LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia,
nó không chỉ là tư liệu sản xuất đặc biệt, mà còn là thành phần quan
trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư,
xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng, có
vai trò cực kỳ quan trọng đối với đời sống xã hội. Trong giai đoạn hiện
nay của nước ta, với sức ép về dân số và tốc độ công nghiệp hoá, đô thị
hoá, sự chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ
kéo theo nhu cầu sử dụng đất ngày một tăng mà quỹ đất thì có hạn.
Chính vì vậy, trong quá trình sử dụng đất chúng ta cần phải khai thác,
bảo vệ và cải tạo đất đai sao cho đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển
ngày càng nhanh của xã hội. Để sử dụng nguồn tài nguyên quý giá này
được lâu dài thì công tác quản lý đất đai là rất cần thiết. Nó đòi hỏi phải
có sự thống nhất từ trung ương đến địa phương. Kể từ năm 1986 đến nay,
hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai không ngừng được củng cố và
kiện toàn đã góp phần đắc lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, đưa công tác
quản lý đất đai đi vào nền nếp;
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác quản lý đất
đai vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như tình trạng chồng chéo trong quản lý,
nạn tham nhũng... mà một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng này
là hệ thống cơ quan quản lý đất đai được tổ chức chưa hợp lý, cồng kềnh, hoạt
động chưa hiệu quả. Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản
lý đất đai trong điều kiện tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá;
đặc biệt là khi nước ta đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO). Đây là lý do để chúng ta tiếp tục nghiên cứu,
đánh giá thực trạng hệ thống cơ quan quản lý đất đai; trên cơ sở đó, đề xuất
các giải pháp nhằm củng cố và hoàn thiện để hệ thống cơ quan quản lý đất đai
ở nước ta có đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ mà đất nước đã giao phó. Với
ý nghĩa đó, em lựa chọn đề tài: "Nâng cao năng lực trong hệ thống cơ quan
quản lý đất đai ở nước ta hiện nay" làm đề án môn học;
và hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt, đề án đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích, đánh giá, bình luận; phương pháp
so sánh luật học; phương pháp tổng hợp; phương pháp lịch sử v.v trong quá
trình nghiên cứu đề tài.
2
5. Kết cấu của đề án:
Bố cục của đề tài gồm 3 phần chính: phần mở đầu, phần nội dung, phần
kết luận. Trong đó phần nội dung là phần quan trọng nhất chứa đựng các vấn
đề cơ bản của đề án được chia làm 3 chương
Chương I: Tổng quan những vấn đề lý luận về hệ thống cơ quan quản lý
đất đai ở nước ta.
Chương II: Hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta
Chương III: Một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực trong hệ
thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta hiện nay
3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CƠ QUAN
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA
1. Khái niệm hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai ở nước ta
1.1. Khái niệm hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ra đời gắn liền với sự
xuất hiện của một hình thức quản lý đất đai của con người: Quản lý nhà nước
về đất đai. Hệ thống cơ quan này được Nhà nước thành lập và bằng pháp luật,
Nhà nước quy định cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhằm
giúp Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ vốn đất đai trong cả nước theo quy
hoạch, kế hoạch chung.
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai là hệ thống cơ quan do
Nhà nước thành lập thống nhất từ trung ương xuống địa phương có cơ cấu, tổ
chức chặt chẽ và có mối quan hệ mật thiết với nhau theo quan hệ "song trùng
trực thuộc" thực hiện chức năng, nhiệm vụ giúp Nhà nước thống nhất quản lý
- HĐND các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luật về
đất đai tại địa phương (khoản 1, 2 Điều 7 Luật đất đai năm 2003);
1.2.2. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền
chung
Với chức năng quản lý Nhà nước về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
(trong đó có lĩnh vực quản lý đất đai), Chính Phủ và UBND các cấp có vai trò
rất quan trọng trong việc thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai.
Theo đó:
- Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch SDĐ của tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương và quy hoạch, kế hoạch SDĐ vào mục đích quốc
phòng, an ninh; thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả
nước;
- UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và
quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật
này (khoản 2, 4 Điều 7 Luật đất đai năm 2003);
1.2.3. Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai
Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai được
thành lập thống nhất từ trung ương đến địa phương theo 4 cấp đơn vị hành
chính:
- Cấp trung ương: Cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai ở
trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi trường, là cơ quan của Chính phủ thực
hiện chức năng quản lý Nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài
nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ trong
5
phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện
chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong
lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường,
khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật;
- Cấp tỉnh: Cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai ở tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương là Sở Tài nguyên và Môi trường, là cơ quan
và tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai đánh dấu sự chuyển đổi nền
hành chính công mang nặng tính chất quan liêu "cai trị, quản lý" sang nền
hành chính mang tính chất gần dân, tính chất "dịch vụ, phục vụ";
Bên cạnh đó, một loạt các tổ chức mới có một trong những chức năng
là thực hiện dịch vụ cho người dân và doanh nghiệp ... trong lĩnh vực đất đai
được Luật đất đai năm 2003 cho phép thành lập; đó là: Tổ chức phát triển quỹ
đất và tổ chức hoạt động dịch vụ trong quản lý, sử dụng đất đai;
- Tổ chức phát triển quỹ đất: Tổ chức phát triển quỹ đất hoạt động
theo loại hình đơn vị sự nghiệp có thu hoặc doanh nghiệp nhà nước thực hiện
nhiệm vụ công ích do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết
định thành lập để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng trong trường hợp
thu hồi đất sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố mà chưa có
dự án đầu tư, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu vực có quy
hoạch phải thu hồi đất mà người sử dụng đất có nhu cầu chuyển đi nơi khác
trước khi Nhà nước quyết định thu hồi đất; quản lý quỹ đất đã thu hồi và tổ
chức đấu giá quyền sử dụng đất theo quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đối với diện tích đất được giao quản lý. Việc ra đời tổ chức phát
triển quỹ đất đánh dấu việc chuyển đổi công tác bồi thường, giải phóng mặt
bằng từ cơ chế hành chính (do cơ quan công quyền thực hiện) sang cơ chế
kinh tế (do doanh nghiệp thực hiện) đáp ứng đòi hỏi của việc quản lý và sử
dụng đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường;
- Tổ chức hoạt động dịch vụ trong quản lý, sử dụng đất đai: Tổ chức sự
nghiệp có thu, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật thì được cấp phép hoạt động hoặc được đăng ký
hoạt động dịch vụ trong quản lý, sử dụng đất đai;
Các lĩnh vực hoạt động dịch vụ trong quản lý, sử dụng đất đai bao gồm:
- Tư vấn về giá đất;
- Tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Dịch vụ về đo đạc và bản đồ địa chính;
- Dịch vụ về thông tin đất đai;
Do sự phát triển quan hệ ruộng đất ở nông thôn và củng cố quan hệ sản
xuất Xã hội chủ nghĩa, ngành Quản lý ruộng đất được thiết lập (Nghị định số
70-CP ngày 09 tháng 12 năm 1960 và Nghị định số 71-CP ngày 09 tháng 12
năm 1960 của Hội đồng Chính phủ), chuyển từ Bộ Tài chính sang Bộ Nông
nghiệp với nhiệm vụ quản lý mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong
8
nông nghiệp. Quản lý ruộng đất bao gồm 3 nội dung chủ yếu: Lập bản đồ, địa
bạ về ruộng đất, thường xuyên chỉnh lý bản đồ và địa bạ cho phù hợp với sự
thay đổi về hình thể ruộng đất, về quyền sở hữu, sử dụng ruộng đất, về tình
hình canh tác và cải tạo ruộng đất; Thống kê diện tích, phân loại chất đất;
Nghiên cứu xây dựng các luật lệ, thể lệ về quản lý ruộng đất trong nông
nghiệp và hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các luật lệ, thể lệ ấy. Hệ thống
quản lý ruộng đất được tổ chức thành 4 cấp: Trung ương là Vụ Quản lý ruộng
đất; cấp tỉnh là Phòng Quản lý ruộng đất; cấp huyện là Bộ phận Quản lý
ruộng đất; cấp xã là Cán bộ quản lý ruộng đất.
Tóm lại, trong giai đoạn 1960 - 1978, ngành Quản lý ruộng đất đã phát
triển hệ thống bộ máy và đội ngũ cán bộ từ Trung ương tới địa phương, mở
rộng các nội dung quản lý nhà nước về đất đai. Cơ quan quản lý ruộng đất có
nhiệm vụ chủ yếu là giúp Bộ Nông nghiệp “quản lý việc mở mang, sử dụng
và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp”. Ngành Quản lý ruộng đất đã có
những đóng góp to lớn trong việc mở rộng và sử dụng có hiệu quả diện tích
đất nông nghiệp, xây dựng kinh tế hợp tác xã và phát triển nông thôn
2.3. Giai đoạn từ 1979 đến nay
Để tăng cường công tác quản lý đất đai, thống nhất các hoạt động quản
lý đất đai vào một hệ thống cơ quan chuyên môn, năm 1979, Tổng cục Quản
lý ruộng đất được thành lập - "Tổng cục Quản lý ruộng đất là cơ quan trực
thuộc Hội đồng Bộ trưởng, thống nhất quản lý nhà nước đối với toàn bộ
ruộng đất trên lãnh thổ cả nước nhằm phát triển sản xuất, bảo vệ đất đai, bảo
vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả cao đối với tất cả các loại
đất" (Nghị quyết số 548/NQQH ngày 24 tháng 5 năm 1979 của Ủy Ban
HỆ THỐNG CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA
1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của Bộ tài nguyên và
môi trường
Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính Phủ thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng
sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ trong phạm vi cả nước;
quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn
của Nhà nước trong lĩnh vực nêu trên theo quy định của Nhà nước;
Bộ Tài nguyên và Môi trường ra đời nhằm tăng cường công tác quản lý
các nguồn tài nguyên và môi trường theo xu hướng quản lý tổng hợp các
nguồn tài nguyên thiên nhiên vì sự phát triển bền vững. Bộ Tài nguyên và
Môi trường được thành lập căn cứ Nghị quyết số 02/2002/QH11 của Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khúa XI kỳ họp thứ nhất quy định
về danh sách các bộ và cơ quan ngang bộ của Chính Phủ.
1.1. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài nguyên và Môi
trường
Theo Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài
nguyên và Môi trường thì Bộ Tài nguyên và Môi trường (sau đây gọi tắt là
Nghị định số 91/2002/NĐ-CP) có trách nhiệm thực hiện, nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002 của Chính phủ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan
ngang bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
- Trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm
pháp luật khác về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản,
môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ;
- Trình Chính phủ chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn,
năm năm và hàng năm về các lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài
nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ, cỏc
cụng trỡnh quan trọng của ngành;
định của pháp luật;
• Kiểm tra Uỷ ban nhân nhân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong
việc định giá đất theo khung định giá và nguyên tắc, phương pháp xác
định giá các loại đất do Chính phủ quy định;
- Về đo đạc và bản đồ
12
• Thống nhất quản lý về hoạt động đo đạc và bản đồ; quản lý công tác đo
đạc và bản đồ cơ bản, bản đồ về biên giới quốc gia và địa giới hành
chính; quản lý hệ thống địa danh trên bản đồ, hệ thống quy chiếu quốc
gia, hệ thống số liệu gốc đo đạc quốc gia, hệ thống điểm đo đạc cơ sở
quốc gia, hệ thống không ảnh cơ bản và chuyên dùng; cấp và thu hồi
giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật;
• Thành lập, hiệu chỉnh xuất bản và phát hành các loại bản đồ địa hình cơ
bản, bản đồ nền, bản đồ hành chính; quản lý việc cung cấp thông tin, tư
liệu và bảo mật nhà nước về hệ thống thông tin, tư liệu đo đạc và bản
đồ;
- Thẩm định và kiểm tra việc thực hiện các dự án đầu theo quy định của
pháp luật;
- Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực, tổ chức và chỉ đạo thực hiện
kế hoạch nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ.
- Quyết định các chủ trương, biện pháp cụ thể và chỉ đạo việc thực hiện
cơ chế hoạt động của các tổ chức dịch vụ theo quy định của pháp luật; quản lý
và chỉ đạo hoạt động đối với các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ;
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể thuộc quyền đại diện chủ sở
hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc Bộ quản
lý theo quy định của pháp luật;
- Quản lý nhà nước đối với các hoạt động của hội và tổ chức phi Chính
phủ.
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng,
tiêu cực và xử lý các vi phạm pháp luật.
chế và công tác của UBND cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về
chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Thông tư Liên tịch số 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV (sau đây gọi tắt là
Thông tư Liên tịch số 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV) ngày 15/7/2003 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp UBND quản lý nhà nước
về tài nguyên và môi trường ở địa phương đã quy định rất cụ thể nhiệm vụ,
quyền hạn của Sở Tài nguyên và Môi trường; cụ thể như sau:
Sở Tài nguyên và Môi trường được thành lập với những nhiệm vụ và
quyền hạn như sau:
Thứ nhất, trình UBND cấp tỉnh ban hành các quyết định về quản lý tài
nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng
thủy văn, đo đạc và bản đồ (sau đây gọi chung là tài nguyên và môi trường) ở
địa phương;
14
Thứ hai, trình UBND cấp tỉnh quy hoạch phát triển, chương trình, kế
hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm về tài nguyên và môi trường phù hợp với
quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội của địa phương;
Thứ ba, trình UBND cấp tỉnh quyết định các biện pháp bảo vệ tài
nguyên và môi trường ở địa phương; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện;
Thứ tư, tổ chức, chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật,
chương trình, quy hoạch, kế hoạch sau khi được xét duyệt; tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật và thông tin về tài nguyên và môi trường;
Thứ năm, về tài nguyên đất:
- Giúp UBND cấp tỉnh lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (SDĐ) và
điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp tỉnh; hướng dẫn, kiểm tra việc thực
hiện;
- Tổ chức thẩm định, trình UBND cấp tỉnh xét quy hoạch, kế hoạch
SDĐ của huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và kiểm tra việc thực hiện;
- Trình UBND cấp tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất,
- Trình UBND cấp tỉnh cấp, gia hạn, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu
chuẩn môi trường cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trên địa bàn
tỉnh theo phân cấp;
- Tổ chức lập báo cáo hiện trạng môi trường, xây dựng và tăng cường
tiềm lực trạm quan trắc và phân tích môi trường, theo dõi diễn biến chất
lượng môi trường tại địa phương theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi
trường;
- Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án, cơ sở
theo phân cấp;
- Tổ chức thu phí bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật;
Thứ chín, về đo đạc và bản đồ
- Thẩm định và đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoặc ủy
quyền cấp phép hoạt động đo đạc và bản đồ cho các tổ chức và cá nhân đăng
ký hoạt động đo đạc và bản đồ ở địa phương;
- Trình UBND cấp tỉnh phê duyệt kết quả kiểm tra, thẩm định chất
lượng công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ địa chính, đo đạc và bản đồ
chuyên dụng của tỉnh;
- Tổ chức xây dựng hệ thống điểm đo đạc cơ sở chuyên dụng, thành lập
hệ thống bản đồ địa chính, bản đồ chuyên đề phục vụ các mục đích chuyên
dụng;
- Theo dõi việc xuất bản, phát hành bản đồ và kiến nghị với cơ quan
quản lý nhà nước về xuất bản việc đình chỉ phát hành, thu hồi các ấn phẩm
16