Tài liệu ÔN TẬP LỊCH SỬ TRIẾT HỌC - Pdf 84

ÔN TẬP LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

Câu 1 : Trình bày quan điểm nhân sinh quan trong Triết học Phật
Giáo Ấn Độ cổ đại.
* Sơ lược tiểu sử :

_ Phật Giáo là trào lưu tôn giáo, xuất hiện khoảng TK6 TCN ở miền Bắc
Ấn Độ. Phật Giáo phản ánh sự phản đối đạo Balamon, sự phân chia đẳng
cấp khắc nghiệt, đòi tự do tư tưởng, lý giải sự khổ đau của con người, và
đi tìm con đường để giải thoát con người khỏi khổ đau.
_ Phật Giáo được xây dựng trên cơ sở đời sống của đức Thích Ca Mâu Ni
(Sakyamauni – tức là bậc hiền giả dòng Sakya ) Phật (Bụt) có nghóa là
đấng giác ngộ người khác.
_ Lòch sử của đạo Phật được ghi chép trong kinh Jakata ( được viết sau
khi Phật đã mất 100 năm ), thêm nữa, tôn giáo khi xây dựng tôn giáo của
mình thường thêm thắt các chi tiết để làm tăng chất linh thiêng. Tuy
nhiên, giới nghiên cứu đều thống nhất ở các điểm sau :
+ Phật là người có thật, con của vương hầu sống cạnh dãy núi Malayia,
bố là Suildhodina, và mẹ là Maga. Tương truyền đức Phật khi sinh ra nói
được ngay, 1 tay chỉ lên trời, 1 tay chỉ xuống đất, mẹ đức Phật mất, sống
với dì ghẻ ( cũng là dì ruột ).
+ Theo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam; Phật sinh 624 TCN, theo tài liệu
của Trung Quốc trong tác phẩm Tỳ Bà Sa Luận cho rằng Phật sinh 486-
386 TCN.
+ Phật đi tu vì : ngay từ nhỏ là người từ bi yêu thương nhân loại. Năm 19t,
vua bắt Phật lấy vợ, vì sợ Phật bỏ nhà nên mỗi lần Phật đi chơi đều cho đi
theo và 4 lần Phật đi chơi đều gặp cảnh khổ. Năm 29t, Phật từ bỏ tất cả (
vợ, con, cung điện ) để đi tu. Lúc đầu tu ở dòng Sankhya ( lấy roi quật
vào người ) 6 năm nhưng không giác ngộ nên Phật đã bỏ xuống núi đổi
cách tu. Phật ngồi gốc cây bồ đề 48 ngày và khi nhận 1 bát sữa từ tay cô
gái chăn bò, có 1 luồng sáng từ trời chiếu xuống nên giác ngộ.

bộ nhân sinh quan của Phật Giáo được thể hiện trong Tứ Diệu Đế ( 4
nguyên lý thiêng liêng & thần diệu của đạo Phật ) .
_ Khổ đế : trong cổ đại đề cập đến bản chất của nhân sinh quan : cuộc
đời có ý nghóa như thế nào & mang bản chất gì? Theo quan niệm Phật
Giáo : đời là bể khổ ( nước mắt của chúng sinh đọng lại đầy hơn 4 bể ) .
Theo Phật gồm có các nỗi khổ :
+ Nhò khổ : bên trong & bên ngoài .
+ Tam khổ : cái khổ quá khứ, hiện tại & tương lai .
+ Tứ khổ : sinh lão bệnh tử .
+ Bát khổ .
+ Oán tăng hội .
+ Thụ biệt ly : đang yêu mà phải xa nhau -> khổ .
+ Sở cầu bất đắc khổ : cái ta mong muốn ( công danh , đòa vò , phú quý ,
tình duyên mà không đạt được -> khổ ) .
+ Ngũ thủ uẩn khổ : khổ vì thân xác .
Thống kê lại , đời người có 110 nỗi khổ . Đời là bể khổ do :
+ Gắn với chế độ thống trò và đẳng cấp khắc nghiệt ở .
+ Vòng đới quá ngắn ngủi .
+ Nhân đế ( tập đế ) : Phật giải thích nguyên nhân của nỗi khổ là do
nguyên nhân nhận thức , nguyên nhân tinh thần . Cụ thể là do Thập nhò
nhân duyên & nghiệp báo luân hồi gây ra .
+ Thập nhò nhân duyên :
• Vô minh : không sáng suốt , không nhận thức sự vật , hiện tượng .
• Duyên hành : Hành động của ý thức , dao động của tâm & khuynh
hướng , manh nha của nghiệp .
• Duyên thức : là tâm thức của con người , từ chỗ trong sáng cân
bằng là minh -> ô nhiễm mất cân bằng là vô minh .
• Duyên danh sắc : là sự hội nhập của các ý thức tinh thần & vật chất
. Danh là tinh thần , sắc là vật chất . Cơ thể cấu tạo bởi ngũ uẩn :
sắc ( vc ) , thụ ( cảm giác ) , tưởng , hành , thức là tinh thần .

thân mình ở đó ) tònh ( trong sạch ) .
+ Nơi hoàn toàn thủ tònh để không phải quay lại làm kiếp người hay kiếp
khác chòu khổ .
+ Phật tại tâm .
Niết bàn được hiểu nhiều nghóa nhưng tóm lại niết bàn là 1 trạng thái
không còn ý thức và cái vô thức cũng chìm vào chân không , nó không
còn là 1 quá trình , không có 1 nội dung nào . Tất cả chỉ còn lại sự yên
lặng vô biên .
_ Đạo đế : đưa ra con đường giải thoát diệt khổ , thực chất là nhằm tiêu
diệt vô minh , gồm bát chánh đạo ( 8 con đường chính ) , tam học và lục
độ .
+ Bát chánh đạo :
• Chính kiến : hiểu biết đúng đắn .
• Chính tư duy : suy nghó đúng đắn .
• Chính ngữ : giữ cho lời nói được chân chính .
• Chính nghiệp : nghiệp có tà nghiệp và chính nghiệp . Chính nghiệp
phải giữ cẩn thận .
• Chính mệnh : phải tiết chế dục vọng , phải trì giới ( giữ gìn các
điều răn ) .
• Chính tinh tiến : phải cố gắng nỗ lực trong việc tìm kiếm và truyền
bá chân lý của đạo Phật
• Chính niệm : thường phải nhớ Phật và niệm Phật .
• Chính đònh : là phải ngồi thiền , tónh lặng , tập trung tư tưởng để suy
nghó về tứ diệu đế và vô ngã vô thường .
+Tam học : gồm giới , đònh , và tuệ .
• Giới ( điều răn ) : phải giữ gìn các điều răn gồm : ngũ giới ( bất
sát , bất đạo đức là không trộm cắp , bất vọng ngữ tức là không
nói xấu người khác , bất tà tâm là không quan hệ nam nữ lung
tung , bất tữu tức là không uống rượu ) . Bát giới ( không xem ca
nhạc , không nằm soãi tay chân , không ăn quá ngọ , không lấy

ông muốn khôi phục lại pháp chế, kỷ cương của nhà Chu và đây là lập
trường nhất quán của ông. Tư tưởng triết học của ông thể hiện ở 2 phương
diện cơ bản : Bản thể luận, Học thuyết về chính trò- xã hội.
* Tư tưởng cơ bản :

_ Bản thể luận : Quan niệm về thế giới của Khổng Tử chòu ảnh hưởng
trực tiếp bởi quan niệm về thế giới của người Trung Quốc cổ đại được
trình bày trong kinh dòch. Theo quan điểm này thì vũ trụ ban đầu là 1 mớ
hỗn độn, trong đó có tồn tại cái lý gọi là thái cực vô hình. Thái cực vô
hình này là 1 thể thống nhất của 2 mặt âm và dương. Do sự tương tác âm
và dương thì sinh ra thanh khí, trọng khí : khí nặng bốc lên làm trời, trọng
khí lắng xuống lòng đất. Bởi sự điều hòa âm-dương của trời đất sinh ra
vạn vật trong đó có con người. Theo quan điểm này, trời ở ngôi cao nhất,
trời không mang tính thần thánh mà trời mang tính duy vật. Thần thánh
không phải hư vô mà con người không lý giải được.Bản thể luận của
Khổng Tử còn thể hiện trong quan điểm về “trời”, “qủy thần”. Quan
niệm về trời, qủy thần của ông vẫn tồn tại nhiều mâu thuẫn thể hiện tư
tưởng của ông vừa mang tính bảo thủ vừa mang tính tiến bộ. Cụ thể
Khổng Tử cho rằng : “trời” là quy luật, trật tự của vạn vật và mặt khác
ông lại khẳng đònh có sự tồn tại của thiên mệnh và số phận của mỗi con
người là do thiên mệnh qui đònh. Mặt khác, ông cũng khẳng đònh rằng
con người với nỗ lực chủ quan của mình hoàn toàn có thể thay đổi thiên
mệnh. Quan niệm về “qủy thần”, Khổng Tử không nghi ngờ sự tồn tại
của qủy thần và ông lại ít bàn đến quỷ thần. Ông khuyên con người đối
xử với qủy thần bằng cách tôn kính, xa lánh và cảnh giác.
* Học thuyết của Khổng Tử về chính trò – xã hội :

Lý tưởng chính trò của Khổng Tử được biểu hiện tập trung ở trong các học
thuyết nhân, lễ, chính danh.
+ Nhân: bao gồm nhiều nghóa khác nhau song về cơ bản nhân được hiểu

Theo Khổng Tử mỗi vật có 1 công dụng nhất đònh, cái đó gọi là thực.
Ứng với mỗi công dụng là 1 tên được gọi là danh. Đối với con người,
danh là tên gọi của chức vụ, đòa vò, thứ bậc của con người trong xã hội.
Thực là phận sự của người đó bao gồm cả quyền lợi, nghóa vụ. Theo
Khổng Tử nếu danh và thực phù hợp với nhau thì chính danh, nếu danh
và thực không phù hợp với nhau thì loạn danh. Một xã hội có chính danh
là 1 xã hội ổn đònh, trật tự, còn 1 xã hội loạn danh là xã hội mất ổn đònh.
Vì vậy để khôi phục trật tự xã hội thì phải chính danh.
Theo thuyết chính danh, Khổng Tử chia XH thành các mối quan hệ khác
nhau. Mỗi quan hệ XH được gọi là 1 luân. Thời Khổng Tử, tất cả có 5
luân : vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em, bạn-bè. Ông đặc biệt nhấn
mạnh quan hệ vua-tôi, cha-con.
_ Đối với quan hệ vua-tôi thì Khổng Tử phản đối duy trì vua tôi theo
huyết thống, chủ trương vua phải dùng người hiền tài, phải rộng lượng
với kẻ cộng sự. Theo Khổng Tử nhà cầm quyền phải đảm bảo 3 điều sau
:
• Phải đảm bảo lương thực cho dân no ấm.
• Phải có binh lực mạnh để bảo vệ dân.
• Phải giữ được lòng tin đối với dân.
Đồng thời Khổng Tử cho rằng vua phải lấy lễ để khiến bề tôi, bề tôi phải
lấy đạo trung để thờ vua, coi vua như cha mẹ của mình.
_ Đối với quan hệ cha-con : cha đối với con phải lấy từ ái làm trọng, còn
con đối với cha phải lấy đạo hiếu làm đầu. Hiếu là cốt ở tâm thành kính,
đồng thời con cái phải can ngăn nhẹ nhàng lỗi mà cha mẹ mình mắc
phải.Để thực hiện chính danh Khổng Tử chủ trương lễ, nhạc, thi, thư.
Theo Khổng Tử người ta tạo lập là nhờ lễ hứng khởi là nhờ thi, thành đạt
là nhờ nhạc. Nếu nhạc mà trang nghiêm hoà nhã và có tác dụng nuôi
dưỡng tính tình, cảm hoá lòng người và hướng con người đến chân thiện
mỹ. Còn thi thư giúp con người trình bày tư tưởng của mình và biện luận
với người khác. Tuy nhiên, dùng lễ nhạc thi thư thì phải trên nền tảng
Câu 3 : Trình bày những tư tưởng cơ bản trong TH của Lão Tử.
* Tiểu sử sơ lược:

Sinh vào khoảng TK6 – TK 5 TCN, Lão Tử được coi là ông tổ của đạo
gia. LT sống cùng thời với KT, ông là người làng Nhân, Hương Lệ, nước
Sở. Ông là người họ Lý, tên Nhó Tự Bá Dương. Người đời sau kính trọng
ông gọi là đạo Tam. Ông làm quan giữ sách của nhà Nhu, sống ẩn dật.
Tác phẩm của ông gồm 3 vấn đề : tư tưởng về đạo, tư tưởng về phép
biện chứng và tư tưởng quan niệm vô vò.
* Tư tưởng cơ bản :


Toàn bộ thế giới là 1 cuộc đại chuyển tiếp không ngừng, tức là mọi sự
vật luôn luôn vận động biến đổi phát triển. Trong sự vận động biến đổi
đó tất cả chỉ là tương đối, chỉ là 1 giai đoạn của dòng chuyển hoá vô tận.
Sự vận động của vạn vật không phải là hỗn loạn mà luôn luôn tuân theo
qui luật của tạo hoá, đây là qui luật hết sức nghiêm ngặt, không 1 sự vật
nào đứng ngoài qui luật đó, kể cả thần linh thượng đế. Toàn bộ vũ trụ
tuân theo 2 qui luật phổ biến là : luật quân bình và phản phục.
+ Luật quân bình : là luôn luôn giữ cho sự vận động được thăng bằng
không để cho cái gì thái quát thiên lệch hay bất cập. Theo LT “ khuyết
thì đầy, cong thì ngay, trũng lại đầy, cũ lại mới, ít thì được, nhiều thì
mất”.
Chính nhờ luật quân bình vạn vật mới tồn tại theo 1 trình tự nhất đònh.
Luật quân bình chống lại những gì thái quá trái với qui luật tự nhiên. Để
chống lại những gì thái quá nó lấy nhu thắng cương, lấy nhược thắng
cương.
+Luật phản phục : có 2 nghóa :
• Vạn vật biến hoá trao đổi cho nhau theo 1 vòng tuần hoàn đều
đặn, kế tiếp theo 1 cách nhòp nhàng bất tận, đây là qui luật bất di
bất dòch của tự nhiên.
• Phản phúc nghóa là trở về với đạo tự nhiên vô vi nghóa là với chính
bản tính tự nhiên của con người, không thái quá, không bất cập.
Theo LT, nếu không trở về với đạo tự nhiên vô vi, chống lại qui
luật tự nhiên, cố tình can thiệp vào tính tự nhiên của tạo hoá thì
con người sẽ chuốc lấy bại. Mọi sự vật biến đổi có nguồn gốc từ
trong bản thân sự vật. Mỗi một sự vật là thể thống nhất của 2 mặt
đối lập vừa tương hoà vừa xung khắc, vừa độc lập vừa liên hệ ràng
buộc nhau, bao hàm lẫn nhau và không thể thiếu nhau được.
LT còn xây dựng 1 loạt các mâu thuẫn trong tất cả các lónh vực tự nhiên,
XH đạo đức, quan hệ ứng xử…giải quyết các mâu thuẫn được ông nâng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status