Thời tiết và khí hậu - Pdf 17

THỜI TIẾT VÀ KHÍ HẬU
1. Khái niệm thời tiết và khí hậu
- Thời tiết:
Thời tiết là toàn bộ các hiện tượng vật lý và trạng thái lớp khí quyển gần sát mặt đất diễn ra
tại một nơi nào đó trong một thời điểm xác định.
Các hiện tượng vật lý như mưa, nắng, giông, bão và các trạng thái của lớp không khí được
đặc trưng bởi các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, khí áp, gió thể hiện rõ nét đặc điểm thời tiết. Các
hiện tượng và trạng thái khí quyển luôn luôn biến động. Vì vậy thời tiết cũng biến đổi không ngừng.
- Khí hậu:
Khí hậu là trạng thái của khí quyển diễn ra trong một phạm vi không gian rộng lớn và được
đặc trưng bởi quy luật biến đổi nhiều năm của chế độ thời tiết.
Như vậy, nếu như thời tiết có đặc điểm là luôn luôn biến động (hàng ngày, hàng giờ) thì khí
hậu có tính ổn định hơn nhiều. Những biến đổi lớn của khí hậu trên Trái đất thường diễn ra theo chu
kì hàng năm, hàng trăm năm, hàng nghìn năm.
2. Các nhân tố hình thành khí hậu
2.1. Nhiệt độ
a. Bức xạ và nhiệt độ không khí
Mặt trời là nguồn cung cấp nhiệt chủ yếu cho bề mặt Trái đất. Khi các tia bức xạ Mặt trời đi
qua khí quyển, chúng chưa trực tiếp làm cho không khí nóng lên. Mặt đất hấp thu lượng nhiệt của
Mặt trời, rồi bức xạ lại vào không khí. Lúc đó không khí mới nóng lên độ nóng lạnh đó gọi là độ
nóng lạnh của không khí.
b. Sự phân bố nhiệt độ không khí trên Trái đất
- Phân bố theo vĩ độ địa lí
Bảng 1.4 Sự thay đổi nhiệt độ trung bình năm và biên độ nhiệt năm theo vĩ độ địa lí ở bán cầu Bắc.
Vĩ độ Nhiệt độ trung bình năm (oC)
Biên độ nhiệt năm (oC)
0 24,5 1,8
20 25,0 7,4
30 20,4 13,3
40 14,0 17,7
50 5,4 23,8

b. Gió
- Khái niệm: không khí luôn luôn chuyển động từ nơi khí áp cao về nơi khí áp thấp. Sự
chuyển động của không khí sinh ra gió. Trên bề mặt Trái đất, sự chuyển động của không khí giữa
các đai khí áp cao và thấp tạo thành các hệ thống gió thổi vòng tròn còn gọi là hoàn lưu khí quyển.
- Các loại gió chính:
Gió tây ôn đới:
Gió tây ôn đới là loại gió thổi từ các khu áp cao chí tuyến về phía vùng áp thấp ôn đới. Sở dĩ
gọi là gió tây vì hướng chủ yếu của gió này là hướng tây (ở bán cầu Bắc là hướng tây nam, bán cầu
Nam là hướng tây bắc).
Gió tây thổi quanh năm, thường đem theo mưa, suốt bốn mùa độ ẩm rất cao. Mưa ở đây
thường nhỏ, chủ yếu là mưa bụi, mưa phùn.
+ Gió mậu dịch (tín phong)
Gió mậu dịch là loại gió thổi từ các áp cao ở hai chí tuyến về xích đạo, gió này có hướng
đông bắc ở bán cầu Bắc và đông nam ở bán cầu Nam. Gió thổi quanh năm khá đều đặn hướng gần
như cố định, tính chất của gió nói chung là khô.
+ Gió mùa:
Hình 1.10 Các khu áp cao, áp thấp trong tháng 7
Gió mùa là loại gió thổi theo mùa, hướng gió ở hai mùa có chiều ngược nhau. Gió mùa
thường có ở đới nóng như: Nam Á, Đông Nam Á, Đông Phi, Đông Bắc Ôtx-trây-lia và Đông Nam
Liên Bang Nga, Đông Nam Hoa Kì.
Nguyên nhân hình thành gió mùa khá phức tạp, chủ yếu là do sự nóng lên hoặc lạnh đi
không đều giữa lục địa và đại dương theo mùa, từ đó có sự thay đổi của các vùng khí áp cao và khí
áp thấp ở lục địa và đại dương.
Hình 1.11 Các khu áp cao, áp thấp trong tháng 1
+ Gió địa phương:
Gió biển, gió đất: đây là loại gió hình thành ở vùng ven biển, ban ngày gió thổi từ biển vào
đất liền, còn ban đêm gió thổi từ đất liền ra biển.
Gió phơn:
Hình 1.12 Gió phơn
Khi gió mát và ẩm thổi tới một dãy núi, bị núi chặn lại và đẩy lên cao, nhiệt độ giảm theo tiêu

+ Sương mù
Hơi nước ngưng tụ ở lớp không khí gần mặt đất sinh ra sương mù. Sương mù được hình
thành trong độ ẩm tương đối cao, khí quyển tương đối ổn định theo chiều thẳng đứng và có gió nhẹ.
+ Mây
Không khí càng lên cao càng lạnh, đến độ cao nào đó (tuỳ theo nhiệt độ) sẽ bão hoà hơi
nước, tiếp tục lên cao, hơi nước ngưng tụ thành những hạt nước nhỏ và nhẹ, các hạt nước tụ lại
thành từng đám gọi là mây.
+ Mưa
Các hạt nước trong đám mây vận động, kết hợp với nhau, ngưng tụ thêm, kích thước lớn hơn
và rơi xuống thành mưa.
Nước rơi nếu gặp nhiệt độ khoảng 0
o
C và trong điều kiện không khí yên tĩnh sẽ tạo thành
tuyết rơi.
Mưa đá xảy ra trong điều kiện thời tiết nóng, oi bức. Khi không khí đối lưu từ mặt đất bốc
lên rất mạnh khiến cho các hạt nước bị đẩy lên xuống nhiều lần, gặp lạnh trở thành các hạt băng.
Các hạt băng lớn dần qua mỗi lần bị đẩy lên xuống, cuối cùng rơi xuống mặt đất trở thành mưa đá.
+ Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng mưa:
Khí áp:
Các khu khí áp thấp hút gió và đẩy không khí ẩm lên cao sinh ra mây, mây gặp nhiệt độ thấp
ngưng thành giọt gây ra mưa. Các vùng áp thấp thường là nơi có lượng mưa lớn trên Trái đsất.
Ở các khu khí áp cao, không khí ẩm không bốc lên được lại chỉ có gió thổi đi, không có gió
thổi đến nên mưa rất ít hoặc không có mưa. Vì thế dưới các khu cao áp cận chí tuyến thường là
những nơi hoang mạc lớn.
Frông:
Sự xáo trộn giữa khối không khí nóng và khối khí lạnh sẽ dẫn đến nhiều loại không khí và
sinh ra mưa. Dọc các frông nóng cũng như frông lạnh, không khí nóng bốc lên trên không khí lạnh
bị không khí lạnh co lại và lạnh đi gây ra mưa trên cả frông nóng và lạnh.
Miền có frông, dải hội tụ nhiệt đới đi qua thường mưa nhiều. Đó là mưa frông hoặc mưa dải
hội tụ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status