- - - - - -
Tiểu Luận
Cách thức yêu cầu thực
hiện nghĩa vụ bảo lãnh
trong bảo lãnh ngân hàng
1
Mục lục
Lời mở đầu 2
I. Khái quát chung về bảo lãnh ngân hàng. 3
1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng. 3
2. Đặc điểm của hoạt động bảo lãnh ngân hàng. 4
3. Chủ thể trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng 5
3.1. Bên bảo lãnh. 6
3.2 Bên được bảo lãnh. 6
3.3 Bên nhận bảo lãnh. 7
4. Hình thức, nội dung và thủ tục bảo lãnh ngân hàng. 8
4.1. Hình thức và nội dung của giao dịch bảo lãnh.
4.2. Thủ tục bảo lãnh. 9
II.Cách thức yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong bảo lãnh ngân hàng. 10
1. Cách thức yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của bên nhận bảo lãnh với bên
bảo lãnh (tổ chức tín dụng). 10
2. Cách thức bên bảo lãnh (tổ chức tín dụng) yêu cầu bên được bảo lãnh
(khách hàng) thực hiện nghĩa vụ. 13
3.Thực trạng về pháp luật bảo lãnh ngân hàng ở nước ta cũng như cách
thức yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh 15
Kết bài 18
Danh mục tài liệu tham khảo 20
Lời mở đầu
2
Trên thực tế, rất nhiều người khi tham gia vào các hợp đồng dân sự
trong cuộc sống họ đều không đủ điều kiện về vốn cũng như năng lực tài
sống dân sự cũng như thương mại, những cam kết bảo lãnh như vậy có thể được
xác lập và thực hiện một cách không chuyên nghiệp bởi các tổ chức, cá nhân
hoặc có tính chất chuyên nghiệp bởi các tổ chức kinh tế đặc biệt như tổ chức tín
dụng. Những hành vi bảo lãnh có tính chất chuyên nghiệp do các tổ chức tín
dụng thực hiện theo yêu cầu của khách hàng được gọi là bảo lãnh ngân hàng.
Bảo lãnh ngân hàng dưới góc độ kinh tế thường được quan niệm như là
nghiệp vụ cấp tín dụng, bởi lẽ thông qua nghiệp vụ bảo lãnh, tổ chức tín dụng
có thể giúp khách hàng thoả mãn nhu cầu về vốn trong kinh doanh hoặc tiêu
dung. Còn dưới góc độ pháp lý thì bảo lãnh ngân hàng được hiểu là việc ngân
hàng cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về thực hiện
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực nghĩa vụ đã
cam kết với bên nhận bảo lãnh; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ
chức tín dụng số tiền đã được trả thay. Như vậy, có thể nói trong bảo lãnh ngân
hàng tồn tại cam kết bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (người bảo lãnh) với
bên có quyền (người nhận bảo lãnh) về việc người bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa
vụ tài sản thay cho khách hàng (người được bảo lãnh) khi người này không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của họ với bên có quyền và khách
hàng phải nhận nợ với tổ chức tín dụng và có nghĩa vụ hoàn trả cho tổ chức tín
dụng số tiền đã được trả thay. Ta thấy trong hợp đồng bảo lãnh ngân hàng có
hai quan hệ pháp luật song song cùng tồn tại độc lập với nhau nhưng có ảnh
hưởng chi phối lẫn nhau. Điều này thể hiện ở chỗ hợp đồng dịch vụ bảo lãnh
làm phát sinh nghĩa vụ phát hành cam kết bảo lãnh của tỏ chức tín dụng bảo
lãnh, vì thế hợp đồng bảo lãnh mới được xác lập giữa tổ chức tín dung với bên
có quyền. Ngược lại, việc xác lập và thực hiện hợp đồng bảo lãnh là bằng
4
chứng chứng minh tổ chức tín dụng bảo lãnh đã thực hiện đúng cam kết với
khách hàng được bảo lãnh trong hợp đồng dịch vụ bảo lãnh.
2. Đặc điểm của hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
Với ý nghĩa là loại hình bảo lãnh đặc thù, bảo lãnh ngân hàng vừa có
những đặc điểm của bảo lãnh nói chung đồng thời cũng có những đặc điểm
nhau nhưng độc lập với nhau vể cả phương diện chủ thể cũng như phương diện
quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên.
Thứ năm, giao dịch bảo lãnh ngân hàng không phải là giao dịch của hai
bên hay ba bên mà là giao dịch “kép”. Sở dĩ có thể nói như vậy là vì để đạt
được mục đích và động cơ chủ yếu của mình là phát hành cam kết bảo lãnh theo
yêu cầu của khách hàng và gửi cho bên có quyền (bên nhận bảo lãnh để nhận
tiền thù lao dịch vụ) thì tổ chức tín dụng phải đồng thời tiến hành kí kết cả hai
loại hợp đồng theo thứ tự: hợp đồng dịch vụ bảo lãnh được kí kết trước và hợp
đồng bảo lãnh được giao kết sau.
Thứ sáu, việc thực hiện hợp đồng bảo lãnh phải theo thông lệ quốc tế, có
nghĩa là bảo lãnh ngân hàng không thể đơn phương huỷ ngang bởi những người
đại diện có thẩm quyền của tổ chức tín dụng bảo lãnh.
Thứ bảy, bảo lãnh ngân hàng là giao dịc được xác lập và thực hiện trên
chứng từ. Tính chất này thể hiện ở chỗ khi các tổ chức tín dụng phát hành cam
kết bảo lãnh cũng như cũng như khi người nhận bảo lãnh thực hiện yêu cầu hay
khi tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh, các chủ thể đều bắt
buộc thiết lập bằng văn bản.
Thứ tám, bảo lãnh ngân hàng là loại hình bảo lãnh vô điều kiện. Tính chất
vô điều kiện của bảo lãnh ngân hàng thể hiện ở chỗ các tổ chức tín dụng bảo
lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đối với người nhận bảo lãnh ngay sau khi người
này xuất trình được các giấy tờ phù hợp với nội dung của cam kết bảo lãnh do
tổ chức tín dụng phát hành mà không phụ thuộc vào việc người được bảo lãnh
có khả năng thực hiện nghĩa vụ của họ hay không.
3. Chủ thể trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng.
Nghiệp vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng vốn mang bản chất là hoạt động
thương mại nên có cấu trúc pháp lý khá đặc thù, bao gồm sự gắn kết giữa hai
loại hợp đồng – hợp đồng bảo lãnh (được kí kết giữa bên bảo lãnh với bên nhận
bảo lãnh) và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh (được kí kết giữa bên bảo lãnh với bên
nhận bảo lãnh). Chính vì các loại hợp đồng của bảo lãnh trong ngân hàng mà ta
thấy được chủ thể trong quan hệ này bao gồm các bên sau: Bên bảo lãnh (các tổ
định bảo lãnh;
c, Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát,
tổng giám đốc, phó tổng giám đốc (phó giám đốc) của tổ chức tín dụng. Nếu
khách hàng đề nghị bảo lãnh là bố, mẹ, vợ, chồng, con của giám đốc, phó
7
giám đốc chi nhánh của các tổ chức tín dụng thì việc chấp nhận bảo lãnh hay
không sẽ do tổ chức tín dụng xem xét quyết định.
Theo quy định hiện hành, những chủ thể này muốn được tổ chức tín dụng
xem xét và chấp thuận bảo lãnh, cần phải thoả mãn các điều kiện sau đây:
1, Có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;
2, Mục đích đề nghị tổ chức tín dụng bảo lãnh là hợp pháp;
3, Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ được tổ chức tín dụng trong
thời hạn cam kết;
4, Tuân thủ các quy định về quản lý ngoại hối của Việt Nam nếu khách hàng
đề nghị bảo lãnh là tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Ngoài ra, pháp luật còn quy định giới hạn bảo lãnh đối với khách hàng, theo
đó tổng số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không
được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Tổng số dư bảo lãnh của
chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với mối khách hàng không được vượt
quá 15% vốn tự có của ngân hàng nước ngoài. Số dư bảo lãnh này bao gồm
tổng số dư bảo lãnh và các cam kết phát hành theo hình thức tín dụng chứng
từ, ngoại trừ hình thức mở thư tín dụng trả ngay được khách hàng kí quỹ đủ
hoặc được cho vay 100% giá trị thanh toán.
Sau khi xem xét các điều kiện và giới hạn bảo lãnh trên, việc chấp nhận bảo
lãnh hay từ chối bảo lãnh là quyền của các tổ chức tín dụng.
3.3 Bên nhận bảo lãnh.
Bên nhận bảo lãnh trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng là người có
quyền thụ hưởng món nợ do người được bảo lãnh thanh toán nghĩa vụ trong
các hợp đồng (hợp đồng về xây dựng cơ bản, hợp đồng tín dụng, hợp đồng
mua bán hàng hoá…) hay các nghĩa vụ thanh toán ngoài hợp đồng ( nghĩa
bản có thể là cam kết đơn phương của tổ chức tín dụng bảo lãnh đối với bên
nhận bảo lãnh hoặc là cam kết song phương và đa phương giữa tổ chức tín dụng
với bên nhận bảo lãnh và khách hàng được bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ
thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng không thực hiện đúng nghĩa
vụ của họ đối với bên nhận bảo lãnh.
Đối với cam kết bảo lãnh (bao gồm thư bảo lãnh, hợp đồng bảo lãnh và
các hình thức khác), phải hội đủ các nội dung chủ yếu như tên, địa chỉ của tổ
chức tín dụng bảo lãnh, khách hàng được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh; ngày
phát hành bảo lãnh và số tiền bảo lãnh; thời hạn bảo lãnh và các điều kiện thực
hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
4.2. Thủ tục bảo lãnh.
9
Trên nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các tổ chức tín
dụng, pháp luật cho phép các tổ chức tín dụng dược quyền quy định cụ thể về
trình tự, thủ tục và điều kiện được bảo lãnh phù hợp với các đặc điểm của từng
tổ chức tín dụng và các loại hình nghiệp vụ bảo lãnh. Trong thực tế nghiệp vụ
bảo lãnh ngân hàng thường được thực hiện theo các quy trình sau:
Bước thứ nhất: khách hàng có nhu cầu sủ dụng dịch vụ bảo lãnh phải gủi
hồ sơ đề nghị bảo lãnh đến tổ chức tín dụng do họ lựa chọn. Các tài liệu có
trong hồ sơ đề nghị bảo lãnh có thể do tổ chức tín dụng cung cấp cho khách
hàng theo mẫu in sẵn hoặc do chính khách hàng chuẩn bị và đưa vào hồ sơ đề
nghị bảo lãnh.
Bước hai: Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị bảo lãnh từ khách hàng, tổ
chức tín dụng phải tiến hành thẩm định hồ sơ dựa trên các điều kiện bảo lãnh do
pháp luật quy định và có nghĩa vụ thông báo cho khách hàng biết ý kiến chấp
thuận hay từ chối bảo lãnh. Việc chấp thuận hay từ chối phải thể hiện bằng văn
bản. Nếu chấp thuận bảo lãnh các bên lập văn bản hợp đồng dịch vụ bảo lãnh
hay hợp đồng cấp bảo lãnh với đầy đủ các điều khoản theo pháp luật.
Bước ba: Tổ chức tín dụng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ kí kết hợp đồng
bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh vì quyền lợi của khách hàng đề nghị bảo lãnh.
ngoài phạm vi cam kết bảo lãnh.
1. Cách thức yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của bên nhận bảo lãnh với bên
bảo lãnh (tổ chức tín dụng).
Mặc dù trình tự thủ tục thực hiện bảo lãnh mang tính chất nghiệp vụ của
các ngân hàng nhiều hơn là một quy phạm pháp luật, nhưng pháp luật thực định
vẫn có những qui định cụ thể về trình tự này nhằm thúc đẩy thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh của các bên, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia giao dịch bảo
lãnh. Điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được quy định trong Khoản 1 Điều
25 qui chế bảo lãnh ngân hàng, theo đó tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh khi có đầy đủ các điều kiện sau:
- Nghĩa vụ đến thời hạn thực hiện.
- Bên nhận bảo lãnh có văn bản đề nghị tổ chức tín dụng thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh.
Thứ nhất; theo quy định tại quy chế bảo lãnh ngân hàng cũng như tại luật
các tổ chức tín dụng thì ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bên
được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình
mà nghĩa vụ đó vẫn còn thợi hạn yêu cầu thực hiện.
11
Thứ hai; trong văn bản yêu cầu ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
của bên nhận bảo lãnh cần có những nội dung sau đây:
+ Trong văn bản yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh phải ghi rõ như tên,
địa chỉ của tổ chức tín dụng bảo lãnh, khách hàng được bảo lãnh và bên nhận
bảo lãnh; ngày phát hành bảo lãnh và số tiền bảo lãnh; thời hạn bảo lãnh và các
điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh;
+ Ghi rõ phạm vi bảo lãnh, số tiền bảo lãnh và thời hạn thực hiện nghĩa
vụ bảo lãnh.
Gồm các tài liệu có liên quan là:
+ Các tài liệu chứng minh bên khách hàng không thực hiện nghĩa vụ hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh, nếu cam kết
bảo lãnh đê cập như một điều kiện để thực hiện nghã vụ bảo lãnh
không đúng nghĩa vụ thì bên nhân bảo lãnh mới có quyền yêu cầu bên bảo lãnh
thực hiện nghĩa vụ. Còn nếu là chuyển giao thực hiện nghĩa vụ trong dân sự thì
bên được bảo lãnh có đề nghị với bên nhận bảo lãnh để cho bên ngân hàng thực
hiện nghĩa vụ thay mình, nhưng ở đây ta thấy cả bên được bảo lãnh và ngân
hàng bảo lãnh đều có nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh. Có nghĩa là trong trường
hợp này bên nhận bảo lãnh đồng thời là chủ nợ của bên bảo lãnh (tổ chức tín
dụng bảo lãnh) nên họ có quyền yêu cầu bên tổ chức tín dụng phải thực hiện
nghĩa vụ với mình.
Song trong trường hợp thư bảo lãnh đã được ngân hàng gửi đi mà người
nhận bảo lãnh chưa nhận được thì về nguyên tắc ngân hàng phát hành thư bảo
lãnh hoàn toàn có khả năng rút lại thư bảo lãnh đó, trước khi nó đến tay người
nhận, vì đây cũng chỉ là một trường hợp của đề nghị giao kết hợp đồng trong
dân sự mà thôi .Tuy nhiên, tổ chức tín dụng vẫn có quyền từ chối thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh khi bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh có thể bù trừ
nghĩa vụ cho nhau.
Một vấn đền cần quan tâm trong quá trình thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
ngân hàng đó là bên nhận bảo lãnh chuyển giao quyền yêu cầu ngân hàng thực
hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho một người khác. Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng
không có quy định về việc bên nhận bảo lãnh chuyển giao quyền yêu cầu theo
cam kết bảo lãnh đối với ngân hàng bảo lãnh. Trên thực tế bên nhận bảo lãnh
vẫn thường chuyển giao quyền yêu cầu của mình đối với bên được bảo lãnh và
đồng thời chuyển giao luôn quyền yêu cầu theo cam kết bảo lãnh. Về nguyên
tắc, theo quy định của bộ luật dân sự về chuyển giao yêu cầu có biện pháp bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người thế quyền yêu cầu theo cam kết bảo
lãnh ngân hàng. Với thực tế này sẽ dẫn đến một số hạn chế là làm cho bảo lãnh
13
ngân hàng mất đi tính độc lập và sẽ không phù hợp với thông lệ quốc tế. Bởi lẽ,
để đảm bảo tính độc lập của bảo lãnh ngân hàng thì tính chính xác của yêu cầu
thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh phải được tuân tủ nghiêm ngặt. Khi luật cho phép
việc chuyển giao quyền và yêu cầu theo cam kết bảo lãnh đối với ngân hàng
định theo đó ngân hàng bảo lãnh lập văn bản yêu cầu trả tiền. Tuy nhiên có
những trường hợp vì lý do khách quan như thiên tai, hoả hoạn, những khó khăn
vê tài chính tạm thời và những lý do khách quan khác hoặc việc trả nợ cho bên
bảo lãnh không phù hợp với chu kì sản xuất kinh doanh, khách hàng chưa thực
hiện đúng nghĩa vụ trả nợ với bên bảo lãnh, trên cơ sở đề nghị của khách hàng
trong văn bản xác nhận nợ, tổ chức tín dụng có thể xem xét định kì trả nợ và áp
dụng lãi suất cho vay thông thường đối với số tiền mà tổ chức tín dụng đã bỏ ra
để trả nợ thay.
Bước hai: Nếu khách hàng không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ thì tổ
chức tín dụng có thể xử lý tài sản đảm bảo theo thoả thuận ( như đấu giá tài
sản)hoặc khởi kiện ra toà án theo luật định. Trong trường hợp bảo lãnh đối
xứng, xác nhận bảo lãnh cũng phải tuân thủ các trình tự trên. Đối với trường
hợp tổ chức tín dụng bảo lãnh cho một nghĩa vụ mà nhiều khách hàng cùng
tham gia thực hiện thì các bên tham gia có trách nhiệm hoàn trả nợ hoặc nhận
nợ với tổ chức tín dụng theo tỉ lệ tương ứng với phần nghĩa vụ của mình trong
nghĩa vụ chung. Nếu một bên tham gia không thực hiện phần nghĩa vụ của
mình thì tổ chức tín dụng có thể yêu cầu bất cứ bên nào trong số các bên tham
gia thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho mình.
Trường hợp bảo lãnh về hối phiếu, lệnh phiếu thì trình tự thủ tục thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định của pháp luật về thương phiếu.
Pháp luật thực định cũng có những quy định cụ thể về trường hợp miễn
thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Theo Điều 26 quy chế bảo lãnh ngân hàng có
ghi: trường hợp bên nhận bảo lãnh miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho tổ
chức tín dụng thì khách hàng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ với bên bảo lãnh trừ
trường hợp có thoả thuận khác; trường hợp tổ chức tín dụng trong nhiều tổ chức
tín dụng đồng thời bảo lãnh cho một nghĩa vụ của khách hàng được miễn thực
hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho mình thì những tổ chức tín dụng khác vẫn phải chịu
thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình nhưng không phải chịu trách nhiệm của
mình về phần nghĩa vụ của tổ chức tín dụng được miễn.
Ta thấy quy định của pháp luật về quyền yêu cầu của bên bảo lãnh với
nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh mới mẻ này. Song về phương diện nhà nước,
việc tạo ra cơ sở pháp lý ban đầu cần thiết cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng
từng bước góp phần đảm bảo an toàn và hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng thương mại cũng như thoả mãn nhu cầu, lợi ích chính đáng cảu
khách hàng được bảo lãnh và người thụ hưởng. Nhà nước ta đã ban hành các
văn bản pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực này như trong Bộ luật dân sự Việt
16
Nam năm 2005 từ điều 366 đến điều 376, Luật tổ chức tín dụng năm 1997 và
được sửa đổi bổ sung 2004 và hàng loạt các văn bản có liên quan khác. Các loại
hình bảo lãnh đã được mở rộng và các bên đã thực sự thấy lợi ích của mình khi
tham gia vào quan hệ bảo lãnh ngân hàng.
Các hạn chế còn tồn tại.
Theo người viết khái niệm về bảo lãnh ngân hàng của nước ta vẫn chưa
thực sự phù hợp so với tình hình kinh tế nước ta hiện nay cũng như với quan
niệm về bảo lãnh ngân hàng theo các chuẩn mực quy phạm quốc tế. Bởi vì theo
các văn bản pháp luật hiện hành về bảo lãnh nói chung và bảo lãnh ngân hàng
nói riêng đều không có điều khoản nào khẳng định giao dịch bảo lãnh ngân
hàng hoàn toàn độc lập với các giao dịch khác có liên quan (giao dịch thương
mại của ngân hàng thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam-
tiến sĩ Nguyễn Văn Tuyền). Điều này có nghĩa rằng hiệu lực pháp lý của giao
dịch bảo lãnh ngân hàng cũng như việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh từ
giao dịch bảo lãnh ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào tình trạng pháp lý của
giao dịch khác có liên quan. Chẳng hạn, nếu giữa người nhận bảo lãnh và khách
hàng được bảo lãnh có khả năng bù trừ nghĩa vụ cho nhau thì khi đó ngân hàng
bảo lãnh không phải thực hiện chức năng của người bảo lãnh; hoặc trường hợp
có bằng chứng chứng minh rằng nghĩa vụ được bảo lãnh không tồn tại hoặc tuy
tồn tại nhưng đang có tranh chấp giữa người nhận bảo lãnh và khách hàng được
bảo lãnh thì ngân hàng bảo lãnh cũng có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo
lãnh. Rõ ràng, các quy định trên đây tuy có tác dụng bảo vệ quyền lợi của người
bảo lãnh trước những khả năng lạm dụng tín nhiệm để trục lợi bất chính của
quan niệm và xây dựng hoàn toàn trên cơ sở khái niệm bảo lãnh nói chung được
quy định trong bộ luật dân sự. theo tôi cách tiếp cận này là đúng nhưng chưa
đủ, bởi lẽ “ bảo lãnh ngân hàng không chỉ đơn thuần là một giao dịch đảm bảo
có chức năng đảm bảo nghĩa vụ tài sản cho người có nghĩa vụ đối với bên có
quyền mà hơn nữa nó còn là một phương thức kinh doanh của ngân hàng
thương mại nhằm mục tiêu lợi nhuận thông qua việc thu phí dịch vụ bảo lãnh.
Vì thế khái niệm bảo lãnh ngân hàng vừa phải thể hiện được cơ bản thuộc về
bản chất của giao dịch đảm bảo nói chung, vừa phản ánh được đặc trung của
giao dịch thương mại.
Vì những cách hiểu khái niệm về bảo lãnh ngân hàng khác nhâu như vậy
mà trong việc thực thi luật về phần bảo lãnh trong ngân hàng này gặp nhiều khó
khăn và trên thực tế nó đã bộc lộ rất nhiều hạn chế như sau. Ta thấy pháp luật
chỉ có những quy định rất chung về hồ sơ bảo lãnh và hợp đồng bảo lãnh và
pháp luật trao quyền đó cho các ngân hàng để họ tự thực hiện theo điều kiện
18
của mình. Điều này dẫn đến việc không thống nhất giữa các ngân hàng trong cả
nước và nó gây ra sự khó khăn rất lớn đối với khách hàng yêu cầu bảo lãnh và
người nhận bảo lãnh. Có thể cùng một nội dung về nhưng các ngân hàng lại có
các quy định khác nhau dẫn đến sự khó hiểu cho khách hàng và làm cho họ
không còn mặn mà tha thiết với dịch vụ bảo lãnh cho lắm. Và, một điều cần nói
thêm là khi nước ta là thành viên chính thức của WTO thì các doanh nghiệp
của Việt Nam có những mối quan hệ làm ăn rất nhiều đối với các đối tác nước
ngoài, việc luật quy định như thế này đã gây ra khó khăn rất lớn đối với khách
hàng là người nước ngoài tham gia vào quan dịch vụ bảo lãnh của các ngân
hàng trong nước và đương nhiên làm hạn chế cơ hội làm ăn của các doanh
nghiệp Việt Nam. Chính vì vậy mà người viết đề nghị các nhà làm luật cần có
những văn bản quy định một cách rõ ràng hơn nữa về hình thức bảo lãnh cũng
như hình thức của hợp đồng bảo lãnh để các ngân hàng trên cả nước sử dụng
một mẫu chung nhất, như thé sẽ tốt hơn cho mọi người tham gia vào hoạt động
này.
20
Tài liệu tham khảo
1. giáo trình luật ngân hàng Việt Nam trường đại học luật Hà Nội
2. luận văn tốt nghiệp của Hà Thuỳ Linh về đề tài: Pháp luật về hoạt động bảo
lãnh ngân hàng ở Việt Nam, 2006
3. giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam- tiến sĩ Nguyễn Văn Tuyền
4. luật các tổ chức tín dụng
5. bộ luật dân sự Việt Nam 2005
6. quyết định số 283/200/QĐ-NHNN14
21