào thì mối liên hệ đều mang tính phổ biến, tính
khách quan và tính qui luật.
Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến có ý nghóa đối với hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người:
*Về nguyên tắc phải thừa nhận tính khách quan, tính qui luật của mối liên
hệ phổ biến ở trong hiện thực. *Vì phải có quan điểm toàn diện, quan điểm
này đòi hỏi chúng ta phải phân tích về sự vật phải đặt nó trong mối quan
hệ với sự vật khác. Đồng thời phải nghiên cứu tất cả những mặt, những yếu
tố, những mối liên hệ vốn có của nó. Qua đó để xác đònh được mối liên hệ
bên trong, bản chất để từ đó có thể nắm bắt được bản chất, qui luật của
sự vật và hiện tượng (nên lấy ví dụ minh họa thêm thì càng tốt). Ví dụ: khi
nhận xét một người nào đó không thể chỉ nhìn bề ngoài của người đó mà
đưa ra nhận xét, phải xét đến những yếu tố khác như bản chất tính tình, họ
đối xử với mình có thật lòng hay không, những mối liên hệ của người đó với
những người xung quanh như với người thân hay với những người bạn của
người đó có tốt hay không. Vì phải có quan điểm cụ thể, bởi vì trong quá
trình tồn tại vận động và phát triển của bản thân các sự vật và hiện tượng
là một quá trình có tính giai đoạn. Cho nên khi phân tích tính toàn diện về
các mối liên hệ của sự vật phải đặt nó trong mối quan hệ cụ thể, với những
điều kiện lòch sử cụ thể của các mối quan hệ đó (nên lấy ví dụ minh họa
thêm thì càng tốt). *Sự phát triển bao hàm sự vận động, sự xuất hiện cái
mới theo chiều hướng đi lên. Nhưng không phải bất kỳ sự vận động nào
cũng bao hàm sự phát triển. Cho nên, sự phát triển và đổi mới là hiện tượng
diễn ra không ngừng ở trong tự nhiên, xã hội và tư duy mà nguồn gốc của
nó là sự đấu tranh của các mặt đối lập trong bản thân các sự vật và hiện
tượng. Khái niệm phát triển thì không khái quát mọi sự vận động nói chung.

Bởi vì, trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghóa, thì sở
hữu tư nhân như một bộ phận tự nhiên của quá trình kinh tế nhiều thành
phần cũng có ý nghóa thúc đẩy phát triển sản xuất nâng cao đời sống của
nhân dân. Mặt khác, duy trì và phát triển kinh tế tư nhân (dưới mọi hình
thức), thì đồng thời với nó là thu hút nguồn lực về vốn, về lao động, về quá
trình chuyển giao công nghệ mới Nhưng nó đều thông qua sự quản lý của
nhà nước xã hội chủ nghóa. Nhà nước xã hội chủ nghóa sẽ giữa vai trò quyết
đònh và điều tiết chung đối với các hình thức sở hữu này phải phục vụ cho
lợi ích của nhân dân. *Trong cơ cấu kinh tế xã hội chủ nghóa hiện nay ở
nước ta, thì hình thức sở hữu công cộng ngày càng được hoàn thiện và phát
triển. Trong đó nền kinh tế quốc doanh bao giờ cũng giữa vai trò chủ đạo,
quyết đònh đối với nền kinh tế hiện nay. Cho nên, xét về loại hình quan hệ
sản xuất cơ bản hiện nay ở nước ta bao gồm quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghóa dựa trên cơ sở sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất và quan hệ sản
xuất cũ dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Nhưng nó
thống nhất và mang tính mâu thuẫn trong một cơ cấu kinh tế thống nhất –
kinh tế thò trường có đònh hướng xã hội chủ nghóa và dưới sự quản lý của
nhà nước xã hội chủ nghóa. *Trong thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghóa ở
nước ta hiện nay, đườnglối đúng đắn của đảng và nhà nước ta có khả năng
bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi
ích xã hội, giải quyết kòp thời những mâu thuẫn nội bộ trong nhân dân, tạo
những điều kiện thuận lợi để mỗi cá nhân có điều kiện phát triển toàn
diện. Bên cạnh đó, việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thò trường đi đôi với việc tăng cường vai trò quản lý
của nhà nước theo đònh hướng xã hội chủ nghóa luôn đảm bảo công bằng
về quyền lợi và nghóa vụ của mọi công dân, chống đặc quyền đặc lợi: phát
huy yếu tố con người là mục đích cao nhất trong mọi hoạt động kinh tế, văn
hóa, xã hội là một yêu cầu trong việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa
cá nhân và xã hội ở nước ta hiện nay. *Kết cấu quan hệ sản xuất bao gồm
ba mặt quan hệ cơ bản sau: -Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Xét vềmặt

người có mức hưởng thụ nhiều hơn, và là người có quyền quyết đònh phân
phối sản phẩm vật chất của xã hội. -Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một qui luật chung
nhất của sự phát triển xã hội. Sự tác động của qui luật này đã khẳng đònh
tính tất yếu khách quan của sự phát triển xã hội từ phương thức sản xuất xã
hội Nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghóa và
phương thức Cộng sản chủ nghóa tương lai

Câu 8: Phân Tích Vai Trò Của Quần Chúng Nhân Dân Trong Lòch Sử Và
Việc Đảng Ta Chủ Trương Cách Mạng Và Sự Nghiệp Của Quần Chúng ?
Vai Trò Của Quần Chúng Nhân Dân Trong Lòch Sử
*Khái niệm quần chúng nhân dân thay đổi và phát triển có tính chất lòch
sử. Bởi nó gắn liền với những hình thái kinh tế-xã hội và điều kiện lòch sử
nhất đònh. Nhưng dù thay đổi và phát triển như thế nào thì nội dung khái
niệm quần chúng nhân dân luôn được xác đònh bởi những nội dung sau
đây: -Quần chúng nhân dân trước hết là những người lao động. Đó là
những lực lượng lao động xã hội trực tiếp tạo ra mọi của cải vật chất cho xã
hội. -Quần chúng nhân dân, được thể hiện là những bộ phận dân cư có
khuynh hướng luôn chống lại những giai cấp thống trò áp bức bóc lột mà lợi
ích căn bản của những giai cấp ấy đối kháng với lợi ích đông đảo của nhân
dân lao động. -Quần chúng nhân dân còn bao gồm các giai cấp và các tầng
lớp xã hội có ý nghóa thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Như vậy, nội dung
khái niệm quần chúng nhân dân là rất rộng bao gồm nhiều lực lượng xã hội
và hoạt động của họ trong nhiều lónh vực khác nhau. Nhưng hiểu theo nghóa
chung nhất là những lực lượng có ý nghóa quyết đònh đi với sự tồn tại và
phát triển của xã hội. Quần chúng nhân dân là những lực lượng xã hội có ý
nghóa quyết đònh đối với sự phát triển của xã hội, được thể hiện trong hoạt
động sản xuất vật chất, trong đấu tranh xã hội và trong lónh vực tinh thần
của xã hội. *Mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và vó nhân, lãnh tụ
đối với sự phát triển của lòch sử, là sự khẳng đònh quần chúng nhân dân

quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lòch sử.
Phân Tích Việc Đảng Chủ Trương Cách Mạng Và Sự Nghiệp Của Quần
Chúng
*Một trong những nguyên lý cơ bản của chủ nghóa duy vật lòch sử khẵng
đònh rằng quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lòch sử,
được thể hiện với ba nội dung sau đây: -Vai trò của quần chúng nhân dân
trong hoạt động sản xuất vật chất của xã hội. Xuất phát những nguyên lý cơ
bản của chủ nghóa duy vật lòch sử cho rằng sản xuất vật chất là cơ sở cho sự
tồn tại và phát triển của xã hội và trong đó hoạt động của quần chúng nhân
dân là lực lượng trực tiếp tạo ra mọi của cải vật chất cho xã hội. Hoạt động
tạo ra của cải vật chất cho xã hội của quần chúng nhân dân đồng thời cũng
có ý nghóa quyết đònh cho việc tạo ra nhng giá trò tinh thần của xã hội. Đó
là quá trình hình thành phong tục tập quán, truyền thống và nền văn hóa
dân tộc đồng thời hoạt động của quần chúng nhân dân còn là đối tượng
phục vụ của hoạt động văn hóa và tinh thần nói chung của xã hội. -Vai trò
của quần chúng nhân dân trong hoạt động đấu tranh xã hội với tính cách
họ là chủ thể của hoạt động cải tạo các quá trình kinh tế, chính trò và xã
hội. Trong lónh vực này vai trò của quần chúng là lực lượng cơ bản của các
cuộc cách mạng xã hội, bởi vì Lênin khẳng đònh rằng sự nghiệp cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng. Mặt khác, trong hoạt động đấu tranh xã hội
vai trò quần chúng nhân dân còn được thể hiện đối với quá trình hình
thành và phát triển của các dân tộc và cộng đồng dân tộc. -Lợi ích của
quần chúng nhân dân vừa là điểm khởi đầu vừa là mục đích cuối cùng của
sự nghiệp cách mạng. Điều này có nghóa là lợi ích chung của toàn bộ xã
hội luôn là lợi ích chung của quần chúng nhân dân. Cho nên, lòch sử phát
triển của xã hội và tiến bộ xã hội là việc nâng cao đời sống của quần chúng
nhân dân, khẳng đònh vai trò của quần chúng nhân dân là người sáng tạo
chân chính ra lòch sử. *Nội dung khái niệm quần chúng nhân dân là rất
rộng bao gồm nhiều lực lượng xã hội và hoạt động của họ trong nhiều lónh
vực khác nhau. Nhưng hiểu thao nghóa chung nhất là những lực lượng có ý


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status