CHƯƠNG 1 - LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU
QUẢ CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU NÔNG SẢN
1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu rau quả ở doanh nghiệp
xuất khẩu nông sản
1.1.1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu rau quả
Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ sang một quốc gia khác, sử dụng
tiền tệ làm đơn vị thanh toán trên cơ sở tỉ giá trao đổi. Tiền tệ ở đây là ngoại tệ đối với
một trong hai quốc gia hoặc cả hai quốc gia. Hoạt động xuất khẩu được thực hiện dựa
trên việc khai thác lợi thế tương đối của mỗi quốc gia trong phân công lao động quốc tế.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trên phạm vi rất rộng. Nó có thể diễn ra
trong một thời gian ngắn nhưng cũng có thể kéo dài trong nhiều năm. Xuất khẩu đem lại
lợi ích cho tất cả các nước tham gia.
Xuất khẩu là hình thức cơ bản và chủ yếu của hoạt động ngoại thương. Hoạt
động xuất khẩu đã ra đời từ rất sớm và phát triển mạnh mẽ. Nó diễn ra trên mọi lĩnh
vực, trong mọi điều kiện kinh tế và mục đích chủ yếu là đem lại lợi ích cho các quốc gia
tham gia. Ban đầu, xuất khẩu chỉ dưới hình thức hàng đổi hàng. Tuy nhiên đến nay nó
đã rất phát triển và có các hình thức thể hiện rất đa dạng.
Trong mọi lĩnh vực xuất khẩu thì thị trường xuất khẩu là thị trường ngoài nước,
việc buôn bán và trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia và dùng ngoại tệ làm
phương tiện trao đổi.
Từ khái niệm trên ta có thể thấy rằng, xuất khẩu hàng rau quả là việc xuất khẩu
mà mặt hàng được xuất khẩu ở đây là rau quả.
1.1.2. Đặc điểm của xuất khẩu rau quả
Đặc điểm của xuất khẩu rau quả gắn liền với những đặc thù chung của sản
phẩm rau quả.
- Rau quả là sản phẩm của nông nghiệp, vì vậy nó chịu ảnh hưởng lớn của điều
kiện tự nhiên như: khí hậu, đất đai, nhiệt độ, lượng mưa…. việc sản xuất mang tính thời
vụ, từ đó cũng hình thành thời vụ trong trao đổi, kể cả đối với xuất nhập khẩu.
- Sản phẩm rau quả là sản phẩm hữu cơ nên rất dễ hư hỏng trong một thời gian
ngắn nếu không được chế biến và bảo quản cẩn thận, gây ảnh hưởng đến giá và chất
lượng rau quả. Để đảm bảo xuất khẩu rau quả đến các thị trường xa gần, công tác bảo
trường lao động cả nước.
Xuất khẩu rau quả còn làm đòn bẩy cho khu vực nông thôn tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất tăng
năng suất lao động từ đó cân bằng lao động ở khu vực nông thôn và thành thị.
1.1.4. Vai trò của xuất khẩu rau quả đối với Tổng công ty Rau quả, Nông sản
Do Tổng công ty rau quả, nông sản Việt Nam kinh doanh chủ yếu là xuất khẩu
hàng nông sản, rau quả nên xuất khẩu rau quả có vai trò rất quan trọn đối với Tổng công
ty rau quả, nông sản Việt Nam.
Xuất khẩu rau quả sẽ tăng quy mô của do Tổng công ty ,xuất khẩu tạo điều kiện
cho Tổng công ty phát triển, thu hút nhiều lợi nhuận ,do đó đó Tổng công ty rau quả,
nông sản Việt Nam sẽ đầu tư cho sản xuất ,từ đó mở rộng quy mô của doanh nghiệp.
Xuất khẩu rau quả cũng sẽ thu hút được nhiều lao động, đồng thời tăng thu nhập và cải
thiện đời sống của cán bộ công nhân viên của Tổng công ty.
Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm đổi mới thường xuyên năng
lực sản xuất cho doanh nghiệp. Nói cách khác, xuất khẩu là cơ sở tạo thêm vốn và kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến của nước ngoài vào Tổng công ty nhằm hiện đại hoá trình độ
sản xuất.Thông qua xuất khẩu hàng hoá Tổng công ty sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh
trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi Tổng công
ty phải tổ chức lại sản xuất cho phù hợp với nhu cầu của thị trường. Xuất khẩu còn đòi
hỏi Tổng công ty phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh, nâng cao
chất lượng và hạ giá thành.
Không thể phủ nhận được tầm quan trọng của công tác xuất khẩu đối với Tổng
công ty rau quả, nông sản Việt Nam, bởi vì hoạt động kinh doanh chủ yếu của Tổng
công ty rau quả, nông sản Việt Nam là kinh doanh xuất khẩu và đó là nguồn thu chính
của Tổng công ty xuất khẩu, mang lại lợi nhuận cho Tổng công ty do vậy việc đẩy mạnh
xuất khẩu là một công việc hết sức cần thiết .Chỉ có đẩy mạnh xuất khẩu thì Tổng công
ty rau quả, nông sản Việt Nam mới thật sự phát triển mạnh mẽ vươn mình ra tầm cao
mới dó là vươn sang thị trường thế giới thúcc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát
triển không chỉ là các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc Tổng công ty rau quả, nông sản
Việt Nam mà còn là các đơn vị kinh doanh sản xuất rau quả khác.
hết được.
Nghiên cứu thị trường xuất khẩu rau quả là nhằm tìm hiểu các khía cạnh
sau:
+ Tìm hiểu về thị trường và nhu cầu của thị trường: nhu cầu về tiêu
dùng mặt hàng rau quả mà doanh nghiệp muốn xuất khẩu sang, tình hình cung hàng hóa
vào thị trường đó từ trước đến nay như thế nào, tình hình cạnh tranh về mặt hàng mà
doanh nghiệp dự định xuất khẩu vào thị trường đó ra sao.
+ Tình hình chính trị, luật pháp của nước đó như thế nào: Chất
lượng là vấn đề hàng đầu đối với một mặt hàng đặc thù như rau quả, do vậy doanh
nghiệp xuất khẩu nông sản sẽ phải tìm hiểu kĩ càng hệ thống chỉ tiêu chất lượng cũng
như biểu thuế quan đối với mặt hàng rau quả mà luật pháp nước sở tại đã ban hành để
tìm hiểu xem doanh nghiệp sẽ có được những ưu đãi và gặp phải những khó khăn gì khi
xuất khẩu hàng hóa vào quốc gia đó.
- Bán như thế nào? Chính là xuất khẩu rau quả dưới hình thức nào?
Hình thức mà doanh nghiệp lựa chọn để xuất khẩu mặt hàng rau quả
của mình chính là để trả lời cho câu hỏi doanh nghiệp bán hàng hóa như thế nào? Các
doanh nghiệp Nông sảnViệt Nam khi xuất khẩu thường tiến hành xuất khẩu trực tiếp,
hình thức này chiếm 85% giá trị kim ngạch xuất khẩu; ngoài ra còn có xuất khẩu qua
trung gian ( xuất khẩu ủy thác ) kèm theo đó là ưu điểm giảm bớt rủi ro đối với hàng rau
quả xuất khẩu. Đối với thị trường Trung Quốc, chủ yếu xuất khẩu theo phương thức bán
nội địa tại biên giới Việt Nam cho thương nhân Trung Quốc.
Việc lựa chọn đối tác kinh doanh phù hợp có ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Vì vậy để có thể lựa chọn đối tác kinh
doanh có thể làm ăn lâu dài, doanh nghiệp cần chú ý các yếu tố sau:
+ Quan điểm kinh doanh của doanh nghiệp đối tác.
+ Khả năng và tiềm lực tài chính của phía đối tác.
+ Các mối quan hệ của phía đối tác và uy tín của họ.
1.4.2. Xây dựng kế hoạch chiến lược xuất khẩu rau quả
Kết quả của quá trình nghiên cứu thị trường là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng
kế hoạch và chiến lược xuất khẩu rau quả. Đây là bước chuẩn bị nhằm dự kiến trước về
- Các đại lí thu mua rau quả.
- Các hợp tác xã, tư nhân, hộ gia đình.
- Các công ty con trực thuộc công ty mình quản lý.
1.4.3.2. Phân loại nguồn hàng theo phạm vi phân công của đơn vị kinh doanh xuất nhập
khẩu
- Nguồn hàng trong địa phương là nguồn hàng nằm trong khu vực hoạt
động kinh doanh của đơn vị. Ví dụ: Đối với Tổng công ty Rau quả, Nông sản thì nguồn
hàng trong địa bàn thành phố Hà Nội chính là nguồn hàng trong địa phương
- Nguồn hàng ngoài địa phương là nguồn hàng không thuộc phạm vi phân
công cho đơn vị xuất khẩu rau quả đó thu mua nhưng đơn vị đã tranh thủ lập được quan
hệ cung cấp hàng xuất khẩu
- Trong mối quan hệ giữa hai nguồn hàng trên đây, phương châm giải
quyết là: Cố gắng tận thu mua đối với nguồn hàng trong địa phương, tranh thủ điều kiện
thuận lợi khai thác nguồn hàng ngoài địa phương, hết sức tránh việc tranh mua với tổ
chức ngoại thương ở địa phương sở tại.
1.4.3.3. phân loại nguồn hàng theo phương thức thu mua
Trong thu mua tạo nguồn hàng, doanh nghiệp xuất khẩu Nông sản thường sử
dụng nhiều phương thức khác nhau. Các phương thức thu mua chủ yếu bao gồm:
- Bao tiêu (thu mua toàn bộ )
- Đặt hàng
- Đổi hàng
- Ký kết hợp đồng sản xuất rau quả.
- Thu mua tự do từ những người sản xuất nhỏ như hộ gia đình hay các đại lí
thu mua rau quả.
- Thu mua từ các đơn vị thành viên của doanh nghiệp (với các doanh nghiệp là
các Tổng công ty)
- Sử dụng hệ thống đại lý, các doanh nghiệp khác và tư nhân để thu mua.
1.4.4. Lựa chọn đối tác để giao dịch
Trong hoạt động xuất khẩu rau quả, việc lựa chọn đối tác giao dịch phù hợp sẽ
tránh cho doanh nghiệp phiền toái hoặc thiệt hại có thể gặp trong quá trình kinh doanh
giao hàng, điều kiện và thời gian thanh toán, bảo hành, bảo hiểm, các trường hợp khiếu
nại….
Có ba hình thức giao dịch đàm phán trong thương mại như sau:
1.4.5.1. Giao dịch đàm phán qua thư tín:
Ngày nay với sự phát triển của khoa học- kỹ thuật thì việc giao tiếp với nhau
qua thư tín rất dễ dàng, thông dụng, và được các nhà xuất nhập khẩu tận dụng triệt để.
Thông thường những cuộc tiếp xúc ban đầu của những người xuất nhập khẩu cũng
thường qua đường thư từ sau đó mới đến gặp gỡ trực tiếp và có thể sau khi gặp vẫn duy
trì quan hệ qua thư tín.
Giao dịch qua thư tín tiết kiệm được nhiều chi phí. Hơn nữa, trong cùng một
thời điểm có thể giao dịch được với nhiều khách hàng khác nhau. Người viết thư tín có
điều kiện để cân nhắc, suy nghĩ, tranh thủ ý kiến của nhiều ngưòi, khéo léo giấu kín ý
đồ của mình.
Nhược điểm của giao dịch qua thư tín là đòi hỏi nhiều thời gian chờ đợi, có thể
cơ hội tốt nhất sẽ trôi qua. Việc sử dụng điện tín khắc phục được phần nào nhược điểm
này. Khi sử dụng phương pháp đàm phán qua thư tín, nhà kinh doanh phải nhận thức rõ
rằng đối tác sẽ đánh giá mình qua thư từ mình gửi đến. Bởi vậy cần phải hết sức lưu ý
trong việc viết thư. Những nhà kinh doanh lâu năm bằng thư tín thấy rằng: giao dịch
bằng thư tín phải đảm bảo những yêu cầu: lịch sự, chính xác, khẩn trương và kiên nhẫn.
1.4.5.2. Giao dịch đàm phán qua điện thoại:
Việc trao đổi qua điện thoại nhanh chóng, giúp người giao dịch nhanh chóng
khẩn trương trong việc tiến hành giao dịch vào đúng thời cơ cần thiết. Nhưng chi phí
cho tiền cước điện thoại giữa các nước khá cao do vậy các cuộc trao đổi bằng điện thoại
thường bị hạn chế về mặt thời gian, các bên tham gia không thể trình bày chi tiết các
vấn đề qua điện thoại, mặt khác trao đổi qua điện thoại là trao đổi bằng miệng do vậy
không có cơ sở pháp lý cho việc xác định vấn đề trao đổi nên nó chỉ được dùng trong
trường hợp cần thiết, khẩn trương, sợ lỡ thời cơ hoặc trong điều kiện mọi thoả thuận cần
thiết đã xong rồi, chỉ còn chờ xác nhận một vài chi tiết... Khi sử dụng điện thoại, cần
chuẩn bị thật chu đáo để có thể trả lời ngay mọi vấn đề được nêu một cách trính xác.
Sau khi trao đổi bằng điện thoại, cần có thư xác nhận nội dung đã đàm phán thoả thuận.
nhầm. Ngoài tên chung, tên thương mại phải gắn với ký mã hiệu địa danh sản xuất, tên
khoa học, tên hãng sản xuất...
- Điều khoản phẩm chất: phẩm chất hàng hóa rau quả là tổng hợp các chỉ tiêu về
chất lượng, các thông tin về thành phần, hạn sử dụng... để phân biệt giữa hàng hoá này
với hàng hoá khác. Khi đánh giá phẩm chất hàng hoá thì cần phải căn cứ vào tiêu chuẩn
quốc tế, tập quán các nước hay quy định của các bên, đồng thời thống nhất cách giải
thích và ghi rõ cách xác định trong hợp đồng.
- Điều khoản số lượng: trên thị trường thế giới tồn tại nhiều cách tính số lượng
khác nhau. Khi giao dịch thống nhất cách tính số lượng theo nội dung: kích thước, dung
tích, trọng lượng, đơn vị và đơn vị đóng kiện.
- Điều khoản giá cả: thông thường hai bên phải xác định đồng tiền chung, có thể
dùng đồng tiền nước nhập khẩu, xuất khẩu hoặc bên thứ ba nhưng phải là đồng tiền ấn
định và tự do chuyển đổi được. Mức giá nêu ra phải là giá quốc tế. Tuỳ thuộc từng điều
kiện cụ thể mà doanh nghiệp Nông sản thảo luận phương pháp định giá, có thể là giá cố
định, có thể là giá điều chỉnh lại, giá cả thường liên quan đến điều kiện cơ sở giao hàng
và các chi phí có liên quan đến trách nhiệm của các bên mua bán vì vậy cần ghi rõ trong
hợp đồng giá cả và điều kiện kèm theo.
Trong điều khoản giá cả cần ghi rõ mức giá và tổng số tiền lô hàng trong hợp
đồng đó.
- Điều khoản về bao bì: các bên thoả thuận với nhau về các vấn đề như chất
liệu, chất lượng, phương thức cung cấp và giá bao bì.
- Điều kiện cơ sở giao hàng: điều khoản này có ảnh hưởng giá cả. Điều kiện
giao hàng phải ánh mối quan hệ giữa giá hàng hoá và địa điểm giao hàng. Cơ sở của
điều kiện giao hàng là sự phân trách nhiệm giữa hai bên mua và bán về giao nhận hàng
như thuê phương tiện vận tải bốc dỡ hàng, bẩo hiểm, hải quan, nộp thuế xuất nhập khẩu.
- Điều khoản về giao hàng: đó là việc quy định thời hạn, địa điểm, phương thức
và việc thông báo giao hàng.
- Điều khoản về thanh toán: quy định rõ đồng tiền thanh toán, thời hạn và
phương thức trả tiền.
- Điều khoản về khiếu nại: quy cách thời hạn, thể thức khiếu nại.
có thể do đơn vị tự sản xuất, hàng thu mua trong dân…Hiện nay việc tập trung nguồn
hàng rau quả vẫn là một trong những bất cập của nghành xuất khẩu Nông sản do quy mô
sản xuất nhỏ lẻ, quy hoạch vùng trồng rau quả chưa có trọng tâm, số vùng chuyên canh
còn quá ít do đó khó tạo được nguồn hàng lớn tập trung để đáp ứng các đơn đặt hàng
lớn.
Nhìn chung, trong điều kiện hàng xuất khẩu ở nước ta về cơ bản là một nền sản
xuất nhỏ, phân tán, điều đó đòi hỏi phải thu mua tập trung làm thành từng lô từ nhiều
nguồn hàng ( chân hàng ).
Cơ sở pháp lý để tiến hành công việc đó là kí kết hợp đồng kinh tế giữa chủ
hàng xuất khẩu với các chân hàng.
- Đóng gói bao bì:
Hàng rau quả phải thực hiện đóng gói trước khi đưa đi xuất khẩu. Tùy thuộc
vào điều khoản bao bì của hợp đồng mà xác định cách thức bao gói, loại bao
bì và người cung ứng bao bì.
Chủ hàng xuất khẩu phải lựa chọn bao bì đóng gói phù hợp với các quy định
trong hợp đồng. Lựa chọn bao bì cho hàng hoá vật tư phải tính đến các nhân tố như:
điều kiện khí hậu, điều kiện vận tải, điều kiện về pháp luật, thuế quan và điều kiện chi
phí vận chuyển.
Bao vì đóng gói vật tư hàng hoá phải đáp ứng được các nhu cầu đặt ra là an
toàn, rẻ tiền, thẩm mỹ.
- Kẻ kí mã hiệu hàng hóa:
Ký mã hiệu quả hàng hoá có vai trò rất quan trọng cho việc đảm bảo thuận lợi
cho công tác giao nhận và hướng dẫn phương pháp, kỹ thuật bảo quản, vận chuyển, bốc
dỡ hàng hoá. Chính vì vậy việc kẻ ký mã hiệu cho hàng hoá phải rõ ràng, viết bằng mực
không phai màu, ghi đúng địa chỉ, ghi đủ các ký hiệu cần thiết (hàng tránh ẩm, hàng
tránh lạnh...).
Ký mã hiệu phải làm bằng sơn hoặc mực không phai nhạt, không làm ảnh
hưỏng đến chất lượng mùi vị mặt hàng rau quả.
1.4.7.3. Thuê phương tiện vận tải
Các phương tiện vận tải thường sử dụng hiện nay gồm có: vận tải
1.4.7.4. Mua bảo hiểm cho mặt hàng rau quả
Nhà kinh doanh xuất khẩu buộc phải mua bảo hiểm cho hàng hoá trong các
trường hợp sau:
- Khi hợp đồng mua bán ngoại thương quy định người bán hoặc người mua bảo
hiểm.
- Khi nhà xuất khẩu xuất theo điều kiện CIF, CIP
- Để ký các hợp đồng bảo hiểm cần nắm vững các điều kiện bảo hiểm. Hiện nay
trên thế giới người ta áp dụng rộng rãi điều khoản bảo hiểm Luân Đôn ( áp dụng từ ngày
1/1/1982 ), bao gồm điều khoản:
+ Điều kiện A
+ Điều kiện B
+ Điều kiện C
+ Điều kiện bảo hiểm trong chiến tranh
+ Điều kiện bảo hiểm đình công
Lựa chọn điều kiện bảo hiểm thường dựa trên các căn cứ sau:
- Tính chất hàng hoá
- Điều khoản của hợp đồng
- Tình trạng của bao bì và phương thức xếp hàng
- Loại tàu chuyên chở
- Tình hình chính trị xã hội
1.4.7.5. Thông quan xuất khẩu hàng rau quả
Hiện nay, nhiệm vụ thông quan xuất khẩu hàng hóa hầu hết thuộc trách nhiệm
của người xuất khẩu. Để làm thủ tục hải quan, trước hết, đơn vị xuất khẩu nông sản phải
kê khai hải quan và chuẩn bị hồ sơ hải quan. Sau khi cơ quan hải quan kiểm tra khai báo
của chủ hàng sẽ quyết định hình thức và tỉ lệ kiểm tra hàng hóa và ra quyết định xác
nhận làm thủ tục hải quan. Hàng hóa xuất khẩu sẽ được kiểm tra thực tế theo tỉ lệ đã
được cơ quan hải quan quyết định. Cơ quan hải quan tính thuế phải nộp lên thông báo
thuế. Doanh nghiệp tiến hành tính thuế phải nộp và lên thông báo thuế. Doanh nghiệp
tiến hành nộp thuế.
1.4.7.6. Giao nhận hàng xuất khẩu với tàu
Nếu việc khiếu nại không được giải quyết thoả đáng, hai bên có thể kiện nhau
tại hội đồng trọng tài ( nếu có thoả thuận trọng tài ) hoặc tại toà án.
1.3. Các hình thức xuất khẩu rau quả
1.3.1 Xuất khẩu rau quả trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các loại hàng hoá rau quả do các doanh
nghiệp của Tổng công ty hoặc do các doanh nghiệp của các địa phương trong nước sản
xuất tới khách hàng nước ngoài thông qua các đơn vị thành viên của Tổng công ty.
Về nguyên tắc: Xuất khẩu trực tiếp có thể làm tăng thêm rủi ro trong kinh doanh,
song nó lại có những ưu điểm nổi bật:
- Giảm bớt chi phí trung gian do đó tăng lợi nhuận doanh nghiệp
- Có thể liên hệ trực tiếp và đều đặn với khách hàng và thị trường, biết được nhu cầu
của người tiêu dùng và thị trường, biết được nhu cầu của người tiêu dùng và tiến độ tiêu
thụ hàng hoá của thị trường thế giới, trên cơ sở đó có thể điều chỉnh khả năng cung ứng
sản phẩm và những điều kiện bán hàng cần thiết.
1.3.2. Xuất khẩu uỷ thác
Tổng công ty đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản xuất tiến hành
ký kết hợp đồng ngoại thương và các thủ tục cần thiết khác để xuất khẩu hàng hoá do
người khác sản xuất, thông qua đó thu được một số tiền nhất định dưới hình thức phí uỷ
thác xuất khẩu. Bên uỷ thác có thể là các đơn vị sản xuất trong nước hoặc các nhà sản
xuất nước ngoài.
Hình thức này bao gồm các bước:
- Ký hợp đồng xuất khẩu uỷ thác với các đơn vị trong nước.
Ký hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán tiền với bên nước ngoài.
- Nhận phí uỷ thác xuất khẩu từ đơn vị trong nước.
Ưu điểm của hình thức này là mức độ rủi ro thấp, đặc biệt là không cần bỏ vốn
kinh doanh, tạo được việc làm cho người lao động, đồng thời cũng thu được một khoản
lợi nhuận đáng kể trong hoạt động xuất khẩu uỷ thác. Không chịu trách nhiệm trong
việc tranh chấp và khiếu nại về chất lượng hàng hoá uỷ thác.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty
Rau quả, Nông sản
Nguyên nhân là do không có đủ điều kiện đầu tư cơ sở hạ tầng để ứng dụng các công
nghệ cao vào sản xuất. Bản thân các công nghệ cao đòi hỏi mức đầu tư lớn (nhà kính,
nhà lưới, sân bãi, mặt bằng, dây chuyền chế biến, bảo quản vận chuyển lạnh,…) và cần
có quy mô sản xuất tương xứng.
- Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên là yếu tố khách quan, không nằm trong sự kiểm soát của con
người. Đó là cái mà thiên nhiên ban tặng cho mỗi nước. Điều kiện tự nhiên có thể kể
đến là khí hậu, đất đai, tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý. Và sự ảnh hưởng của nó
không nhỏ đối với hoạt động sản xuất và hoạt động xuất khẩu, đặc biệt là sản xuất rau
quả.
Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu đặc trưng của mỗi vùng miền
tạo điều kiện thuận lợi trong việc đa dạng hoá sản phẩm rau quả; diện tích trồng rau, quả
của Việt Nam tăng nhanh trong những năm gần đây.
1.4.1.2. Ở nước nhập khẩu:
. Thị trường của nước nhập khẩu có ảnh hưởng rất rộng lớn vì nó chi phối toàn bộ
hoạt động xuất khẩu rau quả của doanh nghiệp. Thị trường bao gồm các yếu tố chủ yếu
sau:
- Nhu cầu của thị trường về rau quả: Rau quả là một mặt hàng thiết yếu
yếu của đời sống, cũng như các loại hàng hóa khác, nó cũng phụ thuộc vào thu nhập của
dân cư, cơ cấu dân cư và thị hiếu của người tiêu dùng. Khi thu nhập cao thì cầu về rau
quả càng tăng do ngày nay con người rất thich ăn rau quả thay cho thịt…Và thường thì
họ đòi hỏi rau quả phải được chế biến sạch, chất lượng tốt nhưng vẫn giữ được mùi vị.
Mỗi doanh nghiệp cần phải nghiên cứu nắm bắt được rõ nhu cầu của thị trường để lựa
chọn mặt hàng cũng như quy mô kinh doanh, xuất khẩu cho phù hợp.
- Lượng cung trên thị trường: Các doanh nghiệp khi tham gia xuất khẩu
cần phải tìm hiểu kỹ về khả năng xuất khẩu từng loại mặt hàng của mình cũng như của
các đối thủ cạnh tranh để tránh tình trạng lượng cung tăng nhanh dẫn đến dư cung gây
bất lợi cho doanh nghiệp của mình.
- Giá cả: Là thước đo sự cân bằng cung – cầu trong nền kinh tế thị
trường. Nó có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình kinh doanh vì nó quyêt định đến
còn bao gồm cả các điều khoản về khả năng truy nguồn thực phẩm... Hay các tiêu chuẩn
để tiếp cận thị trường EU cũng được ban hành trong quy định cơ bản EC 2200/96,
trong khung của chính sách nông nghiệp chung (CAP). Các sản phẩm không tuân thủ
các tiêu chuẩn này đều sẽ không được tham gia thị trường EU. Với sự trợ giúp của các
tấm thẻ màu, các công cụ đo lường và các mô tả nghiêm ngặt, có khả năng phân loại và
sắp xếp sản phẩm một cách hiệu quả. Đối với mặt hàng rau quả, bên cạnh luật pháp EU,
các nhà nhập khẩu rau quả tươi ở đây cũng có những tiêu chuẩn chất lượng của riêng
họ. Không chỉ có thế mà còn phải có chứng nhận phù hợp. Theo quy định EC
1148/2001, tất cả những lô hàng rau quả tươi nhập khẩu từ các nước bên ngoài khối EU
sẽ được yêu cầu một chứng nhận phù hợp, được thừa nhận trước khi chúng đưa vào thị
trường EU. Cụ thể như giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật là một tài liệu chính thức
chứng minh rằng sản phẩm được mô tả đã được kiểm dịch theo các thủ tục phù hợp,
được xem xét không có các côn trùng gây hại và phù hợp với các quy định hiện thời của
quốc gia nhập khẩu. Nếu việc nhập khẩu rau quả tươi không tuân thủ các yêu cầu,
những lô hàng này có thể không được đưa vào thị trường EU.
Muốn có được những đơn đặt hàng lớn từ thị trường nước ngoài, các
doanh nghiệp xuất khẩu Nông sản phải thực sự nắm rõ được hệ thống luật pháp của
nước nhập khẩu dành cho các sản phẩm của mình để tránh được những sai lầm không
đáng có.
1.4.3 Các yếu tố xã hội
Nhân tố này sẽ tác động đến thị hiếu, sở thích của người tiêu dùng do đó nó
có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Rau quả được xem
như là sản phẩm tiêu dùng hàng ngày, được ưa dùng ở hầu hết các nước và ít bị cản trở
tiêu dùng bởi các yếu tố văn hóa, xã hội.
1.4.4. Các yếu tố khác
Ngoài các yếu tố đã nêu ở trên còn một số các yếu tố khác tác động đến
xuất khẩu của Tổng công ty rau quả, nông sản Việt Nam như các yếu tố về nguồn nhân
lực đội ngũ cán bộ công nhân ,sự nỗ lực của các cán bộ đi đàm phán ký kết hợp đồng
các mối quan hệ của Tổng công ty rau quả, nông sản Việt Nam cũng ảnh hưởng đến
hoạt động xuất khẩu ...
Trong giai đoạn này chính sách về xuất nhập khẩu rau quả của Nhà nước có sự
thay đổi, cho phép hàng loạt doanh nghiệp kinh doanh và xuất khẩu rau quả ra đời và
đi vào hoạt động, làm đánh mất vị trí độc tôn của VEGETEXCO trên thị trường rau
quả nông sản Việt Nam. Môi trường cạnh tranh gay gắt buộc các doanh nghiệp muốn
tồn tại phải có sự đầu tư, nghiên cứu, thay đổi cơ chế hoạt động phù hợp và không
ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm.
Không đứng ngoài vòng thay đổi của nền kinh tế, tổng công ty rau quả nông sản
đã sắp xếp lại bộ máy tổ chức, hoàn thiện và củng cố các đơn vị theo hướng giảm đàu
mối, tinh giảm bộ máy quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Giai đoạn 3 (1996-2002)
Trải qua thời kì chuyển cơ chế với nhiều khó khăn thử thách, trong giai đoạn
nay, công ty đã tìm được cho mình một hướng đi vững chắc hơn, mở rộng quy mô
hoạt động, đa dạng hóa sản phẩm và đa dạng hóa thị trường.
Bất chấp những thách thức về sự biến động nền kinh tế thế giới (chịu ảnh hưởng
lớn nhất từ cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997), với năng lực sẵn có cùng với sự
giúp đỡ, hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, Tổng công ty vẫn hoàn thành kế hoạch chung,
đồng thời đạt những kết quả đáng mừng. Giá trị năm sau luôn cao hơn những năm
trước và vượt chỉ tiêu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra.
Giai đoạn 4 (2003-nay)
Ngày 11-06-2003 Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam được thành lập trên
cơ sở sát nhập của 2 tổng công ty lớn là Tổng công ty Rau quả Việt Nam và Tổng
công ty Xuất, nhập khẩu nông sản và thực phẩm chế biến theo quy đinh 66/QĐ – BNN
– TCCB của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Hiện nay tổng công ty mở rộng quy mô hoạt động hơn truớc, cụ thể bao gồm các
đơn vị thành viên như sau: 3 đơn vị phụ thuộc, 22 đơn vị hạch toán độc lập, 8 doanh
nghiệp cổ phần, 5 đơn vị liên doanh, đông thời Tổng công ty còn có cơ quan đại diện
tại Moscow ở CHLB Nga và Philadenphia ở Mỹ.