Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cuộc sống xã hội, các giao dịch dân sự rất phổ biến và mang tính
tất yếu, nó diễn ra hàng ngày và không ngừng phát triển bởi nhu cầu sống bất
tận của con người.
Bộ Luật Dân Sự ra đời năm 1995, trong đó những qui định về bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ dân sự được qui định tại mục 5 chương I phần nghĩa vụ dân
sự và hợp đồng dân sự, đã tạo ra hành lang pháp lý cho các giao dịch bảo đảm,
hướng sự ứng xử của các bên trong giao dịch bảo đảm theo một chuẩn mực pháp
lý nhất định.
Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống kinh tế xã hội
của đất nước có nhiều bước phát triển đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện
nay, khi mà các quan hệ trao đổi, lưu thông đang ngày càng phức tạp hơn, thì Bộ
Luật Dân Sự 1995 nói chung, những qui định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự nói riêng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với điều
kiện kinh tế, xã hội mới. Xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế đất nước, cũng
như hoàn thiện và đa dạng hoá các quan hệ dân sự, yêu cầu đặt ra đó là sửa đổi
Bộ Luật Dân Sự 1995 nói chung, những qui định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự nói riêng.
Ngày 14 tháng 6 năm 2005 Bộ Luật Dân Sự được Quốc Hội thông qua,
Bộ Luật Dân Sự 2005 ra đời trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và phát triển những
qui định trong Bộ Luật Dân Sự 1995, đánh dấu một bước tiến mới trong quá
trình pháp điển hoá, góp phần hoàn thiện hơn cơ sở pháp lý, chuẩn mực pháp lý
cho các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng. Trong đó các qui định về bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự được sửa đổi theo hướng hoàn thiện và đầy đủ hơn.
Để đạt được sự nhận thức đầy đủ, đúng đắn các qui định về bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự, trong đó có những qui định về biện pháp bảo đảm thế
chấp, cần phải có những nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các qui định này. Việc
nghiên cứu các qui định về thế chấp là công việc cần thiết, bởi những qui định
1
vấn đề liên quan.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Phân tích những qui định pháp luật hiện hành về nội dung và yếu tố cấu
thành của thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản. Qua
đó đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ trả nợ.
- Đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
4. Mục đích nghiên cứu đề tài
Khoá luận nhằm mục đích làm sáng tỏ những qui định mới về thế chấp để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo pháp luật dân sự, phân tích các yếu tố
pháp lý cấu thành biện pháp thế chấp, tìm hiểu thực trạng áp dụng pháp luật thế
chấp, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các qui định của pháp luật thế chấp.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu khoá luận, em sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và
phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin làm cơ sở lý luận và
phương pháp luận .
Bên cạnh đó em sử dụng những phương pháp nghiên cứu chuyên ngành
như phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, diễn giải, suy luận logic để đánh
giá các vấn đề, trên cơ sở đó làm sáng tỏ những khía cạnh lý luận, cũng như
thực tiễn của biện pháp thế chấp tài sản.
6. Kết cấu của khoá luận
Khoá luận gồm phần lời nói đầu, kết luận và 3 chương sau:
Chương I: Khái quát chung về thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả
nợ trong hợp đồng vay tài sản.
Chương II: Pháp luật Việt Nam hiện hành về thế chấp để bảo đảm nghĩa
vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản.
Chương III: Thực trạng thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ và
một số kiến nghị.
tạo điều kiện cho bên có quyền có thể chủ động hưởng quyền dân sự trên thực
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tế. Mặt khác, nó bảo đảm sự ổn định của các quan hệ nghĩa vụ, tránh được các
tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng không đầy
đủ nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ . Chính vì vậy, pháp luật qui định các biện pháp
bảo đảm và cho phép các bên có thể thoả thuận, đưa ra các biện pháp bảo đảm
phù hợp cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng.
Vậy bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là gì? Theo nghĩa khách quan,
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là: Tổng hợp các qui định pháp luật do Nhà
nước ban hành và bảo đảm thực hiện trong đó qui định điều kiện, trình tự, thủ
tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Còn theo nghĩa chủ quan, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là: Sự thoả thuận
giữa các bên, theo đó bên có nghĩa vụ sẽ dùng tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của
mình hoặc của người khác nếu người đó đồng ý, để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
trước bên có quyền. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể do
pháp luật qui định hoặc do các bên thoả thuận áp dụng trong phạm vi pháp luật
cho phép.
Về mặt bản chất, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là biện
pháp mang tính chất dự phòng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ. Ngoài
ra, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự do pháp luật qui định hay
do các bên thoả thuận còn có tính chất bắt buộc đối với các bên trong giao dịch.
1.1.2. Đặc điểm của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
- Đối tượng của biện pháp bảo đảm là tài sản (trừ biện pháp tín chấp)
Quan hệ nghĩa vụ dân sự là những quan hệ mang tính tài sản, do đó đối
tượng của biện pháp bảo đảm trong các quan hệ này không thể là quyền nhân
thân. Quyền nhân thân là quyền gắn liền với mỗi cá nhân, đó là quyền không thể
tách rời và chuyển giao cho người khác được. Ví dụ: Trong quan hệ vay nợ, lợi
ích của bên cho vay sẽ không được bảo đảm khi tài sản bảo đảm là quyền nhân
thân của người vay (như quyền đối với hình ảnh). Bởi vì, khi có sự vi phạm
hệ hợp đồng, có những trường hợp mà pháp luật qui định bắt buộc phải có biện
pháp bảo đảm. Ví dụ: Hợp đồng cho vay mà bên vay là Ngân hàng Nhà nước,
biện pháp bảo đảm tiền vay là biện pháp thế chấp. Nhưng dù pháp luật có qui
định người vay phải có thế chấp thì quyền thoả thuận của các bên cũng không hề
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mất đi, các bên có thể cùng nhau thoả thuận về đối tượng, phương thức xử lý tài
sản thế chấp …
- Phạm vi bảo đảm của các nghĩa vụ không vượt quá phạm vi của nghĩa vụ
chính.
Điều 319 Bộ Luật Dân Sự 2005 (BLDS 2005) qui định “nghĩa vụ dân sự
có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thoả thuận hoặc qui định của
pháp luật. Nếu không có thoả thuận hoặc pháp luật không qui định phạm vi bảo
đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ bồi thường thiệt
hại”. Nghĩa vụ được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ có thể là nghĩa vụ hiện tại
hay nghĩa vụ có điều kiện. Dù là nghĩa vụ nào đi chăng nữa thì giới hạn của bảo
đảm luôn là toàn bộ nghĩa vụ.
Các bên trong quan hệ có thể thoả thuận phạm vi bảo đảm nhưng thoả
thuận của các bên chỉ giới hạn trong toàn bộ nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ.
Phạm vi bảo đảm không thể vượt qua nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Nếu vượt
quá có nghĩa là vi phạm pháp luật dân sự. Và sự thoả thuận của các bên không
được pháp luật công nhận, biện pháp bảo đảm sẽ vô hiệu.
Một yếu tố nữa chi phối phạm vi bảo đảm đó là tính không phụ thuộc vào
qui luật giá trị. Trong thực tế, cho dù người có nghĩa vụ đưa ra một tài sản bảo
đảm có giá trị lớn hơn nhiều so với giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì các bên
cũng không thể thoả thuận phạm vi bảo đảm bằng với giá trị tài sản. Bởi người
có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ đã xác định.
- Xử lý tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm chỉ được đưa ra xử lý khi có sự
vi pham nghĩa vụ (Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có
quy định khác).
Hai biện pháp bảo đảm đối vật điển hình đó là cầm cố và thế chấp tài sản.
Điều 342 BLDS 2005 qui định “thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản
thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên kia mà không
có sự chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”. Điều 326 BLDS 2005 qui
định “Cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình
cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”.
Yếu tố tài sản là điểm khác biệt giữa hai hình thức bảo đảm đối nhân và
bảo đảm đối vật. Trong bảo đảm đối vật, bên có nghĩa vụ có thể dùng tài sản
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thuộc sở hữu của mình hoặc của người thứ ba để cầm cố hoặc thế chấp cho bên
có quyền.
1.2.2. Bảo đảm đối nhân
Trong hình thức bảo đảm đối nhân, nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đựợc
bảo đảm bằng việc thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba.
Điển hình của hình thức bảo đảm đối nhân đó là biện pháp tín chấp trong
quan hệ tín dụng và biện pháp bảo lãnh. Biện pháp bảo đảm bằng tín chấp là
biện pháp bảo đảm dựa trên cơ sở niềm tin, uy tín của các bên trong quan hệ.
Bên có nghĩa vụ có thể bằng uy tín của mình hoặc của người thứ ba để có được
sự tin tưởng của bên có quyền. Các bên trong quan hệ cũng không cần thoả
thuận về việc bên có nghĩa vụ phải bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình bằng
một tài sản cụ thể nào cả. Điều 361 BLDS 2005 quy định “Bảo lãnh là việc
người thứ ba cam kết với người có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có
nghĩa vụ nếu đến hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc không thực
hiện đúng nghĩa vụ”.
Sự phân biệt giữa hai hình thức bảo đảm này tạo điều kiện thuận lợi và dễ
dàng cho các bên khi lựa chọn biện pháp bảo đảm phù hợp cho từng giao dịch
dân sự.
2. Khái quát chung về thế chấp tài sản
2.1. Khái niệm, đăc trưng của biện pháp thế chấp tài sản
Pháp luật dân sự hiện hành qui định “Thế chấp tài sản là việc bên thế
chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
đối với bên nhận thế chấp và không chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp”
(Điều 342 BLDS 2005 ).
Cụ thể, trong quan hệ vay tài sản, thế chấp tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả
nợ, có thể hiểu là việc bên vay đem tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm
cho khoản vay và không chuyển giao tài sản đó cho bên vay.
2.1.2. Đặc trưng của biện pháp thế chấp
- Thứ nhất: không có sự chuyển giao tài sản.
Đây là một đặc trưng riêng biệt của biện pháp thế chấp. Trong thế chấp tài
sản, bên thế chấp không phải chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp mà vẫn
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trực tiếp nắm giữ tài sản đó, bên thế chấp chỉ phải chuyển giao các giấy tờ pháp
lý (như giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản). Trong một số trường hợp nếu
các bên có thoả thuận thì tài sản thế chấp có thể giao cho người thứ ba quản lý.
Đây là điểm khác biệt với cầm cố. Trong quan hệ cầm cố, tài sản bảo đảm phải
được chuyển giao cho bên nhận cầm cố quản lý và nắm giữ.
Sự không chuyển giao tài sản không hề ảnh hưởng tới quyền lợi của bên
nhận thế chấp hay nói cách khác quyền định đoạt đối với tài sản thế chấp của
bên nhận thế chấp không bị mất hay giảm sút từ việc không trực tiếp nắm giữ tài
sản thế chấp. Bên thế chấp là người trực tiếp nắm giữ tài sản thế chấp nhưng
không thể định đoạt tài sản thế chấp, do giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản
đang do bên nhận thế chấp giữ.
- Thứ hai: trong quan hệ thế chấp một tài sản có thể bảo đảm cho nhiều
nghĩa vụ.
Điều này xuất phát từ bản chất của thế chấp, đó là không có sự chuyển
giao tài sản thế chấp. Điều 324 BLDS 2005 qui định “Một tài sản có thể dùng để
bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu tài sản đó có giá trị tại thời điểm
xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ
sản thuộc sở hữu của mình cho chủ nợ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ,
con nợ vẫn là chủ sở hữu đối với tài sản đó, chủ nợ có quyền chiếm hữu tài sản
điển cố. Về tài sản “Điển cố” có thể là động sản hoặc bất động sản.
Trong hai Bộ Luật Hồng Đức và Bộ Luật Gia Long còn qui định một số
biện pháp bảo đảm khác như: Bảo chứng, Điển cố nhân công.
Thời kỳ này, do trình độ lập pháp chưa phát triển nền kinh tế còn phát
triển ở trình độ thấp. Pháp luật phong kiến không qui định biện pháp thế chấp
mặc dù đối tượng được sử dụng trong biện pháp Điển mại, Điển cố hầu như là
bất động sản: Ruộng đất, nhà cửa…
2.2.2. Thời kỳ Pháp thuộc
Đến thời kỳ Pháp thuộc, do ảnh hưởng bởi pháp luật dân sự Pháp, lần đầu
tiên biện pháp thế chấp được qui định trong pháp luật dân sự Việt Nam.
Do đất nước bị chia thành ba kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ nên pháp
luật Việt Nam áp dụng không thống nhất. Bắc Kỳ và Trung Kỳ là đất bảo hộ,
các quan hệ dân sự chịu sự điều chỉnh của Bộ Luật Dân Sự Bắc Kỳ (1931) và
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bộ Luật Trung Kỳ (1936). Còn Nam Kỳ là đất nhượng địa nên các quan hệ dân
sự ở Nam Kỳ và ba thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng) chịu sự điều chỉnh
của Bộ Luật Dân Sự Pháp (1804); Bộ dân luật Bắc Kỳ và Bộ dân luật Trung Kỳ
được dùng tham khảo với ý nghĩa là phong tục tập quán của An Nam.
Nếu như trong hai Bộ luật Hồng Đức và Bộ Luật Gia Long, các biện pháp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được qui định tại các khoản, chương, mục khác
nhau thì trong hai Bộ Luật Dân Sự Bắc Kỳ và Bộ Luật Dân Sự Nam Kỳ những
qui định về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự lại được qui định tập
trung tại chương “Các hoạt động bảo đảm”.
Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được qui định trong hai Bộ
Luật Dân Sự Bắc Kỳ và Trung Kỳ bao gồm biện pháp: Bảo lãnh, cầm cố, điển
mại và thế chấp. Trong đó các qui định về biện pháp thế chấp là những qui định
hoàn toàn mới. Biện pháp thế chấp được qui định chi tiết về đối tượng thế chấp
Bộ Luật Hàng Hải Việt Nam năm 1990 Điều 329 đề cập biện pháp cầm
cố, thế chấp tàu biển và luật Hàng Không Dân Dụng Việt Nam năm 1992 cũng
qui định về thế chấp tàu bay (Điều 19, Điều 20)
Ngày 29/4/1991 Pháp lệnh hợp đồng dân sự ban hành đã qui định bốn
hình thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh và đặt cọc.
Luật đất đai 1993 ban hành, mở rộng đối tượng thế chấp, cho phép người
sử dụng đất được thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng.
Với nền kinh tế thị trường phát triển, các quan hệ trong xã hội đặc biệt là
các quan hệ dân sự trở lên đa dạng và phức tạp hơn. Trước thực tế đó các qui
định về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung và biện pháp thế chấp
nói riêng đã bộc lộ nhiều khuyết điểm và hạn chế. Yêu cầu đặt ra mang tính cấp
thiết là phải sửa đổi, điều chỉnh các qui định về biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ sao cho phù hợp với tình hình mới của đất nước.
2.2.4. Giai đoạn từ 1/7/1996 đến nay
Ngày 28/10/1995 Quốc hội thông qua việc ban hành Bộ Luật Dân Sự. Bộ
Luật Dân Sự 1995 có hiệu lực từ ngày 1/7/1996, đây là Bộ Luật Dân Sự đầu tiên
của nước ta. Việc ban hành bộ luật là một bước phát triển quan trọng trong quá
trình lập pháp, trong đó các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được
qui định chi tiết bao gồm: biện pháp cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, đặt cọc, ký
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cược, ký quỹ và phạt vi phạm. Biện pháp thế chấp được qui định từ Điều 346
đến Điều 362.
Bộ Luật Dân Sự 1995 được ban hành và áp dụng trên thực tế đã đem lại
hiệu quả to lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự. Trong đó qui định về
biện pháp thế chấp đã góp phần vào sự ổn định và phát triển các giao dịch dân
sự, đồng thời hạn chế được nhiều rủi ro và tranh chấp trong quá trình thực hiện
giao dịch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia.
Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự lớn mạnh
của nền kinh tế đất nước, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Bộ Luật Dân
sự chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản từ bên thế chấp sang bên nhận thế chấp.
Bộ Luật Dân Sự và thương mại Thái Lan, Điều 702 qui định “Hợp đồng
thế chấp là hợp đồng qua đó một người gọi là người thế chấp nhượng một tài sản
cho người khác gọi là người nhận thế chấp như một bảo đảm thi hành một nghĩa
vụ, nhưng không chuyển giao tài sản đó cho người nhận thế chấp” [7, trang
179]. Cũng như pháp luật dân sự Pháp, thế chấp theo Bộ Luật Dân Sự và thương
mại Thái Lan cũng không có sự chuyển giao quyền chiếm hữu đối với tài sản từ
bên thế chấp sang bên nhận thế chấp, bên thế chấp vẫn quản lý tài sản thế chấp.
Theo pháp luật dân sự Nhật Bản “Thế chấp là một chế định bảo đảm
nghĩa vụ bằng tài sản. Trong đó không có việc chuyển giao tài sản thế chấp” [6,
trang 300].
So với pháp luật dân sự Pháp, Bộ Luật Dân Sự và thương mại Thái Lan,
thế chấp theo pháp luật dân sự Nhật Bản cũng không có sự chuyển giao quyền
chiếm hữu tài sản. Điểm khác biệt giữa pháp luật dân sự Nhật Bản và Pháp đó là
qui định về đối tượng thế chấp.
2.3.2. Đối tượng thế chấp
Theo pháp luật dân sự Pháp: Đối tượng thế chấp bao gồm: [5, trang 1090]
- Bất động sản được sử dụng vào hoạt động thương mại và những vật phụ
của bất động sản coi như bất động sản.
- Hoa lợi, lợi tức đối với bất động sản nói trên và những vật phụ của bất
động sản đó trong thời gian có quyền hưởng.
Như vậy, tài sản thế chấp là những bất động sản như đất đai, nhà cửa.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Pháp luật dân sự Nhật Bản qui định đối tượng thế chấp rất rộng không chỉ
có bất động sản mà còn cả động sản.
Đối tượng thế chấp theo Bộ Luật Dân Sự và thương mại Thái Lan là “Bất
cứ loại bất động sản nào cũng có thể được thế chấp” [7, trang 179]. Bên thế chấp
có thể đem thế chấp những loại động sản mà pháp luật qui định được thế chấp
và đã đăng ký đúng luật như: Tàu, gia súc lớn …
3.1. Mối quan hệ giữa biện pháp thế chấp và hợp đồng vay
3.1.1. Trong quan hệ tín dụng
Để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh cũng như đảm bảo cuộc sống
sinh hoạt hàng ngày thì quan hệ vay tài sản là quan hệ không thể thiếu. Trong
nền kinh tế thị trường phát triển năng động, hoạt động sản xuất kinh doanh là
hoạt động rất quan trọng, để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển đòi hỏi phải
có đầu tư và nhu cầu về vốn là cần thiết.
Để đáp ứng nhu cầu về vốn, giao dịch bảo đảm được xác lập nhiều nhất là
hợp đồng tín dụng. Trong mấy năm gần đây hoạt động tín dụng ngân hàng rất
phát triển, đối tượng cấp tín dụng ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, hoạt
động tín dụng là hoạt động tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao, ngân hàng có thể lâm vào
tình trạng khó khăn bất cứ lúc nào bởi vì khách hàng vay không trả tiền hoặc
vay với mục đích lừa đảo. Qui định về cho vay tín dụng vẫn là một qui định mở.
Trên thế giới, chỉ có một số quốc gia có quy định bắt buộc tổ chức tín dụng cho
khách hàng vay phải có bảo đảm bằng tài sản. Việc cho vay có bảo đảm bằng tài
sản hay không có bảo đảm bằng tài sản phụ thuộc vào quyết định của tổ chức tín
dụng.
Các tổ chức tín dụng căn cứ vào tính khả thi và hiệu quả của dự án, cũng
như sự tín nhiệm đối với khách hàng mà quyết định cho vay có bảo đảm bằng tài
sản hoặc không có bảo đảm bằng tài sản và tự chịu trách nhiệm về quyết định
của mình. Tuy nhiên, việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản có thể làm
cho tổ chức tín dụng dễ rơi vào tình trạng phá sản, bởi khi khách hàng vay
không duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn đến không có khả năng
hoàn trả vốn vay, lúc này ngân hàng sẽ khó có thể thu hồi được nợ bởi khoản
vay không được bảo đảm bằng tài sản nào cả.
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Từ thực tế đó, cùng với sự khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á 1997
-1998 thì việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản được chú trọng hơn. Ví dụ: “Tại
Thái Lan, đối với khoản vay có thời hạn 1 năm trở lên, ngân hàng thương mại có
vay, nhất là trong nền kinh tế nhiều biến động và phức tạp như nền kinh tế thị
trường hiện nay.
Trong trường hợp này thì biện pháp thế chấp tài sản là một biện pháp
pháp lý cần thiết, quyền lợi của bên cho vay sẽ luôn được bảo đảm, một khi có
sự vi phạm nghĩa vụ thì tài sản thế chấp sẽ được đem xử lý để thu hồi vốn vay.
3.2. Ý nghĩa của thế chấp trong việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ
Xét trong tổng thể các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì
biện pháp thế chấp tài sản là biện pháp bảo đảm có nhiều ưu điểm hơn so với
các biện pháp bảo đảm khác. Ngoài ý nghĩa nhằm củng cố kỷ luật của hợp đồng,
hạn chế các tiêu cực và tranh chấp có thể phát sinh từ việc không thực hiện
nghĩa vụ. Biện pháp thế chấp còn có ý nghĩa quan trọng đối với hai bên chủ thể
trong quan hệ thế chấp: bên thế chấp và bên nhận thế chấp.
Đối với bên thế chấp thì biện pháp thế chấp giúp bên có nghĩa vụ vừa có
vốn để sản xuất kinh doanh, lại vừa có thể tiếp tục khai thác công dụng, hưởng
hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp. Hơn thế nữa, bên thế chấp vẫn có thể sử dụng
tài sản đã thế chấp để thực hiện nghĩa vụ khác, nếu như tổng các nghĩa vụ được
bảo đảm không lớn hơn giá trị tài sản thế chấp.
Còn đối với bên nhận thế chấp, do không trực tiếp nắm giữ tài sản thế
chấp nên biện pháp thế chấp sẽ giúp cho bên có quyền không phải bỏ ra bất cứ
một khoản chi phí nào cho việc bảo quản và duy trì tài sản thế chấp. Khi có sự vi
phạm nghĩa vụ thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm và
được hưởng quyền ưu tiên thanh toán hơn so với các chủ nợ không có bảo đảm
từ tiền bán tài sản thế chấp.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THẾ CHẤP ĐỂ BẢO ĐẢM
THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRẢ NỢ TRONG HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
1. Những qui định chung về thế chấp
1.1. Chủ thể của thế chấp
1.2. Đối tượng của thế chấp
Không phải bất cứ tài sản nào cũng có thể đem thế chấp, một tài sản là đối
tượng của biện pháp thế chấp phải đáp ứng những yêu cầu của pháp luật đối với
tài sản bảo đảm. Trước tiên tài sản đó phải thuộc sở hữu của bên thế chấp hoặc
thuộc sở hữu của người thứ ba nhưng được người thứ ba đồng ý. Tài sản đó
không thuộc đối tượng bị kê biên, niêm phong, phong toả và được phép giao
dịch. Bên thế chấp phải mua bảo hiểm đối với tài sản nếu pháp luật có quy định.
Như vậy, đối tượng của thế chấp tài sản phải là những tài sản không bị cấm lưu
thông và bên thế chấp có đầy đủ ba quyền năng của chủ sở hữu: quyền chiếm
hữu, quyền sử dụng và định đoạt tài sản thế chấp đó.
Trước đây, Bộ Luật Dân Sự 1995 qui định, đối tượng thế chấp chỉ có thể
là bất động sản và một số tài sản nhất định như tàu bay, tàu biển. Theo quy định
Bộ Luật Dân Sự 2005 đối tượng thế chấp được mở rộng, không chỉ bó hẹp trong
qui định tài sản thế chấp là bất động sản nữa mà bao gồm cả động sản, quyền tài
sản, vật hiện có và vật hình thành trong tương lai. Tài sản đó có thể thuộc sở hữu
của bên có nghĩa vụ hoặc của người thứ ba trong trường hợp thế chấp bằng tài
sản của người thứ ba, với điều kiện phải có sự đồng ý bằng văn bản của người
thứ ba cho người có nghĩa vụ sử dụng tài sản đó làm vật bảo đảm.
Đối với tài sản thế chấp là bất động sản thì bất động sản đó phải thuộc sở
hữu của bên thế chấp. Điều 174 Bộ Luật Dân Sự 2005 qui định “Bất động sản
bao gồm đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả tài sản gắn
liền với nhà, công trình xây dựng đó, các tài sản khác gắn liền với đất đai và các
tài sản do pháp luật qui định”. Bên thế chấp khi thế chấp những bất động sản
trên họ phải có trách nhiệm chứng minh mình là chủ sở hữu hợp pháp của những
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tài sản đó, qua giấy tờ pháp lý như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy
chứng nhận quyền sở hữu.
Đối tượng thế chấp là động sản. Đây là qui định hoàn toàn mới của Bộ
Luật Dân Sự 2005. Qui định động sản là đối tượng của thế chấp đã tạo ra rất
di sản thừa kế chưa chia, ngôi nhà đang xây dựng.
Đối tượng thế chấp có thể là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản
xuất kinh doanh, tài sản đang cho thuê. Điều 345 Bộ Luật Dân Sự 2005 qui định
“tài sản đang cho thuê cũng có thể dùng để thế chấp”. Tuy nhiên khi thế chấp tài
sản đang cho thuê, bên thế chấp phải có trách nhiệm thông báo về việc tài sản
thế chấp đang được dùng để cho thuê. Điều 24 NĐ 163/2006/NĐ-CP quy định
“trường hợp thế chấp tài sản đang cho thuê thì bên thế chấp phải có trách nhiệm
thông báo về việc cho thuê tài sản cho bên nhận thế chấp”.
Đối tượng thế chấp có thể là tài sản được bảo hiểm “Trong trường hợp tài
sản thế chấp được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế
chấp” (Điều 346 BLDS 2005)
So với qui định về đối tượng thế chấp trong Bộ Luật Dân Sự 1995, đối
tượng thế chấp theo qui định Bộ Luật Dân Sự 2005 được mở rộng hơn rất nhiều.
Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho bên nhận thế chấp có thể duy trì và phát
triển hoạt động sản xuất kinh doanh một cách tốt nhất.
1.3. Hình thức và các trường hợp đăng ký thế chấp
1.3.1. Hình thức thế chấp
Điều 343 Bộ Luật Dân Sự 2005 qui định “Việc thế chấp tài sản phải được
lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng
chính”.
Như vậy, hình thức văn bản là hình thức bắt buộc của thế chấp tài sản.
Việc thế chấp tài sản bằng lời nói, hành vi không thể hiện bằng văn bản không
được pháp luật công nhận.
Những thoả thuận về thế chấp tài sản có thể được ghi thành một điều
khoản trong hợp đồng chính hoặc có thể được lập thành một văn bản riêng, nội
dung của văn bản đó phải gắn liền với hợp đồng chính, chủ thể của hợp đồng thế
chấp cũng là chủ thể trong hợp đồng chính. Điều 343 BLDS 2005 quy định
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
“trong trường hợp pháp luật có qui định thì văn bản thế chấp phải được công