Bộ môn: Pháp luật kinh tế
GV: Đỗ Thị Duyên
Nhóm 3 lớp thứ 4 ca 2
Chủ đề bài thuyết trình:
Những quy định cơ bản của pháp luật về đặt tên doanh nghiệp? Chỉ ra những quy
định không hợp lý hoặc không rõ ràng trong việc đặt tên cho doanh nghiệp theo
quy định của pháp luật hiện hành? Lấy một ví dụ điển hình về tranh chấp tên của
doanh nghiệp trong thực tiễn và phân tích trên cơ sở các quy định của pháp luật về
tên doanh nghiệp.
Bài làm:
I.Những quy định cơ bản của pháp luật về đặt tên doanh nghiệp:
Tại chương 3 nghị định 43/2010/NĐ-CP về đặt tên doanh nghiệp có ghi:
Điều 13: Quy định về tên doanh nghiệp
1. Tên doanh nghiệp phải viết được bằng các chữ cái trong Bảng chữ cái tiếng
Việt, có thể kèm theo các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu, phát âm được và
bao gồm hai thành tố sau đây:
a) Loại hình doanh nghiệp, bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, cụm từ trách
nhiệm hữu hạn có thể viết tắt là TNHH; công ty cổ phần, cụm từ cổ phần có thể
viết tắt là CP; công ty hợp danh, cụm từ hợp danh có thể viết tắt là HD; doanh
nghiệp tư nhân, cụm từ tư nhân có thể viết tắt là TN;
b) Tên riêng của doanh nghiệp.
2. Doanh nghiệp chỉ được sử dụng ngành, nghề kinh doanh, hình thức đầu tư để
cấu thành tên riêng của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có đăng ký ngành, nghề đó
hoặc thực hiện đầu tư theo hình thức đó.
3. Tên tập đoàn kinh tế nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Điều 14: Những điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp
1. Không được đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác
đã đăng ký trong phạm vi toàn quốc, trừ những doanh nghiệp đã bị thu hồi Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã giải thể. Quy định này
được áp dụng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011.
Kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành đến ngày 31 tháng 12 năm 2010,
g) Tên riêng của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký chỉ khác tên riêng của doanh
nghiệp đã đăng ký bởi các từ "miền Bắc", "miền Nam", "miền Trung", "miền Tây",
"miền Đông" hoặc các từ có ý nghĩa tương tự; trừ trường hợp doanh nghiệp yêu
cầu đăng ký là doanh nghiệp con của doanh nghiệp đã đăng ký;
h) Tên riêng của doanh nghiệp trùng với tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký.
Điều 16: Các vấn đề khác liên quan đến đặt tên doanh nghiệp
1. Các doanh nghiệp đã đăng ký tên doanh nghiệp phù hợp với quy định tại Nghị
định số 88/2006/NĐ-CP nhưng không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 14
Nghị định này không bắt buộc phải đăng ký đổi tên. Khuyến khích và tạo điều kiện
thuận lợi cho các doanh nghiệp có tên trùng và tên gây nhầm lẫn tự thương lượng
với nhau để đăng ký đổi tên doanh nghiệp hoặc bổ sung tên địa danh để làm yếu tố
phân biệt tên doanh nghiệp.
2. Trước khi đăng ký đặt tên doanh nghiệp, doanh nghiệp tham khảo tên các doanh
nghiệp đang hoạt động lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
3. Cơ quan đăng ký kinh doanh có quyền chấp thuận hoặc từ chối tên dự kiến đăng
ký của doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật và quyết định của cơ quan
đăng ký kinh doanh là quyết định cuối cùng.
Điều 17: Xử lý đối với trường hợp tên doanh nghiệp vi phạm quy định về sở hữu
công nghiệp
1. Không được sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý của tổ chức, cá
nhân đã được bảo hộ để cấu thành tên riêng của doanh nghiệp,trừ trường hợp được
sự chấp thuận của chủ sở hữu tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đó. Trước
khi đăng ký đặt tên doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tham khảo các nhãn hiệu,
chỉ dẫn địa lý đã đăng ký và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu về nhãn hiệu và chỉ dẫn
địa lý của Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.
2. Căn cứ để xác định tên doanh nghiệp vi phạm quyền sở hữu công nghiệp được
thực hiện theo các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu đặt tên doanh nghiệp vi
phạm các quy định về sở hữu trí tuệ. Trường hợp tên của doanh nghiệp vi phạm
các quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì doanh nghiệp có tên vi phạm
số và ký hiệu, phát âm được.
2. Tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh phải mang tên doanh
nghiệp đồng thời kèm theo cụm từ "Chi nhánh" đối với đăng ký thành lập chi
nhánh, cụm từ "Văn phòng đại diện" đối với đăng ký thành lập văn phòng đại diện,
hình thức tổ chức của địa điểm kinh doanh.
3. Đối với những doanh nghiệp nhà nước khi chuyển thành đơn vị hạch toán phụ
thuộc do yêu cầu tổ chức lại thì được phép giữ nguyên tên doanh nghiệp nhà nước
trước khi tổ chức lại.
II.Những quy định không hợp lý,không rõ ràng trong việc đặt tên cho doanh
nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành
1.Theo quy định tại điều 31 Luật Doanh Nghiệp năm 2005 và Điều 10 Nghị định
88 ngày 29/08/2006 thì tên doanh nghiệp phải viết được bằng tiếng Việt, có thể
kèm theo chữ số và ký hiệu, phải phát âm được và có ít nhất hai thành tố là Loại
hình doanh nghiệp và tên riêng. Nhưng phải hiểu thế nào là “viết được bằng tiếng
Việt”, có phải tên doanh nghiệp chỉ viết bằng các chữ cái, các âm tiết của tiếng
Việt hay còn được viết bằng cả bảng chữ cái La tinh?
Hệ quả : Chính tại quy định này đã có sự áp dụng khác biệt của các cơ quan cấp
phép kinh doanh trên cả nước. Sự áp dụng không thống nhất và có phần cứng nhắc
của các cơ quan cấp phép cũng đã khiến cho các doanh nghiệp gặp không ít khó
khăn trong việc đăng ký kinh doanh
Ví dụ: Phòng Đăng ký kinh doanh của Sở kế hoạch và đầu tư TP Hà Nội cho phép
đặt tên công ty có cả chữ cái không có trong bảng chữ cái tiếng Việt như Công ty
cổ phần đầu tư Zinnia ( Chữ Z không có trong bảng chữ cái của tiếng Việt ) hoặc
Công ty TNHH Việt Foods ( CHữ F không có trong bảng chữ cái của tiếng Việt).
Trái ngược lại, Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch và đầu tư Tp Hồ Chí
Minh lại không cho phép tên Công ty có những chứ cái không có trong bảng chữ
cái của tiếng Việt và các chữ cái này không được phép viết liền nhau mà phải viết
tách rời thành các âm tiết có nghĩa trong tiếng Việt ví dụ như Công ty cổ phần thủy
sản E Si Bi Se….
2. Tại Điều 32.3 Luật Doanh Nghiệp 2005 mang tính chất định tính, rất khó áp
từ “tiếng” nước ngoài là chưa đầy đủ mà sử dụng từ “ngôn ngữ” nước ngoài.
4. Hiện nay doanh nghiệp thường có 3 loại tên: tên doanh nghiệp (tạm gọi là tên
chính thức), tên doanh nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài và tên viết tắt. Tuy nhiên,
doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng nhiều hơn 3 tên đó. Hiện nay, nhiều doanh
nghiệp có đến 4, 5 tên như tên chính thức bằng tiếng Việt, tên chính thức bằng
tiếng nước ngoài, tên viết tắt bằng Tiếng Việt, tên viết tắt bằng tiếng người
ngoài . . Chúng ta có thể lướt qua tên của các các ngân hàng là thấy rõ điều này.
Do vậy, giới hạn việc đăng ký tên doanh nghiệp ở 3 tên như hiện nay là không đáp
ứng được nhu cầu sử dụng tên của doanh nghiệp.
Một vấn đề nữa cần bàn tới trong nội dung này, đó là số lượng doanh nghiệp ngày
càng nhiều, việc chọn lựa tên doanh nghiệp sẽ trở nên khó khăn. Do vậy, nhu cầu
kiểm tra và giữ tên cho doanh nghiệp (trước khi thành lập hoặc trước khi đổi tên) là
nhu cầu hợp lý. Tuy vậy, Luật Doanh nghiệp chưa có cơ chế chính thức cho việc
giữ tên này. Doanh nghiệp hoặc các sáng lập viên phải tốn thời gian, chi phí để
soạn, nộp đầy đủ hồ sơ cho cơ quan đăng ký kinh doanh nhưng chưa chắc đã được
chấp thuận tên dự kiến cho doanh nghiệp. Do vậy, Luật Doanh nghiệp nên có cơ
chế chính thức cho việc giữ tên này, quy định cụ thể giá cả cần bàn, thời gian giữ,
quy tắc giữ thế nào và có thể chuyển nhượng được không? Việc giữ tên này sẽ có
hiệu lực trong một thời hạn nhất định và người đề nghị giữ tên sẽ phải trả phí cho
việc giữ tên. Nếu thực hiện được dịch vụ này, doanh nghiệp và cả cơ quan đăng ký
kinh doanh sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ
có một khoản thu mới. Với quy định này thì tên doanh nghiệp đã trở thành món
hàng kinh doanh.
Khuyến nghị :
Nên bổ sung quy định vào Điều 13.1 Luật Doanh Nghiệp như sau : “Tên doanh
nghiệp viết bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số hoặc ngôn ngữ nước ngoài là tên
được dịch từ tên bằng ngôn ngữViệt sang ngôn ngữ dân tộc thiểu số hoặc ngôn
ngữ nước ngoài tương ứng. Khi dịch sangngôn ngữ dân tộc thiểu số hoặc ngôn
ngữ nước ngoài, tên riêng của doanh nghiệp có thể giữ nguyên hoặc dịch theo
nghĩa tương ứng sang ngôn ngữ dân tộc thiểu số hoặc ngôn ngữ nước ngoài”.
bạn đặt tên là TONY, hay EROS thì cũng tương tự, trừ khi bạn chuyển thành tương
ứng TÔ NY và Thần Tình Yêu.
7.Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
muốn sử dụng tên bằng tiếng nước ngoài thì chỉ được dùng tên của công ty mẹ.
Ví dụ: Dẫn đến các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đang “mếu máo”
trong việc đặt tên cho doanh nghiệp của mình. Chính vì quy định này mới nảy ra
những tình huống dễ gây “cười” khi có những tên nước ngoài dịch sang tiếng Việt
Nam hoàn toàn không mang một ý nghĩa nào: Công ty Hậu cần quyền lực (Power
Logistics Corporation), Công ty Chuyên nhân tạo (Artifial Pro Inc.), Công ty Sản
xuất phim bạc (Silver Production), v.v…
III.VÍ dụ điển hình về tranh chấp tên của doanh nghiệp trong thực tiễn.
Công ty TNHH Secom Việt Nam cho rằng Công ty TNHH Se Com (thành lập sau)
đã dùng tên tương tự với tên của mình. Tuy nhiên, Se Com cho rằng DN mình
được thành lập đúng quy định, tên này đã được cơ quan cấp phép kinh doanh chấp
thuận.
Khi xử sơ thẩm vụ tranh chấp này, tòa sơ thẩm cho rằng tên “Công ty TNHH Se
Com” tuy có tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên “Công ty TNHH Secom Việt
Nam” nhưng hai công ty có lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Secom Việt Nam thì
có các dịch vụ tư vấn về thiết bị an toàn, còn Se Com thì lắp đặt, sửa chữa, bảo trì,
mua bán thiết bị PCCC, camera quan sát, thiết bị báo động-báo cháy. Vì vậy, tòa
sơ thẩm cho rằng tên Se Com không vi phạm tên của Secom Việt Nam.
Tuy nhiên, Secom Việt Nam kháng cáo. Tòa phúc thẩm đã trưng cầu giám định và
Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ kết luận là hai ngành nghề này tương tự nhau. Vì
vậy, tòa phúc thẩm xử rằng tên của Se Com vi phạm tên của Secom Việt Nam,
buộc Se Com phải chấm dứt dùng tên “Công ty TNHH Se Com” và tên viết tắt
“Secom Co., Ltd.”, đồng thời bồi thường cho Secom Việt Nam 100 triệu đồng chi
phí thuê luật sư theo đuổi vụ kiện này.
Dài ngắn khác nhau vẫn trùng
Trước đó, một số DN cũng đã đòi lại được tên “độc quyền” của mình. Công ty
TNHH Phúc Sinh đã kiện Công ty Cổ phần Thương mại Xuất nhập khẩu Nông sản
Như vậy trường hợp này DN Se com đặt tên rất dễ gây nhầm lẫn vs tên của DN
trước
với lại nó quy định là phải bằng Tiếng Việt
2.Pháp Luật cho phép đc dịch tên sang tiếng nc ngoài nhưng vẫn phải thể hiện đầy
đủ tên DN bằng Tiếng Vệt trên biển hiệu của DN mà cty Secom này hoàn toàn k
thấy thể hiện bằng tiếng Việt.
=>vậy cách giải quyết của tòa sơ thẩm là sai
3.cơ quan mà cấp phép cho cty Secom kia là sai luật vì
k được đặt tên trùng hay tên dễ gây nhầm lẫn vs DN đã đăng ký trừ trường hợp có
sự đồng ý của cơ quan,tổ chức đó nhưng trong trường hợp này rõ ràng Se com
chưa xin phép và nhận đk sự đồng ý của Secom ViêtNam (đc quy dịnh tại điều 34
Luật Doanh Nghiệp)