Bài tập nhóm Chính sách xóa đói giảm nghèo: Định nghĩa về nghèo đói và chuẩn nghèo ở Việt Nam - Pdf 14

1 Bài tập nhóm môn: Chính sách xóa đói giảm nghèo
ĐỊNH NGHĨA VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ
CHUẨN NGHÈO Ở VIỆT NAM
2

1. Nghèo đói
1.1 Định nghĩa về nghèo đói
Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về nghèo nhưng phổ biến hơn cả là “nghèo tuyệt
đối” và “nghèo tương đối”.
* Theo nghĩa tuyệt đối, nghèo khổ là một trạng thái mà các các nhân thiếu những nguồn lực thiết
yếu để có thể tồn tại. Khái niệm này nhằm vào phúc lợi kinh tế tuyệt đối của người nghèo, tách
rời với phân phối phúc lợi của xã hội. Điều này có nghĩa là mức tối thiểu được xác định bằng
ranh giới nghèo khổ. Ranh giới nghèo khổ phản ánh mức độ nghèo khổ của một tầng lớp dân cư
nhất định trong thời gian nhất định. Nó thay đổi cùng với sự phát triển kinh tế và những chính
sách điều chỉnh xã hội trong các kế hoạch chung và dài hạn của quốc gia. Ranh giới nghèo khổ
có thể được xếp theo cách tiếp cận “ đáp ứng nhu cầu cơ bản”, trong đó chỉ rõ mức dinh dưỡng
tối thiểu và những nhu cầu thực phẩm khác.
Ích lợi của việc sử dụng phương pháp tiếp cận nghèo tuyệt đối là có thể theo dõi những thay đổi
tình trạng phúc lợi của
* Theo nghĩa tương đối nghèo là tình trạng thiếu hụt các nguồn lực của các cá nhân hoặc nhóm
trong tương quan của các thành viên khác trong xã hội, tức là so với mức sống tương đối của họ.
Như vậy, nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung

nghèo tương đối. Tác giả cho rằng, gia đình có thể có đủ nguồn lực để tồn tại nhưng điều đó
không có nghĩa là họ có đủ điều kiện để mặc ấm và có thể mua được những vật dung lâu bền mới
hay để tham gia vào các hoạt động xã hội và giải trí như những gia đình khác, do đó bị loại ra
khỏi “đời sống bình thường của cộng đồng”.
Những giải thích Marxist nhấn mạnh nguyên nhân gây ra nghèo đói là chủ nghĩa tư bản và lợi
nhuận của các nhà tư bản trên phạm vi quốc gia và quốc tế. Chủ nghĩa tư bản dựa trên sự bóc lột
sức lao động, do sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và những yêu cầu đặc thù của giới tư bản nên
nảy sinh nhu cầu sử dụng lao động rẻ mạt và nảy sinh sức ép hạ thấp tiền lương và nó cũng đòi
hỏi phải giữ mức thất nghiệp cao và giảm thiểu trợ cấp phúc lợi nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
Nhận định này có nghĩa là mức nghèo là một chức năng thuộc bản chất của tổ chức kinh tế, là
một chức năng của quá trình phân phối của cải và trợ cấp phúc lợi. Nghèo khổ không nhất thiết
cần cho hoạt động trôi chảy của thị trường nhưng nó có thể có lợi về chính trị và kinh tế cho nhà
cầm quyền để theo đuổi những chính sách nhằm tăng cường bất bình đẳng và nghèo khổ hơn là
nhằm loại trừ những yếu tố ấy.
Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại
Băng Cốc tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm và định nghĩa về nghèo đói. Theo Hội nghị “Nghèo
đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của
con người đã được xã hội thừa nhận thùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục
tập quán của các địa phương”. Có thể xem đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói, trong đó
các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá về nghèo đói còn để ngỏ về mặt lượng hóa, bởi nó chưa tính
đến những khác biệt và độ chênh lệch giữa các vùng, các điều kiện lịch sử cụ thể quy định trình
độ phát triển ở mỗi nơi.
4

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen ở Đan Mạch năm
1995 đã đưa ra một số định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau:
“Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số
tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Ngoài ra, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên
gia hàng đầu Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)- ông Abapia Sen, người được giải thưởng Nooben

của cộng đồng. Nghèo đói thường được phản ánh dưới ba khía cạnh:
+ Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người
+ Mức sống thấp dưới mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú.
+ Không được hưởng cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng
Ngưỡng nghèo hay mức nghèo
2
, là mức chi dùng tối thiểu, được xác định như tổng số tiền chi
cho giỏ hàng tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tối thiểu lương thực thực
phẩm và đồ dùng cá nhân, cần thiết để bảo đảm cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng
thành, và các khoản chi bắt buộc khác.
Người ở ngưỡng nghèo là người có tổng thu nhập tương đương với tổng chi dùng tối thiểu đó.
Khi nói đến đói nghèo là nói đến cá nhân con người, nhưng khi xây dựng chuẩn mực nghèo đói
thì lại phải đặt con người trong khuôn khổ hộ gia đình để xem xét, do vậy trước hết cần hiểu thế
nào là hộ nghèo? “Các hộ có thu nhập bình quân tính theo đầu người nằm dưới giới hạn nghèo
được gọi là hộ nghèo. Theo đánh giá chung của nhiều nước, hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung
bình của xã hội là hộ nghèo”. Với quan niệm này, mức độ nghèo đói ở mỗi nước có trình độ phát
triển kinh tế và thu nhập theo đầu người khác nhau sẽ khác nhau. Như vậy, quy mô nghèo đói
của một vùng, một quốc gia được xác định bằng tỉ lệ số hộ nghèo đói trên tổng số hộ dân cư
thuộc vùng hoặc quốc gia đó.
Nhiều nước trên thế giới ấn định ngưỡng nghèo thành một điều luật. Ở các nước phát triển
ngưỡng nghèo cao hơn đáng kể so với các nước đang phát triển. Hầu như mọi xã hội đều có các
công dân đang sống nghèo khổ. Trên đây là những định nghĩa khác nhau về đói nghèo, bởi như
đã nói ở trên đói nghèo không có một tiêu chuẩn hay chuẩn mực chung nào cho tất cả các quốc
gia. Đói nghèo là một khái niệm động, nó còn thay đổi theo thời gian và không gian để định
nghĩa ngày càng hoàn thiện hơn.
- Tỷ lệ nghèo của xã hội

2
Vi.wikipedia.org 2010, Định nghĩa về Ngưỡng nghèo. Truy cập ngày 02 tháng 12 năm 2011, từ


3

thì: Nhận thức về nghèo khác nhau giữa các tầng lớp dân cư và các vùng. Người dân địa phương
có sự so sánh khá chính xác về mức sống của các hộ gia đình trong làng; họ không đánh giá

3
Đánh giá nghèo theo vùng tại vùng ven biển miền Trung và Tây Nguyên . 2003.
7

nghèo theo những cơ sở chuẩn nghèo của quốc gia. Nghèo ở đây không chỉ đơn thuần là nghèo
về mặt thu nhập hay dinh dưỡng mà còn tương đối toàn diện hơn theo quan niệm của người dân.
Những hộ khá giả có quan niệm về nghèo khác với những hộ nghèo. Tuy nhiên, những người
khá giả và người nghèo vẫn có quan điểm chung về tình trạng nghèo. Thông qua việc đánh giá
bằng thang đo từ 1-10 các tiêu chí sau, người ta có thể xác định được hộ nghèo. Các tiêu chí có
ảnh hưởng đến giảm thu nhập, đời sống của từng hộ thuộc diện hộ nghèo:
 Mất nguồn thu nhập chính do bị mất mùa, thiên tai, dịch bệnh, rủi ro trong
SXKD mà không có khả năng phục hồi và thiếu nguồn hỗ trợ từ họ hàng, người thân
 Lao động chính chết hoặc mất khả năng lao động lâu dài làm ảnh hưởng nghiêm
trọng tới TN của hộ
 Bán đất lo cho người bị ốm đau, bệnh nặng kéo dài hàng tháng
 Có trẻ em trong độ tuổi đi học phải bỏ học vì không có tiền
 Hộ có người vướng vào ma tuý, cờ bạc, nghiện rượu, trích hút bệnh xã hội
 Mới tách hộ hoặc thêm con nhỏ không có thêm nguồn thu nhập
 Gặp rủi do, phải bán đồ dùng gia đình, công cụ sản xuất để trang trải các bữa ăn
hàng ngày
 Một số rủi ro khác (như mất tài sản )
Hộ có khả năng rơi xuống nghèo là hộ có tổng số điểm từ 10 điểm trở lên.
Đoàn RPGA
4
đã nhận thấy rằng có sự khác biệt giữa những nhóm người khác nhau trong nhận

ng
người nghèo

4
Tháng 5 năm 2002, Chính phủ Việt Nam đã hoàn thành Chương trình toàn diện về Tăng trưởng và Giảm
nghèo (CPRGS) và bắt đầu quá trình triển khai thực hiện CPRGS ở cấp địa phương. RPGA là: Báo cáo nghèo
và quản trị nhà nước có sự tham gia của người dân.

8

Là ngư

i nghèo có ngh
ĩa l
à không có nhà g

ch,
không có vốn để kinh doanh, không có kinh
nghiệm kinh doanh, không có những tài sản có
giá trị như tivi hoặc xe đạp, thường xuyên bị
ốm, già và cô đơn, sở hữu một vài gia súc, có
mảnh đất nhỏ và cằn cỗi, có nhiều con nhỏ,
mất những lao động chính, mất mùa hoặc có
thuyền đánh cá không may mắn, không có đủ
thức ăn cho quá hai tháng và phải nhặt củi
để bán.

M

t h

độ phát triển khác nhau, có nền văn hoá hay lối sống không giống nhau.
Vì vậy đã xuất hiện những nghiên cứu định tính nhằm xác định những đặc trưng của người
nghèo dựa trên toàn bộ lối sống, quan niệm, lối ứng xử thường ngày của họ Chính từ đây, thuật
ngữ “nền văn hoá nghèo khổ” (the culture of poverty) đã ra đời thông qua các công trình nghiên
cứu định tính về người nghèo đô thị tại Mexico và Puerto Rico của nhà xã hội học - nhân học
người Mỹ Oscar Lewis. Nền văn hoá nghèo khổ là một “mô hình sinh sống” (design of living)
9

của người nghèo được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, mô tả bức tranh đời sống của người
nghèo mà theo đó, nhóm người nghèo thường có những đặc trưng sau:
- Luôn sống trong tâm trạng bị gạt ra bên lề và không thuộc về xã hội.
- Luôn cảm thấy xa lạ ngay trên chính quê hương mình và thường tin rằng các thiết chế xã hội
hiện hữu không thoả mãn những mong đợi và nhu cầu của họ.
- Luôn cảm thấy không được trợ giúp, giúp đỡ đủ; tình trạng thất nghiệp cao, lương thấp.
- Luôn nghĩ rằng mình ở vị trí thấp kém trong thang bậc xã hội, cảm thấy chẳng có quyền lực
hay tiếng nói gì trong xã hội và chẳng xứng đáng với xã hội.
- Không có cái nhìn dài hạn mà luôn chọn thái độ sống vì cái hiện tại, cái trước mắt.
- Tin tưởng mạnh mẽ vào định mệnh.
- Về đời sống gia đình, nét nổi bật là tỉ lệ ly hôn cao, trẻ em và phụ nữ bị bỏ rơi, do đó gia đình
thường trở thành kiểu gia đình “mẫu hệ”.
- Có xu hướng kết hôn rất sớm, làm cha mẹ ở độ tuổi thanh niên (teen parents); hôn nhân chủ
yếu là “cặp đôi tự do”, có khi là cùng huyết thống.
- Nhiều thế hệ sống chung nên qui mô gia đình thường lớn.
- Cha mẹ thường lạm dụng quyền lực trong quá trình nuôi dạy con cái, rất ít có sự truyền thông
với con cái, con cái thường bị đánh đập.
- Trẻ em gần như không biết đến giai đoạn tuổi thơ do phải tham gia lao động rất sớm và thường
có kinh nghiệm tình dục rất sớm.
- Thường không quan tâm đến nền giáo dục chính thức, vì vậy con cái họ ít được trang bị những
kỹ năng để thành công trong xã hội.
- Có rất ít ý thức về lịch sử, thường chỉ biết đến những vấn đề của mình, hàng xóm của mình, lối

người, tài sản vật thể và tài chính.
- Tài sản thiên nhiên bao gồm nguồn tài nguyên có ích cho cuộc sống con người như: rừng,
nước, đất đai, cá và khoáng sản. Những nguồn tài nguyên này hợp thành môi trường.
- Tài sản xã hội chỉ mối quan hệ tin cậy, có đi có lại hỗ trợ cho hoạt động tập thể; mối quan hệ
thành viên trong nhóm chính thức và phi chính thức; và các mạng lưới giúp mọi người làm việc
cùng nhau và tiếp cận được các thể chế và dịch vụ. Luật chính thức (có tính luật pháp hay tôn
giáo) và không chính thức (Luật tục và luật mang tính địa phương) cũng là những dạng tài sản xã
hội.
- Tài sản con người là một khái niệm chỉ kỹ năng, kiến thức, niềm tin, quan điểm, khả năng làm
việc và sức khỏe cho phép con người theo đuổi chiến lược sống của mình.

5
Tintuc.xalo.vn, Nhận diện người nghèo, truy cập ngày 18/12/2011, từ />765989969/Nhan_dien_nguoi_ngheo.html
11

- Tài sản vật thể chỉ những cơ sở vật chất cơ bản và những công cụ sản xuất cần thiết cho việc
đảm bảo cuộc sống như đường giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống vệ sinh, nhà ở, năng
lượng và dịch vụ.
- Tài sản tài chính chỉ những nguồn lực tài chính mà người nghèo có bao gồm những khoản tiền
(Ví dụ: tiền tiết kiệm, khoản vay) hay những nguồn tiền thường xuyên (Ví dụ lao động làm thuê,
chuyển khoản, trợ cấp, v.v).
Cơ hội là một trong những kênh quan trọng nhất để giảm nghèo. Cơ hội có thể được xem là sự
kết hợp giữa hai yếu tố: sở hữu tài sản (ít nhất là tiếp cận với tài sản) và lợi tức thu được từ tài
sản đó. Nhiều khi tài sản của người nghèo chỉ là sức lao động. Nhưng nếu không có được những
công việc trả lương tốt, thì một mình tài sản này không đủ để đảm bảo thu nhập cho họ. Những
tài sản chính khác gồm tay nghề, đất đai, sức lực và môi trường. Một trong những điểm mạnh
của Việt Nam là đảm bảo trình độ học vấn tương đối cao của người dân, bao gồm một bộ phận
lớn những người nghèo. Thông qua quá trình cải cách đất đai, cac hộ nông thôn ở đồng bằng đã
có quyền sử dụng đất. Đã có những nỗ lực đáng kể nhằm cung cấp tài chính quy mô nhỏ cho các
hộ nghèo. Tuy nhiên thị trường đất và vốn vẫn còn kém phát triển ở Việt Nam, trong khi đó hội

không chính thức đó là các chương trình xóa đói giảm nghèo chủ yếu mang tính trợ cấp, những
nguồn tín dụng khác là Ngân hàng chính sách xã hội cho người nghèo và Ngân hàng nông ngiệp
và phát triển nông thôn cho nông dân, mô hình tiết kiệm vay vốn với sự hỗ trợ cảu các tổ chức
phi chính phủ trong nước, các tổ chức quần chúng nhưng số lượng này còn rất hạn chế. Những
người dân thuộc hộ nghèo lại thường xuyên phải tiếp cận với các nguồn tín dụng phi chính thức.
Quy mô của các tổ chức tín dụng phi chính phủ chỉ chiếm 5% trong tổng số các nguồn tín dụng ở
Việt Nam, khu vực tài chính không chính thức tiếp tục đóng vai trò lớn, việc những hộ nghèo
không có tài sản thế chấp sẽ bị hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn vốn này là chuyện không
thể tránh, do không được tiếp cận nguồn tài chính phục vụ cho sản xuất nên họ không có khả
năng xóa đói, giảm nghèo vì sản xuất và nguồn đầu tư cho sản xuất không được mở rộng

1.4.4. Kỹ năng tay nghề
Người nghèo thường có trình độ học vấn thấp, không được đào tạo chuyên sâu, vậy nên họ
không có kỹ năng tay nghề. Trong hoàn cảnh kinh tế hiện nay, kỹ năng tay nghề được xem như
là một trong những điều kiện cần và đủ thiết yếu để người lao động nâng cao thu nhập, đặc biệt
là người nghèo. Khi không có tay nghề, họ- những người nghèo sẽ chỉ được làm những công
việc với thu nhập thấp, không có nguồn tích lũy để thoát nghèo, họ rơi vào vòng nghèo đói như
là một sợi dây quàng cổ. Trình độ tay nghề của người dân quyết định số thu nhập mà họ có được
hàng tháng. Người lao động có tay nghề thường có thu nhập cao hơn là người lao động không có
13

tay nghề. Tuy nhiên, yếu tố về trình độ tay nghề bị quyết định bởi yếu tố giáo dục. Một người lao
động được đào tạo bài bản khác làm việc luôn có năng suất hơn là người lao động không được
đào tạo. Nghèo là yếu tố quan trọng trong việc đến trường của người dân. Khoảng cách giữa
người giàu và người nghèo trong xã hội cũng được thể hiện bằng việc mà họ có được đến trường
hay không và có được theo học đến trình độ nào. Học tập mang lại nhiều lợi ích trong đó có cả
lợi ích kinh tế. vì vậy, nhà nước cần có những chính sách phù hợp nhằm mở cửa giáo dục và
mang giáo dục đến với tất cả người dân trong cả nước. Học tập là cách thoát nghèo dễ nhất.

1.4.5. Việc làm

dầu lan tràn trên mặt nước cùng với rác thải công nghiệp có mà sinh hoạt cũng có. Hàng năm, có
hàng triệu người chết vì động đất, song thần, lũ lụt. Hàng loạt những bệnh lạ và những căn bệnh
ung thư nguy hiểm đã và đang tìm đến con người. Tất cả những điều đó đều là hậu quả mà con
người gây ra – tàn phá thiên nhiên, môi trường sống của chính con người. Ngày nay, nhận thức
được những hành động của mình, con người cũng đã có những chương trình phát triển bền vững
nhằm bảo vệ môi trường cũng là bảo vệ chính sự sống của mình. Cần phải có những chính sách
thiết thực và cứng rắn để con người biết trân trọng và quý trọng những gì mà môi trường sống
mang lại cho chính bản thân mình và toàn nhân loại.

1.4.7. Mối quan hệ
Thứ hai, có thể nhìn nhận nghèo đói như một "tập hợp các mối quan hệ”. Điều này có nghĩa là
nghèo đói không chỉ biểu hiện tình trạng sống mà còn là một tập hợp các mối quan hệ giữa người
nghèo và người không nghèo. Người nghèo cạnh tranh với nhau và cạnh tranh với những người
không nghèo để giành quyền kiểm soát các tài sản. Tương tự, nói đến quyền sở hữu là ít nói đến
sự kiểm soát của con người đối với các nguồn lực mà nói nhiều hơn về mối quan hệ giữa con
người với nhau trong việc kiểm soát nguồn lực. Nghèo đói cũng vậy, nó biểu hiện mối quan hệ
giữa người nghèo và người không nghèo đối với tài sản. Những mối quan hệ này không thể
không gắn với những vấn đề quyền ngắn hạn và dài hạn liên quan trực tiếp đến sự tiếp cận và
kiểm soát đối với nguồn lực. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ nguồn lực
cũng như trng việc phân bố và bảo vệ các quyền. Do vậy, chính sách nhà nước có vai trò quan
trọng trong xóa đói giảm nghèo độc lập với sự đầu tư của nhà nước trong việc cải thiện cơ sở tài
sản mà người nghèo phụ thuộc vào. Sự phân bố lại các nguồn lực – thông thường có ý nghĩa đối
với việc cải thiện các lựa chọn sống của người nghèo – có thể là một quá trình mang lại các lợi
ích trái ngược nhau và cũng có thể mang lại lợi ích cho tất cả các bên. Quan niệm về nghèo đói
như một tập hợp các mối quan hệ là đặc biệt quan trọng khi thấy rằng bất cứ một tài sản nào
15

cũng do những nhóm người khác nhau quản lý, trong đó một số là người nghèo, một số khác
không nghèo. Do đó, chỉ tập trung vào người nghèo mà không gắn họ với những nhóm người
khác sẽ không chỉ bỏ qua những vấn đề công bằng và bình đẳng mà còn là sự thiếu thận trọng về

16

túy (thu nhập bình quân, calorie, v.v…) và cách hiểu theo chuẩn xã hội. Tại Việt nam ngưỡng
nghèo được đánh giá thông qua chuẩn nghèo, dựa trên các tính toán của các cơ quan chức năng
như Tổng cục Thống kê hay Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (MOLISA). Chuẩn nghèo của
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội được xác định một cách tương đối bằng cách làm tròn số
và áp dụng cho từng khu vực và vùng miền khác nhau (nông thôn miền núi, hải đảo, nông thôn
đồng bằng, thành thị).
Chuẩn nghèo theo Tổng cục Thống kê được xác định dựa trên cách tiếp cận của Ngân hàng Thế
giới (WB), gồm hai mức:

Nghèo lương thực thực phẩm: tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần lương thực
thực phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là 2100
kcal/ngày đêm;

Nghèo chung: tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác định
bằng cách ước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm, 30% cho các
khoản còn lại.
Trước hết người ta tính mức chi tiêu cho nhu cầu lương thực thực phẩm, gọi là đường nghèo
lương thực thực phẩm (thông thường người ta tính rổ hàng hóa với một sô mặt hàng nhất định).
Theo tiêu chuẩn của Tổng cục Thống kê Việt Nam
7
, dựa vào phương pháp quốc tế, theo đó tiêu
chuẩn nghèo là số tiền cần thiết để mua 1 lượng thực phẩm tối thiểu cung cấp đủ 2100 Kcal mỗi
ngày mỗi người (đây cũng là tiêu chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như các tổ
chức quốc tế hiện nay sử dụng) và số tiền cần thiết cho những nhu cầu phi lương thực. Những
người có mức chi tiêu dưới mức chi phí cần thiết để đạt được lượng calo này gọi là nhóm nghèo
về lương thực thực phẩm. Chi phí lương thực chiếm 70% và phi lương thực 30%. Tổng chi tiêu
cho lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm được gọi là đường nghèo hay chuẩn
nghèo (đó là đường nghèo chung). Để tiện cho việc tính toán, đánh giá, người ta chuyển từ mức

nhập thực tế của dân cư, đặc biệt là nhóm nghèo trong thời kỳ điều chỉnh; (2) Tốc độ lạm phát
cùng kỳ.
9

Vào những năm 1990, chuẩn nghèo ở Việt Nam được xác định theo mức: những hộ gia đình có
thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 45.000
đồng/người/tháng (540.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng
bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 70.000 đồng/người/tháng (840.000
đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân
đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
10
.
Từ 1993 đến nay Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần điều chỉnh mức chuẩn nghèo. Theo Quyết
định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 27/9/2001, trong đó phê duyệt
"Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005", thì những hộ gia
đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000
đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng
bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng

9
Nguyễn Hữu Minh, Chuyên đề cao học về Phân tầng xã hội và nghèo khổ, Hà Nội, 2006, trang 65
10
Lê Ngọc Hùng, 2010, Chênh lệch giàu nghèo và phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay. Truy cập ngày 02 tháng
12 năm 2011, từ
18

(1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập
bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ
nghèo.
Bảng 1: Chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2001-2005


ng b

ng

100.000đ/ngư

i/tháng

Thành th


150.000đ/ngư

i/tháng

Nguồn: Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 27/9/2001
Trong đó, theo số liệu thống kê tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta từ 2004 đến 2008 liên tục giảm (bảng
2). Nếu vào năm 2004 tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 18,1% thì đến năm 2009 giảm còn 12,3%; trung
bình mỗi năm giảm gần 1,2%
11
.
Chuẩn nghèo 2001-2005 so với giai đoạn trước đó tăng 1,5 lần, còn về phương pháp tiếp cận và
xác định vẫn dựa trên cơ sở thu nhập của hộ. Trong chuẩn nghèo mới không có tiêu chí hộ đói vì
tỉ lệ hộ đói không còn đáng kể. Sở dĩ có lựa chọn phương án tăng lên 1,5 lần là vì trong 5 năm
1996-2000 mức sống dân cư Việt Nam tăng lên khoảng 1,47 lần và GD giai đoạn 1991-2000
tăng 1,97 lần. Theo chuẩn trên, đầu năm 2001 Việt Nam có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm tỉ
lệ 17,2%. Tuy nhiên, theo nhận xét của một số chuyên gia quốc tế thì chuẩn về hộ nghèo của
nước ta thấp hơn so với tình hình thực tế, chỉ ngang bằng một số nước trong khu vực, thấp hơn
Trung Quốc, Thái Lan… Chính phủ lựa chọn chuẩn nghèo thấp trong giai đoạn này là nhằm tập


200

2008

370

290

Nguồn: Niên giám thống kê 2009, Nxb.Thống kê 2010
Tiếp đó, theo quyết định của thủ tướng chính phủ Việt Nam 170/2005/QĐ-TTg ký ngày 08
Tháng 07 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010:
Bảng 3: Chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010
Khu v

c

H


nghèo

Nông thôn

200.000đ/ngư

i/tháng tr


xu


Nông thôn

H


nghèo

500.000đ/
ngư

i/tháng

400.000đ/ngư

i/tháng

Cận nghèo
501 đ
ế
n

650.000đ/người/tháng
401 đến 520.000đ/người/tháng
Nguồn: Quyết định số 09/2011/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ
Theo quyết định trên ta có thể thấy, chuẩn nghèo từ nay (năm 2011) đến năm 2015 thể hiện một
sự biến thiên của các chuẩn nghèo luôn theo xu hướng tăng dần kể từ năm 1990 đến nay. Một
mặt, chuẩn nghèo đó phản ánh sự tăng lên thu nhập bình quân đầu người, có thể giảm thiểu tỷ lệ
nghèo đói (theo nghĩa tuyệt đối) ở một mức nào đó. Nhưng mặt khác những lại cho thấy sự giảm
20

Cuối năm 2008, TP cơ bản xóa hết hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2 (thu nhập dưới 6 triệu
đồng/người/năm). Do đó, đến đầu năm 2009, TP quyết định ban hành chuẩn nghèo giai đoạn 3

12
Song Linh, 2011, Việt nam vẫn là một nước nghèo. Truy cập ngày 02 tháng 12 năm 2011, từ

21

(2009 - 2015) lên thành dưới 12 triệu đồng/người/năm ở các quận nội thành, dưới 10 triệu
đồng/người/năm ở các huyện ngoại thành.
Giai đoạn này, TP lại mạnh dạn quyết định nâng mức chuẩn nghèo giai đoạn 2009 - 2015 lên
thành 12 triệu đồng/người/năm cho toàn TP. Với mức chuẩn này, TP có khoảng 200 ngàn hộ
thuộc diện nghèo.
Như vậy, giữa 2 thành phố lớn trong nước ta cũng có những chuẩn riêng.

2.4 Địa phương có chuẩn nghèo cao nhất
Một số địa phương đã căn cứ vào tiêu chuẩn chung của quốc gia để xây dựng chuẩn nghèo của
mình. Ngoài những quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, thành phố Hồ Chí
Minh xây dựng chuẩn nghèo riêng dựa trên 2 tiêu chí: Mức thu nhập bình quân đầu người; khả
năng tiếp cận, hưởng thụ các dịch vụ xã hội. Ngoài ra, căn cứ vào tình hình thực tế của từng thời
kỳ có sự thay đổi phù hợp. Chẳng hạn , từ năm 1992 đến này thành phố Hồ Chí Minh đã có 5 lần
điều chỉnh chuẩn nghèo. Chuẩn nghèo đến năm 2002 là gần gấp đôi chuẩn nghèo quốc gia.
Trong giai đoạn 2 của Chương trình xóa đói giảm nghèo (2004-2010). Ở Việt Nam, thành phố
Hồ Chí Minh được xem là tỉnh thành có chuẩn nghèo cao nhất ở Việt Nam và chuẩn nghèo ở
thành phố Hồ Chí Minh cũng cho thấy xu hướng tăng lên cùng với chuẩn nghèo quốc gia.
Bảng 5: Chuẩn nghèo của thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1993 đến 2010 (đv: 1 người/năm)
Năm

Thành th


6.000.000

6.000.000

2010

6.000.000

6.000.000

2011

1
2
.000.000

1
0
.000.000

Nguồn: Cơ sở khoa học và thực tiễn xác định chuẩn nghèo ở Thành phố Hồ Chí Minh, 2006
13

website của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội)

13
Th.s. Lê Văn Thành, Cơ sở khoa học và thực tiễn xác định chuẩn nghèo ở TP Hồ Chí Minh, Viện kinh tế, UBND
TP Hồ Chí Minh, 2006, Trang 8-9
22






ng

Thành ph


tr

c thu

c

2

Qu

n

9

Huy

n

18

Phư

có các chuẩn nghèo theo quy định của nhà nước.
Tuy chưa thể phản ánh được rõ nét nhưng sự khác biệt trong đánh giá chuẩn nghèo theo số lượng
phường xã, thị trấn như trên đã nói lên rằng khu vực thành thị và nông thôn có sự khác biệt về
chuẩn nghèo.
Kết luận: Như vậy, qua một số khái niệm cơ bản về nghèo đói, những chuẩn nghèo đã được
phân tích một cách sâu sắc từ cấp quốc gia đến đơn vị hành chính phường xã sẽ giúp ta hiểu rõ
hơn về các chính sách xóa đói giảm nghèo và phạm vi của nó.

2.6.Chuẩn nghèo của một số nước trên thế giới
Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động. Theo một
nghiên cứu của WB, nguy cơ đối với người nghèo đang tiếp tục gia tăng trên quy mô toàn cầu,
và tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm trong năm 2009 đã đẩy thêm 53 triệu người nữa rơi vào
tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130-155 triệu người của năm 2008, khi giá nhiên liệu và
thực phẩm tăng cao.
Suy thoái kinh tế dự kiến mỗi năm sẽ đe dọa thêm mạng sống của 200.000 đến 400.000 trẻ em
trong giai đoạn 2010-2015, theo đó 1,4 đến 2,8 triệu trẻ em có thể bị tử vong nếu khủng hoảng
tiếp diễn.
Chỉ số đói nghèo toàn cầu (GHI) được đánh giá trên 3 dấu hiệu cơ bản: tỉ lệ người thiếu ăn, mức
độ phổ biến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi; tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 5
tuổi. Nhìn chung, trong những năm từ 1990 đến 2009, GHI trung bình của thế giới đã giảm gần
1/5. Nhiều quốc gia đã giải quyết tốt vấn đề dinh dưỡng cho trẻ em. Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong của
trẻ em dưới 5 tuổi và tỉ lệ người thiếu ăn vẫn còn khá cao.
Đói nghèo giết chết hơn 30.000 trẻ dưới 5 tuổi trên khắp thế giới mỗi ngày, báo cáo của Manos
Unidas - một tổ chức phi chính phủ (NGO) Tây Ban Nha, Manos Unidas (United Hands) cho
biết điều này có nghĩa là có khoảng 11 triệu trẻ em chết mỗi năm vì nghèo đói, trong đó có 7
triệu trẻ dưới 5 tuổi; 130 triệu trẻ không được đi học và 82 triệu trẻ bị mất tuổi thơ bởi phải kết
hôn quá sớm.
24

Báo cáo của Manos Unidas cũng cho hay hiện có 15 triệu trẻ em trên thế giới bị mồ côi vì AIDS,


khác nhau, ví dụ ở Xri Lan-ca, các nhà nghiên cứu không phải lúc nào cũng lấy 2.500 ca-lo làm
ngưỡng nghèo.

Dưới đây là chuẩn mực nghèo của một số nước:
Đơn vị tính
Chuẩn nghèo
Quy đ

i ti

n Vi

t Nam (đơn v

:
Đồng)
Thu

nh

p

Chi tiêu

Thu nh

p

Chi tiêu
Cam
-
pu
-
chia
Riên/ngày1.837,00

Lào

Kip/tháng20.911,00

Phi
-
lip
-
pin


-
sô/năm

11.605,00


183 073.9489
131 861.6328 3 179
493.8861
Thành th


Ru
-


4.404,00

Pa
-
ki
-
xtan

Ru
-
pi Pa
-
ki
-
xtan/tháng

748,56

Xri Lan
-
ca

Ru
-
pi Xri Lan
-
ca/tháng

791,67


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status