Chọn lọc và nhân giống vật nuôi phần 1 - Pdf 17



Phần lý thuyết

Bài mở đầu

1. Lịch sử phát triển của khoa học về chọn lọc, nhân giống vật nuôi
Chọn lọc và nhân giống vật nuôi (Animal Breeding), gọi tắt là giống vật nuôi, là một
môn khoa học ứng dụng các quy luật di truyền để cải tiến năng suất của vật nuôi. Những mục
tiêu chủ yếu của chọn lọc và nhân giống vật nuôi bao gồm:
- Nắm đợc những biến đổi di truyền nào là có giá trị;
- Lựa chọn chính xác và có hiệu quả đợc những con giống tốt;
- Tìm đợc cách cho phối giống giữa những con giống tốt nhằm mang lại hiệu quả tốt
nhất về mặt di truyền cũng nh về mặt kinh tế.
Chọn lọc và nhân giống vật nuôi có lịch sử từ khi con ngời bắt đầu quá trình thuần
hoá các vật nuôi đầu tiên, nghĩa là khoảng 8.000 năm trớc công nguyên. Tuy nhiên trong một
thời gian dài, con ngời tiến hành một số biện pháp lựa chọn, loại thải vật nuôi, ghép đôi giao
phối giữa những con đực và con cái hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm của mình. Những công
trình chọn lọc, nhân giống vật nuôi đầu tiên đợc sách vở ngày nay thừa nhận là những đóng
góp của nhà chăn nuôi ngời Anh tên là Robert Bakewell (1725-1795) trong việc tạo các
giống bò Longhorn, cừu Leicester và ngựa Shire. Những sổ ghi chép về các giống ngựa, cừu
xuất hiện lần đầu tiên ở Anh vào năm 1800 đã tạo tiền đề cho việc phát triển các sổ ghi chép
về giống (sổ giống) và việc tạo các giống vật nuôi ở các nớc châu Âu, châu Mỹ.
Năm 1865, Mendel công bố các quy luật di truyền và 35 năm sau vào năm 1900, các
định luật của Mendel đã đợc tái phát hiện bởi De Vries, Correns và Tschermak, các sự kiện
lịch sử này chính thức đánh dấu sự ra đơì của nền tảng lý luận khoa học về chọn lọc và nhân
giống vật nuôi. Cũng trong khoảng thời gian này, tại Đan Mạch các nghiệp đoàn kiểm tra sữa
đầu tiên đợc thành lập; tiếp sau đó ngời ta đã tiến hành khâu kiểm tra năng suất lợn, đây
chính là một trong các biện pháp kỹ thuật quan trọng để chọn lọc vật nuôi mà cho tới nay vẫn
đang còn đợc sử dụng rất rộng rãi.
Định luật Hardy-Wenberg đợc phát hiện vào năm 1908 đã mở đầu cho bớc phát

Niremberg (1968), có thể nói rằng năm 1970 với các phát hiện về enzym giới hạn đã mở đầu
cho thời kỳ công nghệ gen. Trong thập kỷ 80, ngời ta đã cho ra đời đợc những vật nuôi đầu
tiên là sản phẩm của công nghệ cấy ghép gen. Sự kiện nhân bản thành công cừu Dolly
(2/1997), sau đó là 5 con lợn con có gen 1-3 transferase không hoạt động (3/2000) là những
đóng góp quan trọng của di truyền học phân tử cho khoa học chọn lọc và nhân giống vật nuôi.
Mặc dù, di truyền học phân tử đang là một trong những lĩnh vực nghiên cứu có tính thời sự,
liên tiếp gặt hái đợc những thành công, trong đó có những thành tựu làm sửng sốt cả nhân
loại, nhng cho tới nay phạm vi ứng dụng của các thành công này trong chọn lọc và nhân
giống vật nuôi còn ở mức độ rất hạn chế và ngời ta vẫn còn đang nghi ngờ về những hiểm
hoạ mà di truyền học phân tử có thể gây ra cho loài ngời.
Lịch sử phát triển của khoa học chọn lọc và nhân giống vật nuôi đợc tóm tắt trong sơ
đồ sau (hình 1.1).
2. Chọn lọc và nhân giống vật nuôi ở nớc ta
Theo số liệu thống kê 1/10/1998, cả nớc ta có 2.951.000 trâu, 3.984.000 bò,
18.132.000 lợn, 123.000 ngựa, 514.000 dê, trên 200 triệu gia cầm các loại.
Các giống vật nuôi địa phơng chủ yếu bao gồm: trâu Việt Nam, bò vàng, lợn Móng
Cái, ỉ (số lợng hiện nay còn rất ít), các nhóm lợn đen ở vùng núi các tỉnh phía Bắc; ngựa Việt
Nam, dê Cỏ, dê núi (ở các tỉnh miền núi giáp Trung Quốc); gà Ri, Hồ (Thuận Thành, Bắc
Ninh), Đông Tảo (Khoái Châu, Hng Yên), Mía (Phúc Thọ, Hà Tây); vịt Cỏ, Bầu (Chợ Bờ,
Hoà Bình); ngan trắng, ngan loang; ngỗng Sen (ngỗng Cỏ).
Các giống địa phơng trên đã đợc hình thành từ lâu đời trong hoàn cảnh các nền sản
xuất kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi với các tập quán canh tác khác nhau của các vùng
sinh thái nông nghiệp khác nhau. Đặc điểm chung của các giống địa phơng là có hớng sản
xuất kiêm dụng (cho 2 loại sản phẩm chăn nuôi trở lên), tầm vóc nhỏ, năng suất thấp, phù hợp
với điều kiện sản xuất chăn nuôi tận dụng điều kiện thiên nhiên cũng nh sản phẩm phụ cuả
cây trồng, thích ứng với môi trờng khí hậu nóng ẩm.
Để nâng cao năng suất chăn nuôi, ngay từ thời Pháp thuộc cũng nh sau này, một số
giống vật nuôi nớc ngoài đã đợc nhập vào nớc ta, quá trình lai tạo giữa các giống nhập nội
với các giống địa phơng cũng nh nuôi thích nghi chúng đã hình thành nên những nhóm vật
nuôi có các đặc trng riêng biệt mà hiện tại chúng ta coi đó là những giống vật nuôi của nớc

Lý thuyết về nhiễm sắc thể của
MORGAN
ứng dụng rộng rãi thụ tinh 1930
nhân tạo cho bò, cừu ở Nga
LUSH và các khởi đầu về
di truyền số lợng và các
chơng trình chọn lọc vật nuôi 1940 Lý thuyết 1 gen 1 enzym của
Lý thuyết về chỉ số chọn lọc BEADLE và TATUM
ở vật nuôi của HAZEL
Lý thuyết về BLUP
của HENDERSON Phát hiện của AVERY: ADN là
nguyên liệu di truyền
Đông lạnh tinh dịch bò 1950
ở Anh Phát hiện của WATSON và CRICK
về vòng xoắn ADN
FALCONER và lý thuyết 1960
về di truyền số lợng
ứng dụng rộng rãi chỉ số NIREMBERG phát hiện mã di truyền
lọc trong các chơng trình giống
1970 Khởi đầu của công nghệ gen
Phát hiện các enzym giới hạn
BLUP bắt đầu đợc
ứng dụng trong chọn giống
1980
BLUP đợc sử dụng Công nghệ cấy ghép gen cho ra đời
rộng rãi trong các chơng trình vật nuôi đầu tiên
chọn giống vật nuôi
1990

Cừu Dolly, nhân bản vật nuôi đầu tiên

trong lai giống lợn, bò, gia cầm đã làm đa dạng hoá sản phẩm, tăng năng suất, cải tiến chất
lợng góp phần đáp ứng nhu cầu ngày một tăng về số lợng và chất lợng sản phẩm chăn nuôi
theo với nhịp độ gia tăng dân số cũng nh tốc độ tăng trởng của nền kinh tế đất nớc và cải
thiện đời sống của nhân dân.
Một vài năm gần đây, tiếp sau sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp thức ăn gia súc,
một số doanh nghiệp t nhân, công ty liên doanh hoặc 100% vốn nớc ngoài đã bắt đầu đầu t
vào khâu sản xuất con giống. Nhà nớc cũng tiếp tục thực thi một số chính sách hỗ trợ cho
việc sản xuất giống vật nuôi. Một số kỹ thuật tiên tiến trong di truyền chọn giống vật nuôi nh
cấy truyền phôi, ứng dụng các phần mềm máy tính trong chọn lọc gia súc giống đang đợc
áp dụng trong nghiên cứu và sản xuất ở nớc ta. Vì vậy, để tăng cờng hiệu quả ứng dụng các
tiến bộ kỹ thuật trong khâu chọn lọc nhân giống vật nuôi, việc trang bị các hiểu biết khoa học
cũng nh những ứng dụng vào thực tiễn chọn lọc nhân giống vật nuôi nớc ta là một trong
những yêu cầu cần thiết đối với những ngời làm các nhiệm vụ có liên quan đến sản xuất chăn
nuôi. 5
Mục lục
Trang
Phần lý thuyết
Bài mở đầu

Chơng VII: Nhân giống vật nuôi
7.1. Nhân giống thuần chủng 61
7.2. Lai giống 63
7.3. Hệ thống nhân giống vật nuôi 73
Phần thực tập
Bài 1: Các giống vật nuôi, giám định ngoại hình đo các chiều đo trên cơ thể vật nuôi 74
Bài 2: Hệ phổ, tính toán quan hệ di truyền cộng gộp, hệ số cận huyết 74
Bài 3: Tính toán, mô tả các tính trạng năng suất vật nuôi 75
Bài 4: Dự tính hiệu quả chọn lọc, ớc tính giá trị giống và đánh giá độ chính xác
của ớc tính giá trị giống 76
Bài 5: Mổ khảo sát năng suất thịt của vật nuôi 77
Phần phụ lục
1. Tiêu chuẩn nhà nớc - Lợn giống. Phơng pháp giám định (TCVN 1280-81) 78
2. Vị trí các chiều đo cơ bản của trâu bò 80
3. Tiêu chuẩn Việt Nam - Lợn giống. Quy trình mổ khảo sát phẩm chất thịt nuôi béo 811

Chơng I: một số Khái niệm chung về giống vật nuôi

1.1. Nguồn gốc và sự thuần hoá vật nuôi
Khái niệm vật nuôi đề cập ở đây đợc giới hạn trong phạm vi các động vật đã đợc thuần
hoá và chăn nuôi trong lĩnh vực nông nghiệp. Chúng ta cũng chỉ xem xét 2 nhóm vật nuôi chủ
yếu là gia súc và gia cầm.
Các vật nuôi ngày nay đều có nguồn gốc từ các động vật hoang dã. Quá trình biến các
động vật hoang dã thành vật nuôi đợc gọi là quá trình thuần hoá, quá trình này đợc thực
hiện bởi con ngời. Các vật nuôi đợc xuất hiện sau sự hình thành loài ngời, thuần hoá vật
nuôi là sản phẩm của sự lao động sáng tạo của con ngời. Chúng ta cần phân biệt sự khác
nhau giữa vật nuôi và vật hoang dã. Theo Isaac (1970), những động vật đợc gọi là vật nuôi

9.000 Cừu
8.000 Lợn
7.500 Dê Chó
7.000 Lợn
6.500 Bò Lợn
6.000 Dê
3.500 Ngựa

9
1.2. Khái niệm về giống, dòng vật nuôi
1.2.1. Khái niệm về giống vật nuôi
Khái niệm về giống vật nuôi trong chăn nuôi khác với khái niệm về giống trong phân loại
sinh vật học. Trong phân loại sinh vật học, giống là đơn vị phân loại trên loài, một giống gồm
nhiều loài khác nhau. Nếu sử dụng thang phân loại sinh vật học thì giống vật nuôi thuộc đơn vị
phân loại dới của loài.
Có nhiều khái niệm về giống vật nuôi khác nhau dựa trên các quan điểm phân tích so sánh
khác nhau. Hiện tại, chúng ta thờng hiểu khái niệm về giống vật nuôi nh sau: Giống vật
nuôi là một tập hợp các vật nuôi có chung một nguồn gốc, đợc hình thành do quá trình chọn
lọc và nhân giống của con ngời. Các vật nuôi trong cùng một giống có các đặc điểm về ngoại
hình, sinh lý, sinh hoá, lợi ích kinh tế giống nhau, các đặc điểm này di truyền đợc cho đời
sau.
Trong thực tế, một nhóm vật nuôi đợc coi là một giống cần có những điều kiện sau:
- Có nguồn gốc, lịch sử hình thành rõ ràng;
- Có một số lợng nhất định: Số lợng đực cái sinh sản khoảng vài trăm con đối với trâu,
bò, ngựa; vài nghìn con đối với lợn; vài chục nghìn con đối với gà, vịt;
- Có các đặc điểm riêng biệt của giống, các đặc điểm này khác biệt với các giống khác và
đợc di truyền một cách tơng đối ổn định cho đời sau;
- Đợc Hội đồng giống vật nuôi quốc gia công nhận là một giống.
Các giống vật nuôi hiện đang đợc sử dụng rộng rãi trong sản xuất chăn nuôi nớc ta gồm
các giống trong nớc đợc hình thành từ lâu đời và các giống ngoại đợc nhập vào nớc ta.

trng rõ nét về tính năng sản xuất mà thông thờng chỉ có một vài đặc điểm về hình dáng,
màu sắc đặc trng.
- Nhóm vật nuôi địa phơng: Các vật nuôi cùng một giống nhng đợc nuôi ở các địa
phơng khác nhau, mỗi nơi lại có những điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội nhất định, do vậy
hình thành nên các nhóm vật nuôi địa phơng mang những đặc trng riêng biệt nhất định.
- Dòng cận huyết: Cũng giống nh nhóm huyết thống, dòng cận huyết bao gồm các vật
nuôi có nguồn gốc từ một con vật tổ tiên. Con vật tổ tiên này thờng là con đực và đợc gọi là
đực đầu dòng. Đực đầu dòng là con đực xuất sắc, có thành tích nổi bật về một vài đặc điểm
nào đó mà ngời chăn nuôi muốn duy trì ở các thế hệ sau. Để tạo nên dòng cận huyết, ngời ta
sử dụng phơng pháp nhân giống cận huyết trong đó các thế hệ sau đều thuộc huyết thống của
đực đầu dòng này.
1.3. Phân loại giống vật nuôi
Dựa vào các căn cứ phân loại khác nhau, ngời ta phân chia các giống vật nuôi thành các
nhóm nhất định:
1/ Căn cứ vào mức độ tiến hoá của giống, các giống vật nuôi đợc phân thành 3 nhóm
sau:
- Giống nguyên thuỷ: Là các giống vật nuôi mới đợc hình thành từ quá trình thuần hoá
thú hoang. Các vật nuôi thuộc nhóm giống này thờng có tầm vóc nhỏ, năng suất thấp, thành
thục về tính dục và thể vóc muộn, điều kiện nuôi dỡng chúng ở mức độ đơn giản. Một số
giống gia súc hiện nuôi ở các tỉnh miền núi nớc ta thuộc nhóm giống này: lợn Mẹo (Nghệ
An), lợn Sóc (vùng Tây Nguyên), dê Cỏ
- Giống quá độ: Là các giống vật nuôi nguyên thuỷ đã trải qua một quá trình chọn lọc
trong mối quan hệ tác động của các điều kiện nuôi dỡng chăm sóc ở mức độ nhất định. Do
vậy, so với nhóm giống nguyên thuỷ, các giống quá độ đợc cải tiến hơn về tầm vóc, năng
suất, thời gian thành thục về tính dục và thể vóc. Tuy nhiên chúng cũng đòi hỏi điều kiện nuôi
dỡng chăm sóc ở mức độ cao hơn. Lợn Móng Cái, vịt Cỏ, vịt Bầu của nớc ta thuộc nhóm
giống này.
- Giống gây thành: Về thời gian, chúng là nhóm giống đợc hình thành sau cùng do kết
quả của quá trình lai tạo kết hợp với chọn lọc và nuôi dỡng chăm sóc trong những điều kiện
môi trờng thích hợp. Vật nuôi trong nhóm giống này có hớng sản xuất chuyên dụng hoặc

thờng bị hạn chế.
- Giống nhập: Là các giống có nguồn gốc từ vùng khác hoặc nớc khác. Các giống nhập
nội thờng là những giống có năng suất cao hoặc có những đặc điểm tốt nổi bật so với giống
địa phơng. Chẳng hạn lợn Yorkshire, bò Holstein, vịt Khaki Campbell là các giống nhập nội.
Tuy nhiên, do nguồn gốc xuất phát ở vùng có điều kiện môi trờng khác biệt với nơi nhập vào
nuôi, các giống nhập phải thích ứng với điều kiện sống mới. Điều này tuỳ thuộc vào khả năng
thích nghi của giống nhập, vào những điều kiện mà con ngời tạo ra nhằm giúp chúng dễ thích
ứng đợc với điều kiện sống ở nơi ở mới. 12
Chơng II: theo dõi, đánh giá các tính trạng của vật nuôi

Các tính trạng (còn gọi là chỉ tiêu, đặc điểm) về ngoại hình, sinh trởng, năng suất và
chất lợng sản phẩm chăn nuôi đợc sử dụng để mô tả, đánh giá một giống vật nuôi cũng nh
từng cá thể vật nuôi. Các tính trạng này thờng là những tiêu chuẩn chọn lọc vật nuôi, giữ
chúng làm giống nhằm tạo ra đời sau phù hợp với mong muốn của ngời chăn nuôi. Ngời ta
có thể quan sát để mô tả, đánh giá các tính trạng ngoại hình, song đối với các tính trạng sinh
trởng, năng suất và chất lợng sản phẩm, ngời ta chỉ có thể mô tả đánh giá chúng bằng các
phép đo. Điều đáng lu ý là tuyệt đại bộ phận các tính trạng sinh trởng, năng suất và chất
lợng vật nuôi đều là các tính trạng số lợng.
2.1. Đánh giá ngoại hình
Ngoại hình của một vật nuôi là hình dáng bên ngoài của con vật. Tuy nhiên, trên những
khía cạnh nhất định, ngoại hình phản ảnh đợc cấu tạo của các bộ phận cấu thành cơ thể, tình
trạng sức khoẻ cũng nh năng suất của vật nuôi. Chẳng hạn, căn cứ vào hình dáng của một con
trâu cầy, nếu thấy nó to lớn, vạm vỡ, gân guốc có thể dự đoán nó có khả năng cầy kéo tốt;
quan sát một con bò cái sữa, nếu thấy nó có bầu vú lớn, tĩnh mạch vú to và nổi rõ có thể dự
đoán nó cho năng suất sữa cao
Để đánh giá ngoại hình vật nuôi, ngời ta dùng mắt để quan sát và dùng tay để sờ nắn,
dùng thớc để đo một số chiều đo nhất định. Có thể sử dụng một số phơng pháp đánh giá

- Phơng pháp đánh giá ngoại hình hiện đang đợc sử dụng rộng rãi nhất là đánh giá bằng
cho điểm. Nguyên tắc của phơng pháp này là hình dung ra một con vật mà mỗi bộ phận cơ
thể của nó đều có một ngoại hình đẹp nhất, đặc trng cho giống vật nuôi mà ngời ta mong
muốn. Có thể nói đó là con vật lý tởng của một giống, các bộ phận của nó đều đạt đợc điểm
tối đa trong thang điểm đánh giá. So sánh ngoại hình của từng bộ phận giữa con vật cần đánh
giá với con vật lý tởng để cho điểm từng bộ phận. Điểm tổng hợp của con vật là tổng số điểm
của các bộ phận. Trong một số trờng hợp, tuỳ tính chất quan trọng của từng bộ phận đối với

13
hớng chọn lọc, ngời ta có thể nhân điểm đã cho với các hệ số khác nhau trớc khi cộng
điểm chung. Cuối cùng căn cứ vào tổng số điểm ngoại hình đạt đợc để phân loại con vật.
Theo Tiêu chuẩn lợn giống của nớc ta (TCVN.1280-81), việc đánh giá ngoại hình lợn
đợc thực hiện theo phơng pháp cho điểm 6 bộ phận, nhân hệ số khác nhau với từng bộ phận
rồi căn cứ vào điểm tổng số để xếp cấp ngoại hình theo các thang bậc: đặc cấp, cấp I, cấp II,
cấp III và cấp IV.
Hiện nay, trong tiêu chuẩn chọn lọc ngoại hình bò sữa ở các nớc châu Âu và Mỹ, ngoài
chiều cao cơ thể đợc đánh giá bằng cách đo cao khum (khoảng cách từ mặt đất tới điểm cao
nhất ở phần khum con vật), ngời ta sử dụng thang điểm từ 1 tới 9 để cho điểm 13 bộ phận
khác nhau (gọi là các tính trạng tuyến tính). Điểm tổng cộng của con vật cũng là căn cứ để
phân ngoại hình thành 6 cấp độ khác nhau.
Trong chăn nuôi gà công nghiệp, để chọn lọc gà đẻ trứng khi bớc vào thời kỳ chuẩn bị
đẻ, ngời ta căn cứ vào khối lợng con vật, độ rộng của xơng háng , mức độ phát triển và
màu sắc của mào để chọn lọc.
2.2. Đánh giá sinh trởng
Sinh trởng là sự tăng thêm về khối lợng, kích thớc, thể tích của từng bộ phận hay
của toàn cơ thể con vật. Thực chất của sinh trởng chính là sự tăng trởng và phân chia của
các tế bào trong cơ thể vật nuôi.
Để theo dõi các chỉ tiêu sinh trởng của vật nuôi cần định kỳ cân, đo, đong các cơ
quan bộ phận hay toàn cơ thể con vật. Khoảng cách giữa các lần cân đo, đong này phụ thuộc
vào loại vật nuôi và mục đích theo dõi đánh giá. Chẳng hạn: Đối với lợn con, thờng cân khối

1
: khối lợng, kích thớc, thể tích tại thời điểm t
1
Chẳng hạn: Khối lợng 1 lợn thịt lúc 5 và 6 tháng tuổi lần lợt là 46 và 70 kg, độ sinh
trởng tuyệt đối là: A = (70 - 46)/(6-5) = 24 kg/tháng. Nếu giữa 2 tháng tuổi này có số ngày là
30 thì: A = (70.000 - 46.000)/30 = 800 g/ngày.
2.2.3. Độ sinh trởng tơng đối
Độ sinh trởng tơng đối là phần khối lợng, kích thớc, thể tích của cơ thể hay từng
bộ phận cơ thể tại thời điểm sinh trởng sau tăng lên so với thời điểm sinh trởng trớc. Độ
sinh trởng tơng đối thờng đợc biểu thị bằng số phần trăm, do đó công thức tính nh sau:

14
100
2/)(
(%)
12
12
x
VV
VV
R
+

=

trong đó, R(%): độ sinh trởng tuyệt đối (%)
V
2
: khối lợng, kích thớc, thể tích tại thời điểm sau
V

8.0
10.0
12.0
123 456
Tuần tuổi
g/ngày
Đồ thị độ sinh trởng tơng đối
0.0
10.0
20.0
30.0
40.0
50.0
60.0
123456
Tuần tuổi
(%)
Hình 2.1. Các đồ thị sinh trởng tích luỹ, tuyệt đối và tơng đối
Theo quy luật chung, đồ thị độ sinh trởng tích luỹ có dạng đờng cong hình chữ S với
các pha sinh trởng chậm, sinh trởng nhanh, sinh trởng chậm và cuối cùng là pha cân bằng.
Đồ thị độ sinh trởng tuyệt đối có dạng đờng cong gần nh hình parabon với pha sinh trởng
nhanh, đạt cực đại sau đó là pha sinh trởng chậm. Đồ thị độ sinh trởng tơng đối có dạng
đờng cong gần nh hình hyperbon: liên tục giảm dần theo lứa tuổi. Có thể so sánh đờng
cong sinh trởng thực tế với đờng cong sinh trởng lý thuyết để phân tích, tìm ra những
nguyên nhân ảnh hởng của các sự sai khác. Chẳng hạn, trên các đồ thị độ sinh trởng tuyệt
đối và tơng đối của khối lợng gà Ri có hiện tợng khác thờng ở 4 tuần tuổi, đồ thị độ sinh
trởng tơng đối cũng có hiện tợng khác thờng ở tuần tuổi thứ nhất. Có thể cho rằng, việc
không cung cấp đủ nhiệt độ cho gà con khi mới nở, cũng nh chế độ dinh dỡng cho gà con
không hợp lý ở 4 tuần tuổi là nguyên nhân của hiện tợng khác thờng này.
Trong nghiên cứu đánh giá sinh trởng của vật nuôi hiện nay, ngời ta thờng theo dõi

Nguồn
tài liệu
Holstein Friesian nuôi tại Hà Lan 8.003 4,37 3,43
Lang trắng đỏ nuôi tại Hà Lan 6.975 4,43 3,53
Sổ giống bò Hà
Lan 1997-1998
F1 (Holstein x Lai Sind) nuôi tại
thành phố Hồ Chí Minh
3.643 3,78 3,33
F2 (3/4 Holstein, 1/4 Lai Sind) nuôi
tại thành phố Hồ Chí Minh
3.796 3,70 3,27
F3 (7/8 Holstein, 1/8 Lai Sind) nuôi
tại thành phố Hồ Chí Minh
3.415 3,67 3,23 Nguyễn Quốc
Đạt (1999)
Để so sánh sản lợng sữa của các bò sữa có tỷ lệ mỡ sữa khác nhau, ngời ta quy đổi về
sữa tiêu chuẩn (sữa có tỷ lệ mỡ 4%). Công thức quy đổi nh sau:
SLSTC (kg) = 0,4 SLSTT (kg) x 15 F(kg)
trong đó, SLSTC: Sản lợng sữa tiêu chuẩn (sữa có tỷ lệ mỡ 4%), tính ra kg
SLSTT: Sản lợng sữa thực tế, tính ra kg
F : Sản lợng mỡ sữa (kg)
0,4 và 15: Các hệ số
q
u
y
đổi (mỗi k

+ Trâu bò: Tỷ lệ thịt xẻ (khối lợng con vật sau khi đã loại bỏ máu, da, phủ tạng, đầu,
đuôi, 4 bàn chân so với khối lợng sống), tỷ lệ thịt tinh (khối lợng thịt so với khối lợng
sống).
+ Gia cầm: Tỷ lệ thân thịt (khối lợng con vật sau khi đã loại bỏ máu, lông, phủ tạng,
đầu, cánh, chân - gọi là khối lợng thân thịt- so với khối lợng sống), tỷ lệ thịt đùi, thịt ngực
(khối lợng thịt đùi, thịt ngực so với khối lợng thân thịt).
Bảng 2.2. Một số tính trạng năng suất thịt của một số giống lợn

Giống lợn
Tăng trọng
trung bình
(g/ngày)
Tiêu tốn
thức ăn (kg
TA/kg P)
Dày mỡ
lng
(mm)
Tỷ lệ
nạc
(%)
Nguồn
tài liệu
Piétrain
nuôi tại Bỉ
628,0 2,92 20,0 69,5 Leroy (1996)
Yorkshire nuôi tại
Việt Nam
590,6 2,96 15,1
Landrace nuôi tại

m
x
Cv% n
x
m
x
Cv% n
x
m
x
Cv%
Tuổi đẻ lứa đầu
(ngày)
303 472,3
5,9
21,9 226 418,5
27,8
15,1 86 409,3
44,1
13,5
Khoảng cách
2 lứa đẻ (ngày)
1657 196,2
0,9
18,7 648 179,0
7,0
20,8 293 178,4
10,4
19,7
Số con đẻ ra

16,3 885 1,2
0,04
15,1 379 1,2
0,06
15,5
Khối lợng TB **
lợn con cai sữa (kg)
1912 6,3
0,03
22,7 798 8,1
0,3
16,0 335 8,2
0,5
15,6
Ghi chú: * Lợn Móng Cái nuôi tại Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Đông Triều (Quảng Ninh), Thành
Tô (Hải Phòng); lợn Yorkshire và Landrace nuôi tại Mỹ Hào (Hng Yên).
** Lợn Móng Cái cai sữa lúc 60 ngày tuổi, lợn
Yorkshire và Landrace cai sữa lúc 35
ngày tuổi.
Bảng 2.4. Phẩm chất tinh dịch của một số giống vật nuôi ở Việt Nam
Giống
vật nuôi
Dung lợng
(V)
Hoạt lực
(A)
Nồng độ (C)
(triệu/ml)
VAC Nguồn
tài liệu

,
8 3195
,
5
Bò Zebu 4
,
52 0
,
59 938
,
8 2503
,
6
Hà Văn
Chiêu (1999)
Để đánh giá khả năng sản xuất trứng ở gia cầm, ngời ta theo dõi các chỉ tiêu chủ yếu
sau:
- Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên: Ngày tuổi của đàn mái khi bắt đầu có 5% tổng số mái đẻ
trứng;
- Sản lợng trứng/năm: Số trứng trung bình của 1 mái đẻ trong 1 năm;
- Khối lợng trứng: Khối lợng trung bình của các quả trứng đẻ trong năm.
- Các chỉ tiêu về chất lợngtrứng (đờng kính dài, đờng kính rộng, chỉ số hình thái:
rộng/dài, tỷ lệ các phần cấu thành quả trứng: lòng đỏ, lòng trắng, vỏ, )
18
Bảng 3.5. Năng suất trứng của một số giống gia cầm nuôi tại Việt Nam
Các giống gia cầm Sản lợng trứng
(quả/năm)

loại;
- Các giá trị quan sát đợc của các tính trạng số lợng là các biến số biến thiên liên tục
trong khi đó các quan sát đợc của các tính trạng chất lợng là các biến số rời rạc. Tuy nhiên,
một số tính trạng số lợng lại có các giá trị quan sát chỉ là các biến số rời rạc, chẳng hạn: số
con đẻ ra trong một lứa của lợn, sản lợng trứng của gia cầm
2.4.2. Các phơng pháp mô tả, đánh giá các tính trạng số lợng
Để mô tả, đánh giá các tính trạng số lợng, ngời ta sử dụng phơng pháp sinh trắc học
(Biometry), đây là các phơng pháp thống kê ứng dụng trong sinh học.
Các tham số thống kê đơn giản sau đây thờng đợc sử dụng để phân tích các giá trị quan
sát đợc của các tính trạng số lợng:
- Trung bình số học: Tham số đặc trng cho giá trị chính giữa của sự phân bố các giá
trị quan sát đợc. Ký hiệu giá trị trung bình số học (gọi tắt là trung bình) là
x
Giá trị trung bình số học đợc tính bằng:
n
x
x
n
i
i

=
=
1

19

trong đó, X
i
: giá trị của các quan sát

2
ss =
Cần chú ý là: các giá trị trung bình, phơng sai, độ lệch tiêu chuẩn nêu trên đều đợc tính
toán trên cơ sở các mẫu quan sát rút ra từ một quần thể. Các tham số thống kê đặc trng cho
quần thể sẽ là:
Trung bình quần thể, ký hiệu là
à
Phơng sai quần thể, ký hiệu là

2
Độ lệch tiêu chuẩn quần thể, ký hiệu là
- Sai số của số trung bình: Là tham số đặc trng cho mức độ phân tán của giá trị trung
bình đã đợc tính toán trên cơ sở các mẫu quan sát rút ra từ quần thể. Ký hiệu sai số của số
trung bình là m
x
:
n
s
m
x
=

- Hệ số biến động: Là tỷ lệ phần trăm giữa độ lệch tiêu chuẩn và trung bình của mẫu. Ký
hiệu hệ số biến động là Cv, đơn vị tính phần trăm.

100(%)
x
s
Cv =


xy
:
20



==
=


==
n
i
i
n
i
i
n
i
ii
yx
xy
xy
yyxx

x : giá trị các quan sát của tính trạng x (tính trạng độc lập);
b : hệ số hồi quy của y theo x;
a : hằng số.
Hệ số hồi quy tuyến tính của y theo x là tỷ số giữa hiệp phơng sai của hai tính trạng x và
y với phơng sai của tính trạng x (tính trạng độc lập).



=
=


==
n
i
i
n
i
ii
x
xy
xx
yyxx
b
1
2
1
2
)(
))((

truyền cộng gộp của mình, vì vậy ngời ta còn gọi giá trị di truyền cộng gộp là giá trị giống.
- Sai lệch trội: Sự tơng tác lẫn nhau của 2 allen trên cùng một locus gây ra tác động
trội. Trong mô hình về các tác động di truyền, tác động trội là một nguyên nhân gây ra sự
khác biệt giữa giá trị di truyền và giá trị di truyền cộng gộp, vì vậy ta gọi là sai lệch trội.
- Sai lệch tơng tác: Các tơng tác gây ra bởi hai hay nhiều allen ở các locus hoặc các
nhiễm sắc thể khác nhau, bởi các aleen với các cặp alleen trên cùng một locus, hoặc bởi các
cặp alleen với nhau tạo nên tác động tơng tác (hoặc còn gọi là tác động át gen). Trong mô
hình về các tác động di truyền, tác động tơng tác cũng là một nguyên nhân gây ra sự khác
biệt giữa giá trị di truyền và giá trị di truyền cộng gộp, vì vậy ta gọi là sai lệch tơng tác.
Có thể phân biệt 3 loại tác động thông qua hình vẽ tóm tắt sau:







Tác động cộng gộp: A

E = E
g
+ E
s

hoặc: E = E
p
+ E
t

trong đó: E : Sai lệch môi trờng;
E
g
: Sai lệch môi trờng chung;

22
E
s
: Sai lệch môi trờng riêng;
E
p
: Sai lệch môi trờng thờng xuyên;
E
t
: Sai lệch môi trờng tạm thời.
Do vậy:
P = G + E
g
+ E
s

=
A
+
D
+
I

trong đó,

G
: Phơng sai giá trị di truyền;


A
: Phơng sai giá trị di truyền cộng gộp (phơng sai giá trị giống);


D
: Phơng sai sai lệch trội;


D
: Phơng sai sai lệch tơng tác.

E
=
Eg
+
Es


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status