LỜI MỞ ĐẦU
Gần 70% dân số Việt Nam là dân số ở nông thôn và hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp. Hoạt động sản xuất nông nghiệp của nước ta chủ yếu vẫn là sản xuất
truyền thống, ít sử dụng máy móc và công nghệ mới. Hiện nay nước ta đang tiến hành
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng nông nghiệp vẫn là ngành quan trọng trong phát
triển kinh tế cũng như giải quyết phần lớn nguồn lao động ở nông thôn. Do đó, đầu tư
vào nông nghiệp và phát triển nông thôn là rất cần thiết. Sự đầu tư này không chỉ tác
động tới ngành nông nghiệp mà còn tác động tới tất cả các ngành trogn nền kinh tế.
Trong thời gian qua các nguồn vốn dành cho nông nghiệp và phát triển nông thôn đã
mang lại những lợi ích to lớn trong đó phải kể đến nguồn vốn ODA. Các chương
trình, dự án ODA đẫ mang lại những lợi ích kinh tế xã hội cho nhiều vùng đặc biệt là
vùng sâu, vung xa. Tuy nhiên việc quản lý nguồn vốn ODA còn nhiều bất cập cần
phải giải quyết.
Chính vì vậy em đã quyết định chọn đề tài “ Thực trạng thu hút và sử
dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các tỉnh Miền Trung”.
Những nội dung cụ thể của đề tài được trình bày và phân tích qua hai phần
sau:
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung về nguồn vốn ODA
Chương 2: Thực trạng thu hút và sử dụng ODA vào NN&PTNT các tỉnh Miền Trung
Chương 3: Một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA
vào nông nghiệp và phát triển nông thôn các tỉnh Miền Trung
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung về nguồn vốn ODA
1.1 Vài nét về nguồn vốn ODA
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại ODA:
1.1.1.1 Khái niệm ODA:
- Sự hình thành ODA trên thế giới:
Sau đại chiến thế giới lần thứ II, các nước công nghiệp phát triển đã thỏa thuận
vì sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi
cho các nước đang phát triển. Tháng 7 năm 1944, tại Bretton Woods bang Hampshire
(Hoa Kỳ), Hội nghị tài chính tiền tệ đã ra quyết định thành lập tổ chức tài chính
Quốc tế – Ngân hàng thế giới ( WB ). Mục tiêu của WB là thúc đẩy phát triển kinh tế
Tính ưu đãi của ODA còn được thể hiện đó là nó chỉ dành riêng cho các nước
đang và chậm phát triển vì mục tiêu phát triển. Có hai điều kiện cơ bản nhất để các
nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người thấp. Nước có bình
quân đầu người càng thấp thì thường được tỉ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA
càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn ưu đãi càng lớn. Khi các nước
này đạt trình độ phát triển nhất định qua ngưỡng đói nghèo thì sự ưu đãi này sẽ giảm
đi.
- Mục tiêu sử dụng ODA của các nước này phải phù hợp với chính sách và
phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp ODA và bên nhận
ODA.
Thông thường, các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và ưu tiên
riêng của mình và đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi
theo từng giai đoạn cụ thể. Do đó, nắm được hướng ưu tiên và tiềm năng cảu các
nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết. Về thực chất, ODA là sự chuyển
giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại một phần tổng sản phẩm quốc dân trong những
điều kiện nhất định. Như vậy, nguồn gốc thực chất của ODA chính là một phần của
GNP các nước giàu được chuyển sang các nước nghèo. Do vậy, ODA rất nhạy cảm về
mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội nước cung cấp cũng như tiếp
nhận ODA.
Thứ hai, ODA mang tính chất ràng buộc.
ODA có thể ràng buộc nước nhận viện trợ về địa điểm, cách thức chi tiêu.
Ngoài ra, mỗi nước cung cấp viện trợ đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các
ràng buộc này rất chặt chẽ với nước nhận.
Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng tính hai mặt của nó là tính ưu đãi cho nước
tiếp nhận và lợi ích của nước viện trợ. Vốn ODA luôn có tính ràng buộc về chính trị.
Các nước viện trợ sẽ không quên dành được lợi ích cho nước mình vừa gây
ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ tư vấn vào nước tiếp
nhận viện trợ. Ví dụ: BỈ, Đức, Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua
bằng hàng hóa và dịch vụ của nước mình. Canada yêu cầu cao nhất tới 65%. F Còn
buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng nào.
- ODA có ràng buộc nước nhận:
+ Bởi nguồn sử dụng: việc mua sắm hàng hóa, trang thiết bị hay dịch vụ
bằng nguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước sở hữu tài trợ hoặc
kiểm soát.
+ Bởi mục đích sử dụng: chỉ sử dụng ODA cho một số lĩnh vực nhất định hoặc
một số dự án cụ thể.
- ODA có thể ràng buộc một phần: một phần chịu ràng buộc, phần còn lại
không chịu bất cứ sự ràng buộc nào.
* Theo đối tượng sử dụng, ODA được chia thành:
- Hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ
thể, có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kĩ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay
ưu đãi.
- Hỗ trợ phi dự án:
+ Hỗ trợ trả nợ: giúp thanh toán các khoản nợ quốc tế đến hạn.
+ Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành cho mục đích tổng quát với thời
gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như
thế nào?
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp hoặc hỗ trợ
hàng hóa, hỗ trợ qua nhập khẩu.
* Theo nhà cung cấp ODA được chia thành:
- ODA song phương: là ODA của một chính phủ tài trợ trực tiếp cho một
chính phủ khác.
- ODA đa phương: là ODA của nhiều chính phủ cùng đồng thời tài trợ, thường
được thực hiện qua các tổ chức quốc tế.
- ODA của tổ chức phi chính phủ (NGO)
1.1.2 Tình hình chung về ODA trên thế giới
Trên thế giới việc cung cấp ODA thực chất đã được tiến hành từ nhiều thập kỉ
trước đây, bắt đầu bằng kế hoạch Marshall của Mỹ viện trợ cho các nước Tây Âu sau
chiến tranh thế giới thứ hai. Tiếp đó, tại hội nghị Colombo đã hình thành nên những ý
đây về vấn đề môi trường, Ngân hàng phát triển Châu Á đã điều chỉnh chính sách ưu
tiên cho bảo vệ môi trường của mình, tập trung giải quyết những thách thức về môi
trường trong thời đại ngày nay, cải thiện môi trường sống vì sự phát triển lâu bền.
Thứ hai là vấn đề “phụ nữ trong phát triển” (Women in Development- WID)
thường xuyên được đề cập tới trong chính sách ODA của nhiều nhà tài trợ.
“ Phụ nữ trong phát triển” là một quan điểm đề cao vai trò của phụ nữ và
khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động phát triển. Việc tạo ra các cơ hội cho
phụ nữ phát triển nói chung và nâng cao thu nhập của họ nói riêng sẽ dẫn tới cải thiện
mức sống, giảm tỉ lệ đói nghèo và duy trì tăng trưởng ổn định. Ngay từ tháng 7/1985,
ADB đã đưa ra vấn đề nâng cao vai trò người phụ nữ trong phát triển thành mục tiêu
chiến lược trong hoạt động của mình. Tư tưởng chủ đạo trong các dự án của ADB là
“ nâng cao vị trí của phụ nữ trong hoạt động kinh tế xã hội và đảm bảo sự phát triển
của họ trong sự phát triển chung”.
Thứ ba, mục tiêu và yêu cầu của nhà tài trợ ngày càng cụ thể, tuy nhiên ngày
càng có sự nhất trí cao giữa nước tài trợ và nước nhận viện trợ về một số mục tiêu.
Với mỗi khoản ODA cung cấp ODA cho các nước nghèo, các nhà tài trợ đều
đưa ra những mục tiêu và yêu cầu ngày càng cụ thể hơn. Với những mục tiêu và yêu
cầu cụ thể này nó sẽ tạo ra sự ràng buộc càng chặt chẽ và nhà tài trợ của mình sẽ đạt
được mục đích ở mức cao nhất. Các mục tiêu đạt được sự nhất trí ngày càng cao giữa
nhà tài trợ và nước nhận viện trợ là:
- Tạo tiền đề tăng trưởng kinh tế
- Xóa đói giảm nghèo
- Bảo vệ môi trường
- Hỗ trợ khai thác tiềm năng sẵn có và sử dụng chúng một cách có hiệu quả.
Thứ tư, nguồn vốn ODA tăng chậm.
Các tổ chức tài chính quốc tế như WB, ADB đang phải đương đầu với những
khó khăn về nguồn vốn do phần góp vốn hạn hẹp của một số nước thành viên.
Tình trạng một số nước nghèo mắc nợ nhiều, khả năng hấp thụ ODA của nhiều
nước tiếp nhận còn hạn chế, thiếu chủ động trong thu hút viện trợ… cũng là một
trong những nguyên nhân làm nguội “nhiệt tình” của các nhà tài trợ. Ngoài ra,
nước đã tiếp thu một lượng vốn ODA khá lớn như một lượng bổ sung khá lớn cho
phát triển.
Thứ hai, ODA giúp cho các nước đang phát triển tiếp thu những thành tựu
khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực
Những lợi ích quan trọng mà nguồn vốn ODA mang lại cho nước nhận tài trợ
là công nghệ, kĩ thuật hiện đại, kĩ thuật chuyên môn và trình độ quản lí tiên tiến.
Ngoài ra các nhà tài trợ còn ưu tiên cho phát triển nguồn nhân lực vì họ tin tưởng
rằng việc phát triển của một quốc gia có quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn
nhân lực. Đây chính là những lợi ích căn bản lâu dài đối với nước nhận tài trợ. Nhật
Bản được biết đến là nước đứng đầu thế giới về cung cấp ODA. Hợp tác kĩ thuật của
Nhật Bản là một ví dụ minh họa điển hình về vai trò của hỗ trợ phát triển chính thức
trong việc giúp các nước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học hiện đại,
công nghệ tiên tiến và phát triển nguồn nhân lực. Hợp tác kĩ thuật được coi là một bộ
phận quan trọng trong ODA của Nhật Bản và được Chính Phủ Nhật Bản đặc biệt coi
trọng.
Thứ ba, ODA giúp các nước đang phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế.
Dân số tăng nhanh, sản xuất tăng chậm và cung cách quản lý kinh tế, tài chính
kém hiệu quả, các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước Châu Phi đang vấp phải
khó khăn về kinh tế như nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ngày
càng tăng. Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia đang cố gắng hoàn thiện cơ cấu
kinh tế bằng cách phối hợp với WB, Quỹ tiền tệ quốc tế và các tổ chức quốc tế khác
để tiến hành điều chỉnh cơ cấu. Chính sách này có xu hướng là chuyển chính sách
kinh tế Nhà nước đóng vai trò trung tâm sang chính sách khuyến khích nền kinh tế
phát triển theo định hướng phát triển kinh tế khu vực tư nhân. Thế giới đã thừa nhận
sự cần thiết của loại hình viện trợ này đối với các nước đang phát triển và Nhật Bản
cũng chú trọng tới loại hình này.
Thứ tư, ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở rộng
đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang phát triển
Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một
nước trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lời của vốn đầu tư tại nước đó.
hoặc thảm bê tông là tương đối thấp và hươn 1/3 dân số nông thôn chưa có nước sạch
để sử dụng.
Khi các cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện thì nó sẽ mang lại những lợi
ích tổng thể cho dân cư đó là:
- Tăng khả năng đưa hàng hóa ra chợ và mở rộng sản xuất nông nghiệp.
- Tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội và các công trình công ích như
trạm y tế và trường học.
- Tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đa dạng hóa sinh kế và các nguồn thu
nhập.
- Tăng cường sự tham gia của người nghèo vào các hoạt động kinh tế, giảm tỉ lệ
nhiễm bệnh do sử dụng nguồn nước không an toàn và một số bệnh tật khác.
- Thúc đẩy giao lưu buôn bán và trao đổi thông tin.
- Góp phần trong công tác xóa đói giảm nghèo
Qua đó ta thấy rằng, xây dựng và tái thiết cơ sở hạ tầng nông thôn là một điều
hết sức cần thiết. Nhưng để có thể thực hiện được nhiệm vụ này quả là rất khó khăn
và cần thềm sự giúp đỡ của các nguồn lực bên ngoài cụ thế ở đây là nguồn vốn hỗ trợ
chính thức (ODA).
Bảng 1: Tóm tắt hiện trạng cơ sở hạ tầng nông thôn ở các tỉnh Miền Trung năm 2009
Tỉnh ĐVT
Thanh
Hóa
Nghệ
An
Hà
Tĩnh
Quảng
Bình
Quảng
Trị
cải tạo
Km 900 165 356 286 89.3 200 72 220 2.1 9.8
Nguồn: số liệu do các tỉnh cung cấp
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ cho giai đoạn 2006-2010
đặt ra ba kết quả cho mục tiêu năm năm đó là:
• Tăng trưởng- thúc đẩy tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, đưa đất nước ra khỏi tình
trạng chậm phát triển một cách nhanh chóng nhưng bền vững ( đạt mức thu nhập
bình quân theo đầu người một năm từ 950 USD đến 1000 USD vào năm 2010 )
• Phát triển xã hội – cải thiện đáng kể cuộc sống tinh thần , văn hóa và vật
chất của con người
• Quản lý nhà nước tốt- tạo nền móng cơ sở hạ tầng và thể chế nhằm thúc
đẩy quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa từng bước chuyển sang nền kinh tế tri
thức.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Chính Phủ tự do hóa thị trường,
phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy khoa học và công nghệ, nâng cao hiệu quả đầu vào,
cải thiện chất lượng phân bổ và sử dụng nguồn lực, tích cực đảy mạnh quá trình hội
nhập kinh tế nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và đầu tư nước ngoài. Để đạt và duy
trì được tỷ lệ tăng trưởng GDP ở mức cao (7.5%/năm), Việt Nam cần phát triển cơ sở
hạ tầng và duy trì ở mức đầu tư thấp nhất là 35% GDP.
Đầu những năm 1980, Việt Nam là một nước nông nghiệp (80% dân số sống ở
nông thôn) và đói nghèo là tình trạng phổ biến của miền nông thôn (khi đó được đánh
giá ở mức 66.4%). Vào những năm 2008, mức đói nghèo ở nông thôn giảm xuống
còn 26.4%, trong khi đó dân số nông thôn vẫn chiếm 70% cả nước. Một trong những
nguyên nhân của những thuận lợi lớn trong công tác xóa đói giảm nghèo là tốc độ
tăng trưởng mạnh của ngành nông nghiệp, ngành cung cấp các hoạt động kinh tế cho
90% số hộ nông thôn, mà một phần là do phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Nhưng
những thành quả của quá trình xóa đói giảm nghèo không đồng bộ trên cả nước với
mức đói nghèo 41% ở miền Bắc Trung Bộ và 33% ở vùng Tây nguyên trung bộ. Vì
vậy, mối liên hệ giữa phát triển cơ sở hạ tầng và vấn đề nghèo đói lại được thiết lập
tốt
năm qua còn hạn chế do Việt Nam ưu tiên đầu tư phát triển hai khu vực đông dân
nhất và dễ mang lại thuận lợi hơn- là khu vực đồng bằng Sông Hồng và Sông Cửu
Long. Vì vậy, miền Trung còn gặp rất nhiếu khó khăn trong việc phát triển cơ sở hạ
tầng để góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội. Và đây chính là
tình hình chung của vùng duyên hải Bắc Trung Bộ và của vùng duyên hải Nam trung
bộ. Vì vậy, mọi nỗ lực cần thiết để phục vụ xóa đói giảm nghèo cần đặt trọng tâm vào
các khu vực này và những khó khăn đặc thù họ đang gặp phải.
Chương 2: Thực trạng thu hút và sử dụng ODA vào phát triển nông thôn tại
các tỉnh Miền Trung
2.1 Tổng quan ODA vào Việt Nam
2.1.1 Tinh hình thu hút và giải ngân ODA tại Việt Nam
Trước năm 1991, nguồn viện trợ cung cấp cho Việt Nam chủ yếu là từ Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Khi hệ thống xã hội chủ nghĩa này sụp
đổ, nguồn viện trợ cho Việt Nam bị cắt giảm nhiều và gần như không còn. Cũng
trong thời gian này, do sự cấm vận kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam nên có rất ít
nước dành hỗ trợ cho Việt Nam. Tuy nhiên sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế
đối với Việt Nam vào tháng 11 năm 1993 thì một hội nghị tư vấn các nhà tài trợ
được tổ chức đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc thu hút nguồn vốn ODA,
Việc thu hút và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam sẽ được xem xét cụ thể qua phân
tích dưới đây.
• Thứ nhất, số vốn ODA cam kết cho Việt Nam trong thời gian qua tương
đối lớn và tăng qua các năm.
Sau khi nối lại mối quan hệ cộng đồng với các nhà tài trợ quốc tế ( vào tháng
11 năm 1993) Việt Nam đã liên tục nhận được những cam kết tài trợ của các nhà tài
trợ. Hiện nay có đến 51 nhà tài trợ ODA cho Việt Nam trong đó có 28 nhà tài trợ song
phương và 23 nhà tài trợ đa phương hoạt động ở hầu hết các lĩnh vực ưu tiên phát
triển của Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi nhà tài trợ đều có những hiến chương và chính
sách ODA riêng, quy trình và thủ tục cũng có những điểm khác biệt, song các nhà tài
trợ đếu căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó trong 10 năm
2001-2010, kế hoạch 5 năm 2001- 2005, các quy hoạch và kế hoạch phát triển của
2002 2461 4.457 1528 1.87
2003 2839 15.36 1442 -5.63
2004 3441 21.205 1650 14.42
2005 3803 10.52 1720 4.242
2006 4458 17.22 1785 3.78
2007 5475 22.81 2176 21.9
2008 6715 22.65 2253 3.54
2009 7835 16.68 2745 21.83
Nguồn : Bộ kế hoạch đầu tư
Qua số bảng số liệu trên ta thấy rằng vốn ODA tăng qua các năm nhưng
không đều, trung bình mỗi năm lượng vốn ODA các nhà tài trợ cam kết cho Việt
Nam vào khoảng 2.4 tỷ USD, đây là mức cam kết khá cao so với các nước đang phát
triển khác. Trong 2 năm đầu khi mới nối lại quan hệ với cộng đồng tài trợ quốc tế ,
lượng ODA cam kết mới chỉ đạt 1860.8 triệu USD (năm 1993) và 2839 triệu USD.
Riêng giai đoạn 1997-2000 lượng vốn ODA có sự sụt giảm nhẹ, điều này là do cuộc
khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997. Tới giai đoạn 2001-2005 thì lượn vốn ODA
tăng và tăng khá đều. tổng vốn ODA trong giai đoạn này là 14.9 tỷ USD. Trong 7
tháng đầu năm 2006 tổng vốn đầu tư thông qua các hiệp định kí kết với các nhà tài
trợ đạt tổng giá trị 1.599 tỷ USD, trong đó vốn vay đạt 1.466 tỷ USD và vốn viện trợ
khoảng 0.133 tỷ USD. Tới giai đoạn 2006-2009 thì mức ODA tăng lên hàng năm
trugn bình mỗi năm tăng lên khoảng 1.3 lần so với năm trước.
Số vốn ODA cam kết cho Việt Nam đạt được kết quả như trên là do Việt Nam
đã tạo dựng được sự tin tưởng của các nhà tài trợ thông qua sự phát triển kinh tế xã
hội. Điều đó được thể hiện qua tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời
gian qua so với các nước trong khu vực là tương đối cao và tốc độ tăng trưởng này
được giữ ổn định trong thời gian dài. Đặc biệt Việt Nam có tình hình chính trị- xã hội
ổn định, đó là một yếu tố quan trọng giúp cho các hoạt động hỗ trợ của các nhà tài trợ
được thuận lợi. Bên cạch đó, sự thành công của các chương trình xóa đói giảm nghèo
đã giúp Việt Nam tạo được niềm tin rất lớn với cộng đồng tài trợ quốc tế và tiếp tục
dành được sự quan tâm của các nhà tài trợ trong việc thực hiện tốt mục tiêu phát triển
bản pháp lí về nguồn vốn ODA một phần do những suy nghĩ cho rằng đây là nguồn
vốn của Nhà Nước.
2. Thực trạng sử dụng ODA tại Việt Nam
2.1 Tổng quan ODA vào Việt Nam
2.1.1 Cơ cấu sử dụng ODA theo nghành, lĩnh vực tại Việt Nam
Trong giai đoạn 2006-2010, nguồn vốn ODA đã bổ sung khoảng 11% tổng
vốn đầu tư toàn xã hội và khoảng 17% tổng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước. Phân
theo nghành theo lĩnh vực nguồn vốn ODA được sư dụng tập trung vào khôi phục và
phát triển cơ sở hạ tầng xã hội.
Bảng 3: Cơ cấu ODA theo ngành, lĩnh vực năm 2008
Ngành, lĩnh vực Tổng số Vay Viện trợ Tỷ lệ (%)
1. Nông nghiệp và phát triển
nông thôn kết hợp xóa đói,
giảm nghèo
598.30 535.49 62.81 13.81
2. Năng lượng và công nghiệp 486.30 486.30 11.22
3. Giao thông vận tải bưu chính
viễn thông, cấp, thoát nước và
phát triển đô thị, trong đó:
- Giao thông vận tải, bưu chính
viễn thông
- Cấp thoát nước
- Phát triển đô thị
2358.68
2196.46
9.78
152.48
2295.9
2143.46
152.44
4.45
1.29
7.12
7.66
Tổng 4332.33 4023.28 309.05 100.00
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Theo tổng hợp mới đây, trong các ngành và lĩnh vực ưu tiên vốn ODA, Nông
nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo có các chương trình và dự
án ODA đã kí kết trong thời kỳ 1993-2008 đạt tổng giá trị khoảng 5.5 tỷ USD, trong
đó có khoảng 26% vốn không hoàn lại. Nguồn vốn này được sử dụng cho phát triển
nông nghiệp là 39%, phát triển lâm nghiệp là 33%, xây dựng thủy lợi là 18%, phát
triển nông nghiệp tổng hợp là 10%. Trong đó có các dự án quy mô lớn như dự án
giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc, sự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn dựa
vào cộng đồng, dự án phát triển sinh kế Miền Trung, chương trình cấp nước nông
thôn và nhiều dự án phát triển nông thôn tổng hợp xóa đói giảm nghèo khác.. đã góp
phần hỗ trợ phất triển nông nghiệp và cải thiện một bước quan trọng đời sống người
dân vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong việc tiếp cận tới
các dịch vụ công trong lĩnh vực y tế, giáo dục.
Về cơ sở hạ tầng xã hội, ODA ưu tiên sử dụng hỗ trợ phát triển giáo dục, y tế,
xã hội với tổng số vốn là 1171 triệu USD. Trong lĩnh vực giáo dục, nguồn vốn ODA
đã được sử dụng để tăng cường cơ sở vật chất, kĩ thuật công tác dạy và học tất cả các
cấp học ( dự án giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục đại
học, dạy nghề..) đào tạo giáo viên, đào tạo sau đại học…Trong lĩnh vực y tế, vốn
ODA không hoàn lại chiếm tỷ trọng cao, 62% trong tổng vốn ODA dành cho Y tế.
Nguồn vốn ODA được sử dụng để tăng cường cơ sở vật chất, kĩ thuật cho công tác
khám chữa bệnh, xây dựng cơ sở sản xuất thuốc kháng sinh, trung tâm truyền má
quốc gia, tăng cường công tác dân số và sức khỏe sinh sản…đào tạo cán bộ y tế; hỗ
trợ xây dựng chính sách và nâng cao năng lực cán bộ quản lý.
Bên cạnh đó, ODA đã góp phần đáng kể trong việc tiếp nhận khoa học công
nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến và tăng cường nguồn lực con người và
chiếm 7.45%, ODA cho Tây Nguyên chiếm 3.7% tổng vốn ODA.
Bảng 4: Cơ cấu vốn ODA kí kết theo vùng do địa phương trực tiếp thụ hưởng
thời kỳ 2001-2009
Đơn vị: Triệu USD
Vùng
ODA đã kí
(Triệu USD)
Tỷ trọng
(%)
Trung du miền núi Bắc Bộ 2063.78 8.07
Đồng Bằng sông Hồng và vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
3500.83 13.69
Bắc Trung Bộ, duyên hải Miền
Trung và vùng kinh tế trọng điểm
Miền Trung
3278.19 12.82
Tây nguyên 1132.39 4.43
Đông Nam Bộ và vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam
3995.6 15.62
Đồng bằng sông Cửu long 2394.67 9.36
Liên vùng 9211.33 36.01
Tổng 25376.79 100
Nguồn: Phòng kế toán BQL dự án
Vùng trung du miền núi Bắc Bộ đứng thứ ba về số vốn kí kết chiếm tỉ lệ
8.07%, nguồn vốn này tập trung thực hiện các chương trình dự án trong các lĩnh vực
như phát triển lâm nghiệp bền vững; hay tiếp cận các dịch vụ cơ sở hạ tầng bao gồm
điện, thủy lợi , nước sạch và giao thông nông thôn; phát triển dân tộc thiểu số; xây
dựng các trường dân tộc nội trú và tăng cường trang thiết bị cho bệnh viện tuyến tỉnh
trang thiết bị y tế cho các bệnh viện tỉnh.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long: ODA sử dụng trong lĩnh vực như quản lí
bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên; các hệ thống thủy lợi; giao thông nông thôn;
phát triển giao thông đường thủy, đầu tư vào phát triển nông thôn tổng hợp; cải thiện
các dịch vụ y tế, giáo dục, tăng cường năng lực quản lí hành chính các cấp.
Qua đó ta có thể tổng hợp rằng gía trị ODA bình quân đầu người của các vùng
như sau: vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đạt 33.98 USD/ người, vùng đồng bằng
Sông Hồng đạt 18.42 USD/người, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Miền Trung đạt
52.46 USD /người, vùng Tây Nguyên là 21.86 USD/người, vùng Đông Nam Bộ là
25.4 USD/ người và vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long là 11.29 USD/người.
2.1.3. Cơ cấu sử dụng ODA theo nhà tài trợ
Hiện nay ở Việt Nam có 51 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa
phương hoạt động ở hầu hết các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam. Trong đó Nhật Bản
là đối tác lớn nhất, riêng vốn ODA của Nhật Bản chiếm tới 42.31% tổng ODA của
Việt Nam, tiếp đến là ngân hàng thế giới (WB) với 26.61% và ngân hàng phát triển
Châu Á (ADB) với 14.49%. Xét theo nhà tài trợ song phương thì đứng đầu là Nhật
Bản đứng đầu với 77.18%, tiếp theo là Pháp (6.17%), Đức (3.6%). Xét theo tài trợ đa
phương thì WB và ADB là hai đối tác lớn nhất.
Bảng 5: 10 nhà tài trợ chính của Việt Nam năm 1993 - 2008
Đơn vị: Triệu USD, %
Nhà tài trợ Tổng giá trị ODA (triệu USD) Tỷ trọng (%)
EU 269.83 1.35
Australia 282.32 1.4
Trung Quốc 301.08 1.5
Thụy Điển 412.83 2.06
Đan Mạch 549.48 2.74
Đức 597.35 2.98
Pháp 1133.78 4.56
ADB 3593.49 14.49
WB 7026.39 26.61
2006 184.10 579.80 332.00 65.40 27.40 1.9 1190.6
2007 229.80 672.80 756.30 67.8 39.5 2.00 1768.20
2008 278.62 733.33 608.27 88.32 34.11 34.61 1777.26
2009 325.45 809.81 655.83 93.24 31.09 27.85 1943.27
Tổng 2371.57 6284.34 4661 573.36 329.1 177.36 13206.13
Nguồn: Phòng kế toán BQL dự án
Các số liệu về tình hình giải ngân của nhóm sáu ngân hàng phát triển trong 11
năm qua cho thấy năm 1998 mức giải ngân đạt được là lớn nhất. Điều này có ý nghĩa
quan trọng vì nhóm sáu ngân hàng phát triển cung cấp khoảng 80% vốn ODA cho
Việt Nam với nhiều chương trình, dự án quy mô lớn giúp Việt Nam phát triển cơ sở
hạ tầng kinh tế và xã hội.
2.2. Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và phát triển nông
thôn các tỉnh Miền Trung
2.2.1. Thu hút ODA cho nông nghiệp nông thôn các tỉnh Miền trung
Nông nghiệp và nông thôn Việt Nam là nơi 72.6% dân số Việt Nam sinh
sống, đóng góp khoảng 20.7% GDP, thu hút hơn 60% lao động và mang lại nguồn
thu chính cho cuộc sống của gia đình họ. Trong 15 năm qua, nông nghiệp đã có
những bước phát triển khá toàn diện với mức tăng trưởng trung bình 4-4.5%/năm.
Trong đó ODA đóng vai trò rất quan trọng cho sự tăng trưởng của ngành Nông
nghiệp.
Về quy mô, trong những năm qua, Nông nghiệp là một trong những ngành
được quan tâm lớn với nguồn tài trợ ODA luôn trong khoảng trên dưới 350 triệu
USD/năm (năm 2005- 353 triệu USD, 2006- 387 triệu USD và năm 2007- 376 triệu
USD) và được duy trì đều đặn sự cân đối giữa các lĩnh vực Nông nghiệp, Lâm
nghiệp, thủy lợi cũng như phát triển nông thôn tổng hợp. Trong số đó, tỷ trọng vốn
không hoàn lại trong tổng vốn ODA huy động tương đối cao. Riêng giai đoạn 2003-
2007 ngành nông nghiệp đã thu hút được 187 dự án với 1282.4 triệu USD, trong đó
có 458.6 triệu USD không hoàn lại và 823.8 triệu USD vốn vay ưu đãi.
Theo số liệu thống kê, tỷ trọng trong ngân sách đầu tư cho nông nghiệp và
phát triển nông thôn trung bình 5.9% chi ngân sách và chỉ đáp ứng được 50-60% nhu