1
LỜI NÓI ĐẦU
Nếu trong Kỷ nguyên nông nghiệp và Kỷ nguyên công nghiệp, vai trò
có tính quyết định hàng đầu thuộc về các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao
động cơ bắp, kỹ thuật, công nghệ và vốn, thì trong Kỷ nguyên thông tin, với
đặc trưng là nền Kinh tế tri thức, một trong những yếu tố có tính động lực đã
thuộc về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và kỹ năng cao.
Bước vào thế kỷ 21, các nước trên thế giới và trong khu vực đều đặt
trọng tâm vào việc phát triển nguồn nhân lực bản địa có kỹ năng cao và đề
ra các chính sách thu hút nhân tài khoa học và công nghệ (KH&CN) của thế
giới để đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế quốc gia và tăng cường khả năng
cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu. Trong đó, vấn đề giáo
dục và đào tạo về KH&CN cho học sinh ở ngay trong các trường phổ thông
có một ý nghĩa hết sức quan trọng.
Nhận thức được vấn đề trên, tháng 7 năm 2007, Tổ chức Văn hóa, Giáo
dục và Khoa học của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã đề xướng tổ chức Hội
nghị về Giáo dục KH&CN Thế giới. Hội nghị này đã đưa ra Bản tuyên bố
về giáo dục KH&CN, nhấn mạnh sự quan tâm sâu sắc về hiện trạng giáo
dục KH&CN toàn cầu. Để giúp nguời đọc hình dung được phần nào tầm
quan trọng của vấn đề này, Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia giới
thiệu Tổng luận “HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC KH&CN”,
được các chuyên gia của UNESCO nghiên cứu và biên soạn. Trong đó, trình
bày các vấn đề có liên quan tới việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
ở mọi cấp, thông qua việc đề xướng, hoạch định, tổ chức và tiến hành các
chương trình giảng dạy trên cơ sở khoa học trên thế giới và khu vực hiện
nay.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
TRUNG TÂM THÔNG TIN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
2
PHẦN I. GIỚI THIỆU
hơn của xã hội nói chung bị bỏ qua, thì những công dân sẽ nhầm lẫn giữa những gì nên ủng hộ
và những gì không nên ủng hộ và đó sẽ là những phản ứng bất lợi cho sự phát triển. Trong quá
trình đó, môi trường sẽ tiếp tục bị hủy hoại thay vì cần được bảo vệ. Phát triển bền vững và một
loạt vấn đề khác liên quan đến KH&CN có thể ảnh hưởng đến các xã hội theo những cách
thường tương tác mạnh mẽ, với những cách thức và giá trị truyền thống. Do vậy, hoạch định
3
những chính sách cho chúng sẽ gồm cả những quyết định đạo đức. Mọi học sinh cần được
chuẩn bị, thông qua việc giáo dục KH&CN cho họ, để tham gia tích cực, như những người
công dân có trách nhiệm, vào các vấn đề khoa học – xã hội. Mục tiêu này nói chung còn xa vời
tại thời điểm hiện nay, nhưng định hướng này hiện đã trở nên rõ rệt hơn nhiều.
Vấn đề tiên quyết thứ ba xuất phát từ những thay đổi là kết quả từ ứng dụng các công
nghệ số đang phát triển nhanh nhất, lan rộng nhất, và có thể là ảnh hưởng lan tỏa mạnh nhất
chưa từng có trong xã hội loài người. Tất cả chúng ta, dù sống ở bất kỳ nơi nào, đều là một
bộ phận của xã hội thông tin toàn cầu. Trao đổi thông tin và tiếp cận tới chúng, trước đây
mới chỉ nằm trong một nhóm ít người, thì nay đã có thể tiếp cận tới mọi cá nhân ở mọi nơi.
Điều này dẫn tới những thay đổi to lớn trong thế giới việc làm và trong cái mà chúng ta gọi
là xã hội tri thức. Việc học ở trường phổ thông hiện đang bị thách thức trước yêu cầu phải
góp phần vào phát triển trong học sinh các năng lực hay khả năng trên cơ sở kiến thức tổng
hợp hay theo chuyên ngành. Giáo dục KH&CN cần phải là bộ phận then chốt trong việc
phát triển khả năng trong học sinh cho thế giới việc làm và để sống một cách toàn diện hơn.
Khi gộp tất cả những vấn đề tiên quyết trên với nhau, khả năng cho giáo dục KH&CN
hiệu quả hơn sẽ có thể làm cho các công dân hài lòng, do vậy yêu cầu đối với các quyết
định chính sách trở nên vô cùng cấp bách.
Sự cấp bách này tuy ở mỗi nước một khác, nhưng nó cần có ở tất cả các nước, không
phụ thuộc vào tình trạng phát triển của họ ra sao. Ngày nay đang có một thực tế rõ ràng là ở
nhiều nước phát triển hơn lại có sự suy giảm sự quan tâm trong học sinh liên quan đế cả các
sự nghiệp dựa trên khoa học và coi khoa học là mối quan tâm suốt đời. Điều thứ nhất đe dọa
nền kinh tế và sức khỏe của xã hội. Còn điều thứ hai có nghĩa là những triển vọng không
sáng sủa cho sự thành đạt của các cá nhân, và cho nâng cao nhận thức mà cộng đồng cần
có, một xã hội dân chủ sẽ cố gắng tìm ra các giải pháp để đưa các vấn đề cá nhân, xã hội và
học thường diễn ra khi chương trình phổ thông phải đối mặt với những vấn đề và yêu cầu
cấp thiết hoàn toàn khác. Một Nghiên cứu Giáo dục khoa học (do Stake và Easley thực hiện
năm 1978) cho thấy các tài liệu đổi mới của Mỹ đã phải đấu tranh ra sao để được công nhận
ở các cấp trường phổ thông và các trường học khu vực, do có những ưu tiên khác nhau. Ở
cấp từng lớp học đơn lẻ, những yếu tố hoàn hoàn không lường trước cũng sẽ gây ra sự
chênh lệch giữa những gì mong muốn với những gì diễn ra trong thực tế.
Trong những năm sau đó, sai lầm trong việc đặt mức nhiệt tình lên hàng đầu để giảng
dạy khoa học thường xuyên lặp lại, mà không có sự phối hợp với những nhà hoạch định
chính sách ở các cấp thực thi và triển khai quyết định. Tuy nhiên, trong một số trường hợp
cũng có nhiều ví dụ tốt về sự hợp tác giữa các nhà hoạch định chính sách và những nhà đổi
mới giáo dục khoa học đã nâng cao được giảng dạy khoa học trong phổ thông.
Khi tầm quan trọng của việc trao đổi với các nhà hoạch định chính sách từng bước được
công nhận, các nhà giáo dục khoa học cần phải có các nền tảng tốt để tạo ra trong suy nghĩ của
những con người này rằng cần phải có sự thay đổi trong các thực tế giảng dạy KH&CN. Nhu
cầu thay đổi này cần được điều chỉnh bằng việc đưa ra các bằng chứng, mà các chính sách hiện
nay và sự triển khai của nó trong thực tế không đáp ứng được những mối quan tâm rộng rãi
hiện nay về giảng dạy khoa học trong trường phổ thông. Cuối cùng, các nhà giáo dục khoa học
cần phải tạo ra một số bằng chứng mà những thay đổi đang được ủng hộ sẽ thu hút được những
sự quan tâm đối với giáo dục KH&CN. Nói chung không dế dàng đưa ra bằng chứng cụ thể về
5
những thực tế chưa được phổ biến rộng rãi, vì vậy những bằng chứng này phải được rút ra từ
những trường hợp mang tính biểu thị chứ không phải tuyệt đối.
Những nhà nghiên cứu giáo dục khoa học thường có xu hướng coi Chính sách, Thực
hành và Đánh giá là các lĩnh vực nghiên cứu riêng rẽ. Mặc dù ở cuối mỗi báo cáo thường
ám chỉ nó sẽ được nghiên cứu thêm. Những ảnh hưởng đối với thực hành đôi khi cũng được
đem ra thảo luận, nhưng những nghiên cứu về giảng dạy khoa học ít khi được đề cập đến.
Tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ đáng lưu ý liên quan đến tiến bộ thực sự trong cấu trúc
chương trình giảng dạy và giáo trình sư phạm. Nghiên cứu có thể đóng góp tốt hơn nhiều
khi cả 3 lĩnh vực này được triển khai cùng nhau một cách hài hòa, và các cơ quan quản lý
giáo dục cần khuyến khích cho sự kết hợp này diễn ra thường xuyên hơn.
phải là những lý do như đã đề cập ở trên, mà là để đơn giản hóa sự chuyển dịch từ phổ
thông trung học lên trang bị kiến thức KH&CN trong trường đại học dựa trên các nghiên
cứu dành cho nhóm nhỏ những sinh viên ưu tú trong tương lai sẽ trở thành các nhà khoa
học, kỹ sư và bác sĩ thực hành.. Nội dung khoa học và các kinh nghiệm sư phạm hữu ích để
giảng dạy phục vụ cho mục tiêu quan trọng nhưng hạn chế này chưa nhất thiết phải là các
phương tiện giáo dục lý tưởng khi các mục tiêu giáo dục khác cho KH&CN cũng được ưu
tiên.
Do trong vòng 100 năm qua, khoa học chậm được đưa vào các chương trình giáo dục phổ
thông bậc tiểu học, nên mục đích ban đầu là nhằm duy trì yếu tố quyết định của nội dung và
các phương tiện của việc dạy và học. Vào những năm 1990, ở nhiều nước, KH&CN đã được
nhận thấy là cần có vị trí xứng đáng trong chương trình phổ thông từ lớp đầu tiên đến lớp cuối
cùng. Để điều chỉnh bổ sung KH&CN vào chương trình giảng dạy, nội dung học được liệt kê
theo các tuyến dọc, trải dài cho tất cả các năm học phổ thông, vẫn mang tinh thần khái niệm
mạnh mẽ đặc trưng cho sự chuẩn bị kiến thức khoa học của nhóm học sinh xuất sắc khi
chúng thuần túy là sự quan tâm và mục đích của khoa học trong trường phổ thông. Khoa học,
ở khía cạnh hàn lâm trong ý nghĩa của nó, dường như có khả năng phục vụ cho việc tạo ra các
loại hàng hóa hay mục đích khác nhau mà tất cả học sinh hiện đại cần có được khi học
KH&CN. Những mạch nội dung này chắc chắn cho ta cảm nhận rằng thứ tự học đã diễn ra và
7
đối với nhiều giáo viên dạy KH&CN ở phổ thông trung học, các nhánh này cũng giống như
những nghiên cứu chuyên môn của từng người. Mặt khác, chúng cũng là thách thức lớn đối
với nhiều giáo viên tiểu học có cơ sở kiến thức khoa học ít hơn nhiều.
Đối với nhiều sinh viên bằng chứng là những mạch nội dung dài này giống như những
nấc thang có độ khó tăng dần, không phân biệt mức độ quan tâm hay sự liên quan. Bằng
chứng ở nhiều nước cho thấy rằng hiện có ít học sinh hơn trước đây kiên trì trèo lên các nấc
thang khoa học này với lòng say mê nhiệt thành. Đạt được sự cân bằng đúng đắn giữa
những mục đích của các sinh viên có đủ say mê để theo đuổi các sự nghiệp KH&CN và
mang lại cho tất cả sinh viên sự quan tâm đối với hoa học và công nghệ, và lượng tri thức
KH&CN đủ để đánh giá được tầm quan trọng của KH&CN trong xã hội, có lẽ là vấn đề
giáo dục KH&CN chính mà tất cả các nước hiện đang phải đối mặt. Đó là sự cân bằng giữa
học và việc tìm hiểu này bao gồm những gì.
Khuyến nghị
A.1. Với vị trí ưu tiên hàng đầu, các nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc đâu là
những mục đích giáo dục mà giáo dục KH&CN có thể mang lại chi học sinh một cách tốt
nhất khi họ chuyển qua các giai đoạn học tập.
Khi các mục tiêu cụ thể này được nhận diện và xác định, những người xây dựng chương
trình cần phải hợp tác làm việc với các giáo viên để chọn ra các nội dung, và các phương
pháp giảng dạy và học tập, và các hình thức đánh giá phù hợp nhất để có thể đạt được mục
tiêu ở mỗi giai đoạn học tập.
Ở một số giai đoạn trong các năm phổ thông trung học, các nghiên cứu chuẩn bị quan
trọng về KH&CN cho tiếp tục học ở bậc đại học cần có như một học phần lựa chọn cùng
với các khóa để đáp ứng được mục đích kiến thức KH&CN mà mọi học sinh cần có khi kết
thúc bậc phổ thông.
Kỳ vọng
Quan điểm về những sự quan tâm của việc học và học sinh theo chiều ngang tạo ra một
cảm giác cụ thể nhất định cho các giáo viên ở những năm học đầu của bậc phổ thông, và có
triển vọng tăng cường mối quan tâm đến khoa học cho các học sinh.
Việc học KH&CN không nên liên tục gắn liền với một mục đích đơn nhất, và do vậy học
sinh có thể cảm thấy sự nhiệt tình mới thông qua các mục đích khác của nó.
Những yêu cầu
Các giáo viên khoa học phổ thông trung học cần được giúp đỡ trong việc thay đổi khái
niệm để cấu trúc lại chương trình giảng dạy khoa học, với sự thay đổi nội dung từ khoa học
hàn lâm chuyển sang khoa học trong ứng dụng vào thế giới thực của học sinh, nhưng bù lại,
họ sẽ nhận được sự tán thưởng của học sinh. Những tài liệu hỗ trợ cũng cần được phát triển
để dạy học theo những phương hướng mới này. Sự đánh giá dựa vào bối cảnh để củng cố
sự chú ý mới cũng phải được nghiên cứu phát triển cùng với các kỹ năng của giáo viên sử
dụng chúng một cách chính thức trong công việc giảng dạy của họ.
9
2. Vấn đề thứ hai (B): Sự tiếp cận và công bằng trong giáo dục khoa học
Thông tin cơ sở
việc tiếp tục nghiên cứu khoa học tự nhiên và do vậy những lựa chọn của trẻ gái đối với
giáo dục và nghề nghiệp bị hạn chế nghiêm trọng.
Giáo dục KH&CN với những mong đợi truyền thống về nội dung và phương pháp sư
phạm lại thường bỏ qua những khác biệt về văn hoá của một số nhóm dân tộc thiểu số trong
10
giáo dục ở trường học. Khác biệt về sử dụng ngôn ngữ của các nhóm này so với các nhóm
khác có ảnh hưởng nhiều hơn có thể dẫn đến việc ngôn ngữ khoa học ở trường học lại là
nguồn gốc của sự bất lợi. Cần phải chú ý đến những nét đặc thù của các cách mô tả và diễn
đạt trong khoa học nhằm hỗ trợ cho sự tiếp cận với giáo dục của các sinh viên thuộc các
nhóm này.
Nói chung, các chính sách của chính phủ thường làm cho bất lợi trong giáo dục trở nên
tồi tệ hơn về mặt địa lý hoặc do khuyến khích các trường học tư. Rất nhiều lớp học về
KH&CN thường do các giáo viên không có đủ kiến thức cơ bản về các lĩnh vực đó giảng
dạy. Thiếu kỹ năng, tri thức khoa học và sự tin cậy vào đội ngũ giáo viên này đã khiến số
sinh viên đáng được hưởng sự giáo dục về KH&CN giảm đi. Thay vì tập trung vào các
nguồn lực dành cho phát triển nghề nghiệp nhằm khắc phục về mặt lâu dài những hạn chế
của giáo viên, các nguồn lực này thường được đầu tư vào các chương trình ngắn hạn, mang
lại lợi ích lớn hơn cho các giáo viên KH&CN và các trường mà các chương trình này tập
trung vào. Tính công bằng không được giải quyết và vì vậy hệ thống giáo dục càng làm tồi
tệ hơn sự thuận lợi mà các sinh viên từ có điều kiện sinh tế xã hội tốt hơn mang lại.
Sự không hòa hợp về văn hóa
Các khác biệt về văn hóa là một trường hợp khác khi có các rào cản về sự tiếp cận và
tính công bằng trong giáo dục. Hiện nay, có một cơ quan chuyên nghiên cứu về các vấn đề
đi kèm liên quan đến sự tham gia của các sinh viên bản địa vào giáo dục KH&CN. Đáng
chú ý là ở một số nước châu Phi và các nước khác như New Zealand, Canađa, Hoa Kỳ,
Ôxtrâylia và NaUy, các sinh viên bản địa ít thành công hơn so với các sinh viên từ các nền
tảng xã hội có ưu thế hơn. Đáng tiếc là gia đình truyền thống của các sinh viên bản địa này
lại là kho tri thức lớn về thế giới tự nhiên qua những quan sát và thử nghiệm qua nhiều thế
hệ. Tri thức này và các giá trị kèm theo nó thường được thể hiện theo những cách rất khác
với việc sử dụng chúng trong khoa học hiện đại. Tri thức còn thu được theo các cách rất
B.2 Các nhà hoạch định chính sách phải xem xét lại sự tham gia của trẻ gái và trai vào
giáo dục KH&CN; theo đuổi thực hiện các hành động làm giảm bớt các nhân tố rõ ràng và
ngầm ngầm gây bất lợi cho sự tiếp cận của những trẻ em gái đối với các lĩnh vực KH&CN
như sự quan tâm và nghề nghiệp liên quan đến KH&CN .
Kỳ vọng
“Một nửa bị lãng quên” trong lĩnh vực KH&CN gồm trẻ em gái và phụ nữ lần đầu tiên
được ghi nhận vào những năm 1980. Mặc dù đã đạt được những tiến bộ nhưng vẫn còn có
những cơ hội thực sự khác ở hầu hết các nước nhằm đưa một nửa nhân loại vào các lĩnh
vực lớn cần nhiều nỗ lực của con người. Giáo dục KH&CN khuyến khích và thu hút cả trẻ
gái và trai, mang lại những lợi ích to lớn cho bất kỳ một quốc gia nào.
Các yêu cầu
Cần có một nghiên cứu về những tình trạng rõ ràng và không rõ ràng, trong đó thể hiện
sự phân biệt đối xử đối với trẻ em gái trong việc tiếp cận với giáo dục KH&CN. Cần có
những thay đổi về điều kiện cơ cấu nhằm tăng sự công bằng về giới, cần tiếp tục phát triển
ngành nghề để tạo ra các nhà xây dựng chương trình giảng dạy và giáo viên biết được cách
làm thế nào để xóa đi sự mất công bằng về giới.
12
B.3. Các nhà ra chính sách cần cân nhắc các giải pháp giải quyết những bất lợi về văn
hóa mà một số nhóm sinh viên sẽ phải trải qua trong giáo dục KH&CN. Ví dụ, khoa học
hiện đại có thể được giảng dạy là một công cụ tri thức chung, có tác động mạnh đến sự hiểu
biết và vận hành thế giới tự nhiên, nhưng đó cũng là nguồn quan trọng và là các cách thức
thể hiện sự hiểu biết về thiên nhiên đã được thừa nhận và đánh giá.
Kỳ vọng
Sự công nhận về văn hóa có thể giúp các sinh viên bản địa tham gia vào khoa học hiện
đại mà không cảm thấy bị bỏ rơi bởi đặc điểm văn hóa của họ.
Các yêu cầu
Nhiều giáo viên về khoa học sẽ cần phải nâng cao chuyên môn nhằm hiểu và tôn trọng
tri thức bản địa. Các chiến lược trong dạy và học của giáo viên cũng cần mở rộng hơn để
đánh giá một cách lạc quan lợi ích đối với các sinh viên bản địa.
13
nó không liên quan đến cuộc sống hàng ngày. Khoa học qua các bộ phim và truyền thông
đại chúng thường thu hút hơn, nhưng đó không phải là khía cạnh khoa học mà chúng ta
học ở nhà trường. Có những chủ đề khoa học có thể rất thú vị, nhưng không có trong
chương trình giảng dạy trong nhà trường.
14
- Học về khoa học là tương đối khó, với cả các học sinh thành công và không thành
công.
Khoa học khó hơn một số chủ đề khác, và nhất là khi so sánh với các chủ đề khác ban có
thể lựa chọn một chủ đề vào những năm cuối ở nhà trường.
- Vì lý do đó, nên hiện nay có nhiều sinh viên khi nghĩ đến việc học ở trung học đã nói:
Tại sao tôi lại phải tiếp tục nghiên cứu các vấn đề về khoa học trong khi có nhiều vấn đề
khác hấp dẫn, có tính tương tác và ít khó hơn để nghiên cứu.
Hơn nữa, hiện nay có bằng chứng cho thấy học sinh đang đưa ra các quyết định
không lựa chọn khoa học ở những năm cuối tiểu học, cho dù còn rất lâu nữa các
trường mới đưa ra tư vấn về nghề nghiệp.
Nhằm nhấn mạnh những vấn đề gây xáo trộn này, năm 2006, Dự án PISA đã bổ
sung hai vấn đề gây ảnh hưởng của khoa học, đó là sự quan tâm của cá nhân đến khoa
học và sự ủng hộ cho khoa học trong tuyên bố mục tiêu của dự án về trình độ hiểu biết
khoa học, đồng thời đưa ra các mục nhằm đo lường hai mức độ trên (xem Cơ sở khung
PISA 2006, OECD). Đây là một nỗ lực có cân nhắc nhằm chỉ ra rằng mức quan tâm
của cá nhân và xã hội đối với khoa học chính là từ các kết quả mong đợi từ việc giảng
dạy khoa học trong nhà trường. Tháng 12/2007, các kết quả ở cấp quốc tế và quốc gia
của dự án ở hơn 50 nước sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về vấn đề này.
Cuốn sách Giáo dục Khoa học cho cuộc sống hàng này của Aikenhead (2005) đã
đối chiếu thuật ngữ “Khoa học trong nhà trường theo kiểu truyền thống” với một
thuật ngữ mà tác giả đưa ra là “Khoa học trong nhà trường theo chủ nghĩa nhân văn”.
Đặc điểm thiếu tính nhân văn của thuật ngữ thứ nhất trái ngược với sự thừa nhận rõ
ràng về khoa học của thuật ngữ thứ hai cho rằng khoa học là một công trình vĩ đại của
nhân loại trong lịch sử khai hóa. Mỗi khái niệm và nguyên tắc trong các cuốn sách về
khoa học được ghi nhận là kết quả của các sự kiện lớn của nhân loại. Trong thuật ngữ
câu chuyện khoa học trong học sinh. Phát triển chuyên môn của các giáo viên
KH&CN cần phải là ưu tiên để sao cho có thể sử dụng được các bối cảnh thế giới thực
tế trong giảng dạy để tối ưu những kết quả học tập.
Cần phát triển các hình thức đánh giá từng phần và đánh giá tổng kết khuyến khích
nhận thức kèm theo tác động của KH&CN.
16
4. Vấn đề thứ tư (D): Công nghệ có liên quan thế nào với giáo dục khoa học
Thông tin cơ sở
Để cho phù hợp với sự công nhận UNESCO/ICASE trước đây vào năm 1994 về tầm
quan trọng của mối liên kết giữa KH&CN trong xã hội, bản Tuyên ngôn Perth đã lặp lại
mối quan hệ này. Đây là một sự điều chỉnh quan trọng đối với việc tách biệt giữa KH&CN
vốn có trong các chương trình giảng dạy quốc gia diễn ra ở những năm 1990. Trong các
chương trình giảng dạy này, tiêu đề Technology (Công nghệ) được sử dụng để diễn đạt cho
sự công nhận mới, như thiết kế, giải quyết và nhận dạng vấn đề, được coi là đặc điểm thực
hành của các môn học như Craft and Design (thủ công và thiết kế), Woodwork (nghề làm
các đồ gỗ), Metalwork (nghệ thuật bằng kim loại), Home Economics (Kinh tế gia đình),
Industrial Arts (Mỹ thuật công nghiệp), ... Khả năng mà máy tính có thể chuyển hóa các
môn học thực hành này lại càng biện minh rằng, các đặc điểm thực hành này cần được xuất
hiện như một Lĩnh vực Học hỏi then chốt mới. Theo khía cạnh này, môn học mới
Technology (Công nghệ) đã là một lĩnh vực hoàn toàn tách rời khỏi Science (Khoa học) và
các giáo viên dạy môn khoa học thường không phải là giáo viên của môn này. Tuy nhiên, ý
nghĩa phổ biến của từ Công nghệ, như là những ứng dụng của Khoa học lại hoàn toàn thích
hợp với lĩnh vực của các giáo viên giảng dạy khoa học. Đây chính là điều mà “Giáo dục
KH&CN” muốn đề cập đến.
Tuy nhiên, việc gọi môn học mới này bằng từ ngữ “Công nghệ” lại là điều bất hợp lý với
những phát triển diễn ra trong giáo dục khoa học. Vào cuối những năm 1980, các nhà giáo
dục khoa học đổi mới đã phát triển các tài liệu giúp cho các giáo viên khoa học có thể đưa
vào giảng dạy cả các ứng dụng của khoa học dưới dạng các công nghệ. Các dự án như
Science and Technology in Society (SATIS), PLON (về Vật lý), LORST, Salters Science, vì
vậy đã cung cấp các giáo viên bằng cách làm cầu nối giữa việc giảng dạy và học tập khoa
đánh giá khoa học thường có khuynh hướng yêu cầu.
Sau năm 2000, một báo cáo được công bố ở Anh và xứ Wales cuối năm 1998 đã khuyến
nghị về việc giảm nội dung chi tiết nhằm làm sâu thêm mức độ học tập và đã yêu cầu tái
liên kết giữa KH&CN như một cách thức quan trọng để cải thiện mối quan tâm của học
sinh, tính xác thực của khoa học và ý nghĩa khái niệm của nó. Sự nổi lên trong những năm
này của các lĩnh vực khoa học lý thú mới với các tiêu đề như Công nghệ gen, Công nghệ
sinh học, Công nghệ nano và Công nghệ vật liệu đã làm nổi bật sự vô nghĩa trong các quyết
định giáo dục tách rời KH&CN thành những lĩnh vực khác nhau trong giảng dạy tại các
trường học.
Khuyến nghị
Các nhà hoạch định chính sách cần đảm bảo rằng giáo dục khoa học được xúc tiến
hướng tới một thế giới thực (như đã thực hiện ở một số nước), theo cách tiếp cận “dựa trên
ngữ cảnh” trong giảng dạy và học tập khoa học ở mọi cấp thuộc các chương trình giảng dạy
trong các trường phổ thông.
Cần nhấn mạnh rằng phong trào này sẽ tiếp tục được xây dựng dựa trên nền tảng cơ sở
khái niệm khoa học, nhưng với những ích lợi bổ sung thêm từ sự học hỏi ở mức độ sâu hơn
do việc học tập theo khái niệm sẽ được nắm vững tới mức có thể áp dụng trong những tình
huống mới lạ.