Nghiên cứu về Hoa Kỳ Nguyễn Đức Lợi-THPT
Phù Ninh
Vài nét chấm phá về Hoa Kỳ
Chơng I
Một trong nhiều các kiểu di c và cơ cấu dân c thiểu số
Câu chuyện về ngời Mỹ là câu chuyện về sự di c và sự đa dạng. Hoa Kỳ
là quốc gia hàng năm đón số lợng ngời nhập c nhiều hơn bất cứ một quốc gia
nào khác-tất thảy hơn 50 triệu ngời và hàng năm vẫn tiếp tục đón nhận khoảng
70 vạn ngời. Trớc đây nhiều nhà văn đã ám chỉ tới sự hoà đồng văn hoá-Một
hình ảnh gợi ý, nhắc nhở rằng những ngời nhập c mới đã từ bỏ những thói
quen, tập tục cũ của họ để chấp nhận lối sống Mỹ. Một ví dụ điển hình là hầu
hết con em của những ngời nhập c mới đều học tiếng Anh thay vì học ngôn
ngữ của cha mẹ chúng. Trong những năm gần đây, dờng nh ngời Mỹ đã ý thức
đợc những giá trị ngày càng tăng lên của sự đa dạng văn hóa. Các cộng đồng
thiểu số đã và đang cố gắng khôi phục và lu truyền các giá trị vă hoá truyền
thống của họ và con em của họ lớn lên với hai ngôn ngữ.
-Ngời Mỹ gốc:
Những ngời Mỹ nhập c đầu tiên đến vùng đất mới khoảng 20.000 năm
trớc đây. Họ là những ngời đi lang thang, những ngời thợ săn cùng gia đình
của mình bám đuổi những đàn thú hoang từ Châu á tới Châu Mỹ, vợt qua
vùng đất nay là eo biển Bơ-ring. Khi nhà thám hiểm ngời Tây Ban Nha Cô-
lôm-bô tìm ra thế giới mới năm 1492, đã có khoảng 1,5 triệu ngời Mỹ gốc
đang sống ở vùng đất mà ngày nay gọi là Châu Mỹ. Do nhầm lẫn vùng đất
San-va-đo thuộc Ba-ha-ma và thổ dân vùng này, Cô-lôm-bô gọi chung tất cả
những ngời ở đây là thổ dân Mỹ bản xứ.
Trong suốt 200 năm tiếp theo, nhiều ngời thuộc các quốc gia Âu Châu
theo chân Cô-lôm-bô vợt Đại tây dơng đến khám phá Châu Mỹ, xây dựng các
cơ sở buôn bán và thiết lập các vùng thuộc địa. Những ngời Mỹ gốc bị ảnh h-
ởng nghiêm trọng bởi dòng ngời đến từ Châu Âu. Sự chuyển đổi sở hữu đất đai
từ thổ dân sang ngời đến từ Châu Âu-Ngời Mỹ ngày nay luôn gắn liền với các
cuộc chiến, các hiệp định và thậm chí qua các cuộc tranh giành cớp đoạt.
ngôn của phong trào cách mạng, đồng thời cũng là ngời gốc Anh đã viết rằng
Chính Châu Âu, chứ không phải nớc Anh, là quê cha đất tổ của nớc Mỹ
Những lời trên ám chỉ những ngời định c không chỉ đến từ nớc Anh mà còn
đến từ các quốc gia Châu Âu khác nh: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Hà
Lan, Đức và Thuỵ Điển. Tuy nhiên tính đến 1870, 3/4 ngời Mỹ có nguồn gốc
từ Anh hoặc Ai-xơ-len.
Từ 1840 đến 1860, Hoa Kỳ tiếp nhận đợt di c lớn đầu tiên. Trên toàn
vùng lãnh thổ Châu Âu nạn đói, tình trạng mùa màng thất bát, dân số các quốc
gia đều tăng, tình trạng náo động liên miên đã buộc khoảng 5 triệu ngời phải
rời bỏ quê quán hàng năm. ở Ai-xơ-len, bệnh rệp vừng đã tàn phá vụ khoai
tây, hơn 750.000 ngời chết đói. Nhiều ngời sống sót phải ra đi. Chỉ trong một
năm 1847, số ngời Ai-xơ-len di c tới Hoa Kỳ tăng lên tới 118.120. Hiện nay có
khoảng 39 triệu ngời Mỹ gốc Ai-xơ-len.
Sự thất bại của cuộc cách mạng Đức (năm 1848-1849) đã buộc nhiều
ngời Đức phải di c. Trong suốt cuộc nội chiến (1861-1865) chính phủ Liên
Bang đã huy động ngời nhập c nhất là từ Đức gia nhập quân đội. Để trả công
những ngời phục vụ quân đội đợc thởng đất. Tính đến 1865, khoảng 1/5 binh
lính là những ngời di c thời chiến tranh. Ngày nay khoảng 22% dân số Mỹ có
tổ tiên gốc Đức.
Ngời gốc Do Thái đến Hoa Kỳ với số lợng lớn vào năm 1880, một thập
kỷ họ phải chịu cảnh tàn sát đẫm máu ở các quốc gia Tây Âu. Hơn 45 năm
sau, hai triệu ngời Do thái chuyển đến sống ở Hoa Kỳ. Số dân Mỹ gốc Do thái
hiện nay khoảng hơn 5 triệu ngời.
Cuối thế kỷ 19 số ngời đổ xô vào nớc Mỹ đông tới mức chính phủ thiết
lập một cảng đặc biệt ở Ily Ai-len nằm trong cảng của thành phố New
York. Cảng này đợc mở giữa năm 1892 và dừng hoạt động vào năm 1954.
Cảng đặc biệt này là cửa vào đất Mỹ của 12 triệu ngời. Ngày nay nó đợc bảo
tồn nh là một phần của tợng đài tự do dân tộc.
Bức tợng Thần Tự Do là quà tặng của nớc Pháp cho ngời dân Mỹ vào
năm 1886, đứng trên một hòn đảo nằm trong cảng New York gần đảo Ellit.
Vào cuối thập kỷ 50 và đầu thập kỷ 60, những ngời Mỹ gốc Phi mà tiêu
biểu là mục s Mác-tin Lu-thơ-Kinh đã kêu gọi sử dụng các biện pháp nh tẩy
chay, xuống đờng và các hình thức phản kháng phi bạo lực khác để đòi quyền
đợc đối xử công bằng theo pháp luật và chấm dứt kỳ thị chủng tộc.
Cao điểm của phong trào đấu tranh đòi quyền công dân diễn ra vào ngày
28-8-1963, khi hơn 200.000 ngời thuộc mọi chủng tộc tụ tập trớc đài tởng
niệm Lin Côn ở thủ đô Oa-sinh-tơn để nghe Lu-thơ-kinh diễn thuyết Tôi luôn
ấp ủ một ớc mơ cháy bỏng rằng một ngày nào đó trên những quả đồi rải thảm
đỏ của bang Gioóc- gia những đứa con của những ngời nô lệ cũ và những đứa
con của các chủ nô cũ có thể ngồi chung với nhau xung quanh
một chiếc bàn đầy tình bằng hữuTôi luôn ấp ủ một ớc mơ rằng bốn đứa con
nhỏ bé của tôi vào một ngày nào đó sẽ đợc sống trong một quốc gia mà ở đó
chúng không bị đánh giá qua màu da mà đánh giá qua nhân cách. Không lâu
sau đó, quốc hội thông qua đạo luật chống phân biệt chủng tộc trong tuyển cử,
giáo dục, việc làm, nhà ở cá nhân và nhà công.
Ngày nay cộng đồng ngời Mỹ gốc Phi chiếm 12,7% trong tổng dân số
Hoa Kỳ. Trong những thập kỷ gần đây ngời da đen đã tạo ra những bớc nhảy
vọt, giai cấp da đen trung lu luôn phát triển ổn định. Vào năm 1996, tổng số
44% công nhân da đen có việc làm và đã nắm những vị trí vốn trớc đây của
ngời da trắng-Gồm các vị trí quản lí, nghề nghiệp và hành chính chứ không chỉ
đơn thuần làm những công việc chân tay hoặc dịch vụ. Cùng năm đó 23% tổng
số nhân công da đen độ tuổi từ 18 đến 24 đã đợc tuyển chọn vào các trờng cao
đẳng và đại học, trong khi năm 1983 chỉ có 15%. Thu nhập trung bình của ng-
ời da đen so với ngời da trắng thì thấp hơn nhiều. Tuy vậy tỷ lệ thất nghiệp ở
ngời da đen-Đặc biệt là trong giới trẻ-hãy còn cao hơn so với ngời da trắng. Và
còn rất nhiều ngơì Mỹ da đen vẫn còn luẩn quẩn trong cảnh đói nghèo, đầy
rẫy cảnh nghiện ngập và tội ác.
Trong những năm gần đây mấu chốt trọng tâm của cuộc tranh cãi về
quyền dân sự đã và đang thay đổi. Khi các đạo luật chống phân biệt chủng tộc
có hiệu lực, ngời Mỹ da đen đã nhanh chóng bớc vào tầng lớp trung lu, vấn đề
các cuộc tranh luận về vấn đề sử dụng ngôn ngữ. Một số ngời nói tiếng Anh so
sánh với Canađa nơi có hai ngôn ngữ song hành tồn tại (tiếng Anh và tiếng
Pháp) luôn xuất hiện xu hớng ly khai. Để ngăn chặn xu hớng phát triển có thể
có này, một số ngời kêu gọi ban hành một đạo luật tuyên bố tiếng Anh là ngôn
ngữ chính thức của ngời Mỹ.
Nhiều ngời khác lại cho rằng việc xem xét ban hành một đạo luật nh
vậy là không cần thiết bởi đôi khi lợi bất cập hại. Họ chỉ ra những sự khác biệt
giữa Hoa kỳ và Canađa (ở Canađa, hầu hết những ngời nói tiếng Pháp sống
cụm lại tại một vùng-Tỉnh Quê-Bếc, trong khi đó những ngời nói tiến Tây Ban
Nha sống phân tán ở hầu hết các bang của Hoa Kỳ). Họ còn lấy Thuỵ Sĩ nh
một minh chứng nơi tồn tại cùng một lúc nhiều ngôn ngữ song khối đại đoàn
kết dân tộc không hề bị tổn hại. Công nhận tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức-
nh họ nói-cũng chính là sự bêu xấu những ngời nói ngôn ngữ khác và làm cho
họ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống thờng nhật.
-Những giới hạn đối với những ngời nhập c mới:
Tợng Nữ Thần Tự Do bắt đầu soi đờng cho những ngời nhập c mới vào
đúng lúc những ngời Mỹ bản xứ cảm thấy lo lắng rằng đất nớc họ cho phép
dòng ngời nhập c đổ vào đông qúa mức cần thiết. Nhiều ngời e sợ nền văn hoá
của họ bị đe doạ, công ăn việc làm bị cạnh tranh do những ngời nhập c chấp
nhận công việc với mức lơng thấp. Năm 1924, Quốc hội thông qua đạo luật
nhập c Giôn-Sơn Rít, theo đó lần đầu tiên Hoa Kỳ đa ra những hạn chế đối với
số lợng ngời cho mỗi quốc gia. Số lợng ngời đợc phép nhập c từ một nớc nào
đó đợc tính trên số lợng ngời hiện đang sống ở Hoa Kỳ. Do đó các mô hình di
c trong hơn 40 năm tiếp theo phản ánh cộng đồng nhập c hiện hữu chủ yếu là
ngời nhập c từ Châu Âu và Bắc Mỹ.
Trớc năm 1924, luật pháp Hoa Kỳ nghiêm cấm ngời nhập c đến từ Châu
á. Ngời dân ở các vùng phía Tây e rằng ngời Trung Quốc và những ngời gốc
Châu á khác sẽ cớp hết việc làm do vậy đã dấy lên sự kỳ thị chủng tộc chống
lại ngời Châu á. Đạo luật cấm ngời nhập c Trung Quốc bị bãi bỏ năm 1943 và
một đạo luật khác thông qua năm 1952 cho phép ngời thuộc mọi chủng tộc
nhau.
-Những ngời nhập c bất hợp pháp:
Cơ quan đặc trách Hoa Kỳ về Di c và Nhập quốc tịch ớc lợng rằng hiện
có khoảng 5.000.000 ngời đang sống bất hợp pháp tại Hoa Kỳ, con số này
hiện tiếp tục tăng mỗi năm khoảng 275.000 ngời . Những ngời Mỹ sinh ra tại
Mỹ và những ngời nhập c hợp pháp rất lo lắng về tình trạng nhập c bất hợp
pháp. Rất nhiều ngời tin rằng những ngời di c bất hợp pháp (hay còn gọi là
Những vị khách không mời chiếm mất công việc của họ, đặc biệt là những
công việc của giới trẻ và công việc của cộng đồng thiểu số. Còn xa hơn thế,
những vị khách không mời còn đặt ra một gánh nặng lên các dịch vụ xã hội do
thuế ngời dân chi trả.
Năm 1986 Quốc Hội đã khôi phục lại luật di trú để đối phó với những
ngời nhập c bất hợp pháp, rất nhiều trong số ngời đến đây từ trớc năm 1982 đ-
ợc coi là hợp pháp để đứng đơn xin c trú hợp pháp hoặc dần dần đợc phép ở lại
lâu dài. Năm 1990, gần 900.000 ngời tận dụng đạo luật này để giành đợc vị trí
hợp pháp . Luật này cũng đua ra những biện pháp nghiêm khắc để đáu tranh
với vấn đề nhập c bất hợp pháp ngày càng gia tăng, đồng thời đa ra các hình
phạt đối với các cơ sở kinh doanh cố tình thuê những vị khách bất hợp pháp
này.
-Những hệ quả di sản:
Dòng ngời ồ ạt kéo đến nớc Mỹ bằng tàu bè đã và đang tạo ra những hệ
luỵ sâu sắc đối với tính cách ngời Mỹ. Họ quả rất can trờng và mu mẹo để rời
quê hơng đến vùng đất hoàn toàn xa lạ. Ngời Mỹ vốn đựơc coi là những ngời
sẵn sàng chấp nhận rủi ro và luôn muốn khám phá những điều mới lạ vì độc
5
Nghiên cứu về Hoa Kỳ Nguyễn Đức Lợi-THPT
Phù Ninh
lập và một tơng lai sáng láng. Những ngời Mỹ có gia đình sống lâu năm ở đây
cho mình đợc hởng thụ vật chất và tự do chính trị nh một điều tất yếu. Sự hiện
ing-lần, lòng mến khách của ngời phơng Nam, tính hiền lành chân thật của ng-
ời miền Trung tây. tính nhẹ nhàng thanh lịch của ngời miền TâyPhần sau đây
sẽ đề cập đến một số vấn đề liên quan đến vị trí địa lý, lịch sử, những tập tục
của 6 vùng chủ yếu của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ:
6
Nghiên cứu về Hoa Kỳ Nguyễn Đức Lợi-THPT
Phù Ninh
Vùng Niu-ing-lần: Gồm các bang Mên, Niu-hăm-sphia, Vơ-mần, Ma-
cha-chu-sét, Con-nếc-ti-cớt và Rốt-ai-lần.
Vùng Trung Đại tây dơng: gồm Niu-joóc, Niu-jơ-sy, Pen-si-vơ-nia, Di-
la- gue và Ma-ry-len.
Vùng phía Nam: Vùng đất trải dài từ nam Vơ-gi-nia đến bang Phờ-lo-ri-
đa, từ miền Tây chạy tới miền trung Tếc-dát. Vùng này còn bao gồm: Tây-vơ-
gi-nia, Ken-tớc-ki, Ten-net-si, Bắc Ca-ro-li-na, Nam Ca-ro-lai-na,Gióoc-gia, A-
la-ba-ma, Mít-si-si-pi, Ac-can-sát, Lu-si-a-na và một số vùng của bang Mit-su-
ri và A-la-hô-ma.
Vùng Trung tây: Gồm một lọat các bang chạy về hớng Tây tính từ bang
Ô- hai-ô tới bang Nê-bra-sca. Các bang này gồm: Mi-chi-gân, In-đi-a-na,
Guy-côn-sin, I-li-noi, Min-ne-sô-ta, I-ô-gua, một số vùng của bang Mit-su-ri,
Bắc Đa-cô-ta, bang Can-dát và Đông Clô-ra-đô.
Vùng Tây nam: Bao gồm vùng tây Tếc-dát, Ô-la-hô-ma, Niu-Mê-xi-cô,
A-ri- rô-na, Nê-va-Đa, và vùng trong phía Nam của bang Ca-li-phoóc-nia.
Vùng phía Tây: Gồm các bang Cô-lô-ra-đô, Guy-ô-ming, Mon-ta-na, U-
ta, Ca-li-pho-nia, Nê-va-Đa. I-da-ho, O-ri-gân, Oa-sinh-tơn, A-lát-ca và quần
đảo Ha- oai.
(Cần ghi nhớ rằng sự phân chia này không phải là duy nhất, đơn giản
giúp bạn đọc làm quen với Hoa Kỳ mà thôi).
-Sự đa dạng vùng:
Trong thực tế tất cả ngời Mỹ đều có thể xem chung một chơng trình
truyền hình, đều có thể cùng đến các quán bán đồ ăn nhanh để dùng bữa tối,
theo đạo Tin lành. Họ đến định c cùng với niềm tin của họ. Nhiều ngời đến
vùng đất mới hy vọng tìm kiếm tự do tôn giáo. Họ đem đến vùng đất mới một
mô hình chính trị đặc biệt-tuần hành trên phố-một việc làm của những thế hệ
trớc, ở đó các công dân tụ tập nhau lại, thảo luận các vấn đề bức xúc, chỉ
những ngời giàu có mới có quyền bỏ phiếu. Các cuộc tụ tập xuống đờng đem
lại cho c dân mới của vùng đất nay khả năng tham gia quản lý với trình độ cao
khác thờng. Các cuộc xuống đờng nh thế này vẫn còn tiếp diễn trong một số
cộng đồng dân c cho tới ngày nay.
Tơng tự nh ở phía Nam, những c dân mới của vùng Niu-ing-lần khó có
điều kiện canh tác trên các ô thửa lớn. Vào năm 1750, những c dân mới
chuyển hớng làm ăn. Chỗ dựa chính của vùng này dựa chủ yếu vào ngành
đóng tàu, thuyền, đánh cá và kinh doanh. Trong mọi hoạt động, ngời dân xứ
này nổi tiếng là những ngời cần cù, thông minh, tiết kiệm và lanh lợi.
Những tính cách này đi cùng với cuộc cách mạng công nghiệp đến Hoa
Kỳ vào nửa đầu thế kỷ thứ 19. ở Ma-sa-chu-set, Con-nec-ti-cớt, và Rốt-ai-lần
các nhà máy mới xây dựng thúc đẩy nhanh sự phát triển sản xuất hàng hoá:
Nh đồ may mặc, súng và đồng hồ. Điều đó giúp các cơ sở kinh doanh ở Niu-
ing-lần thu hút đợc nhiều tiền của bang Bốt-stơn, một bang đợc coi là trung
tâm tài chính của cả nớc.
C dân Niu-ing-lần luôn bảo tồn đời sống văn hoá sống động của mình.
Nhà phê bình Van ích Bơ-rúc gọi sự sáng tạo nền văn học Mỹ khác biệt này
vào cuối thế kỷ 19 là Sự nở hoa của ngời vùng Niu-ing-lần. Giáo dục cũng đ-
ợc coi là di sản có sức sống mạnh mẽ nhất với hệ thống đào tạo trải đều từ hệ
đại học tới cao đẳng bao gồm các trờng đại học Ha-vớt, Yale, Bờ-rao, Da-
smao, Que-slây, Smít, Ho-ly-ióoc, Guy-li-am, Am-hớt và Guet-lây-ơ, biến
Niu-ing-lần thành vùng có hệ thống giáo dục đào tạo phát triển không bang
nào trên toàn lãnh thổ có thể so bì đợc.
C dân gốc của vùng Niu-ing-lần có xu hớng sống trải dần về hớng Tây,
điều này cũng sảy ra tơng tự đối với những ngời nhập c từ Ca-na-đa, Ai-sơ-len,
Italia và Đông âu. Mặc dù có sự thay đổi liên tục về dân số, những giá trị tinh
địa tổ chức cuộc cách mạng Mỹ sau này. Thành phố này còn là quê hơng của
bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 và hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787.
Do ngành công nghiệp nặng nằm dàn trải trong vùng nên các sông nh
Di-la-gue và Hu-sơn trở thành đờng vận tải có tầm quan trọng sống còn. Các
thành phố trên trục đờng thuỷ- Niu-Gioóc bên sông Hu-sơn, Phi-la-đen-phi-a
bên sông Đi-la-gue và Ban-ti-mo bên vịnh Chi-sơ-píc phát triển rất nhanh
chóng. Niu-Gioóc là thành phố lớn nhất của cả nớc, là trung tâm tài chính và
văn hoá của toàn liên bang.
Giống nh vùng Niu-ing-lần, vùng trung Đại tây dơng cũng là nơi các
ngành công nghiệp nặng đợc tái bố trí lại. Các ngành công nghiệp khác nh
ngành công nghiệp dợc phẩm, thông tin liên lạc cũng xuất hiện với các nhà
máy mọc rải rác khắp mọi nơi.
-Miền Nam:
Các bang miền Nam có lẽ là các bang có nhiều bản sắc rực rỡ và khác
biệt nhất Hoa Kỳ. Cuộc nội chiến (1861- 1865) đã tàn phá miền Nam cả về cơ
cấu xã hội và cơ cấu kinh tế, tuy vậy nó vẫn giữ đợc những đặc tính không thể
nhầm lẫn đợc.
Giống nh vùng Niu-ing-lần, các c dân đầu tiên đều là ngời Anh tin lành.
Nhng trong khi những ngời định c ở Niu-ing-lần cố gắng gìn giữ những khác
biệt truyền thống của quê hơng mình thì những ngời định c ở miền Nam có xu
hớng cạnh tranh với chính ngời Anh. Dẫu sao ngời miền Nam vẫn đóng vai trò
chủ chốt trong giới lãnh đạo của cuộc cách mạng Mỹ. Bốn trong tổng số 5 vị
tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ đều là ngời bang Vơ-gi-nia. Tuy nhiên, kể từ
năm 1800 sự phân hoá giữa miền Bắc và miền Nam xảy ra do bất đồng về lợi
ích nhằm phát triển công nghiệp ở miền Bắc và các vấn đề ruộng đất ở miền
Nam bắt đầu trở nên phức tạp.
Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi các c dân miền Nam, đặc biệt các vùng
ven biển trở nên giàu có hơn nhờ trồng và bán bông và thuốc lá. Cách thức
hiệu quả nhất để trồng các loại nồng sản này là ở các trang trại, nơi đòi hỏi
một lực lợng lao động lớn. Để thoả mãn nhu cầu lực lợng lao động, các chủ
của thế kỷ thứ 18 những ngời miền Đông di c đến miền trung Tây để tìm kiếm
những vùng đất màu mỡ hơn, không lâu sau đó, những ngời Âu Châu vợt qua
bờ biển phía Đông để đi c sâu vào vùng nội địa: Ngời Đức ở vùng phía Đông
bang Mit-su- ri, ngời Thuỵ Điển và Na Uy ở bang Guy-cô-sin và Mi-ni-sô-ta.
Đất đai màu mỡ của vùng này tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân sản xuất
những vụ ngũ cốc bội thu nh lúa mì, ngô và yến mạch. Vùng đất này nhanh
chóng nổi tiếng là vựa lúa mì của cả nớc.
Hầu hết đất đai miền trung Tây đều bằng phẳng. Sông Mít-si-si-pi đợc
coi nh là nguồn cung cấp nguồn sống cho cả vùng, tạo điều kiện cho ngời định
c có đợc những ngôi nhà mới và nguồn thực phẩm phong phú cung cấp cho thị
trờng. Chính dòng sông này là chủ đề cho hai tác phẩm cổ điển trong văn học
Mỹ, do nhà văn ngời Mit-su-ri, Samuel Clê-men với bút danh Mak-Tuên:
Cuộc sống trên dòng sông Mit-si-si-pi và Cuộc phiêu lu của Hắc-li- bơ-ry
Phin.
Ngời dân miền Trung tây đợc coi là những ngời cởi mở, thân thiện và
thẳng tính. Xu hớng chính trị của họ luôn có tính thận trọng. Tuy nhiên, sự cẩn
trọng đó đôi khi bị trừng phạt bởi những lời chống đối. Miền Trung tây đã sản
sinh ra một trong hai đảng phái chính trị lớn của nớc Mỹ-Đảng Cộng Hoà, vốn
đợc thành lập vào những năm của thập kỷ 1850 nhằm chống lại s bành chớng
của chế độ nô lệ sang các bang mới khác. Vào những năm cuối của thế kỷ 18,
vùng này cũng đã sản sinh ra Phong Trào Tiến Bộ bao gồm nông dân và th-
ơng gia với mục tiêu làm cho chính phủ bớt tham nhũng, biết
chấp nhận ý chí của ngời dân. Có thể do vị trí địa lý mà ngời miền trung Tây
mang nặng t tơng biệt lập với niềm tin rằng bản thân ngời Mỹ không cần quan
tâm tới các vấn đề hoặc các cuộc chiến ngoài nớc Mỹ.
Trung tâm của miền trung Tây là thành phố Chi-ca-gô thuộc bang I-li-
noi, thành phố lớn thứ ba trong cả nớc. Cảng hồ lớn có tầm quan trọng nay là
đầu mối của hệ thống đờng sắt và đờng không tới những vùng xa xôi khác
trong nớc và quốc tế. Tại trung tâm Chi-ca-gô có tháp Si đứng sừng sững với
chiều cao 447 mét, một toà nhà cao nhất thế giới.
cho thung lũng trung tâm của bang Ca-li-phoóc-ni-a, nơi ngời ta ghi nhận là
nơi sản xuất hoa quả và rau chủ yếu cho cả vùng.
-Miền Tây:
Ngời Mỹ vốn vẫn coi miền Tây là phân giới cuối cùng. Tuy nhiên, Bang
Ca-li-foóc-ni-a có lịch sử của ngời Châu âu định c lâu dài hơn hầu hết
các bang ở miền Trung tây. Các cha cố ngời Tây Ban Nha nhận sứ mạng
truyền đạo ở vùng duyên hải bang Ca-li chỉ một vài năm cuộc cách mạng Mỹ
nổ ra . Vào thế kỷ thứ 19, Bang Ca-li và Ô-re-gơn gia nhập Liên bang trớc
nhiều bang ở miền Đông.
Miền Tây là một vùng mà xét về quy mô thì chỗ nào cũng có vẻ đẹp tự
nhiên diệu kì .Toàn bộ 11 bang của Hoa kỳ một phần mang địa hình núi đồi,
các rặng núi với địa hình mang đầy sự tơng phản. Các đỉnh núi phía Tây gió từ
phía Thái bình dơng thổi vào mang theo hơi nớc khiến đất ở đây luôn dồi dào
hơi nớc. Tuy nhiên, phần phía Đông đất đai rất khô hạn. Nhiều nơi phía Tây
của bang Oa-sinh-tơn là ví dụ mỗi năm lợng ma gấp 20 lần phía Đông dãy
Cáp-cát.
Nhiều nơi ở miền Tây dân c rất tha thớt và chính phủ quản lí hàng triệu
hecta đất cha đợc khai thác. Ngời Mỹ dùng diện tích này để phục vụ cho nghỉ
ngơi giải trí và các hoạt động thơng mại, chẳng hạn nh: Câu cá, cắm trại, đi
bộ, bơi thuyền, chăn thả gia súc, kho để đồ và khai mỏ . Trong những năm
gần đây, nhiều ngời dân địa phơng kiếm sống trên đất liên bang đã đụng độ
với các nhà quản lí đất đai, những ngời đợc giao trọng trách kiểm soát việc sử
dụng đất phù hợp với công tác bảo vệ môi trờng.
A-lát-ska, một bang nằm ở cực Bắc của Liên bang, là một vùng đất dân
c rất tha thớt và sống vất vả trên những dải đất hoang bảo vệ và cứu hộ những
động vật hoang dã trong nhng công viên quốc gia. Ha-oai là bang duy nhất của
Liên bang có số lợng ngời Mỹ gốc á có số lợng vợt quá số lợng ngời Mỹ gốc
Âu. Vào đầu thập kỉ 80, một số lợng lớn ngòi Châu á đã đến định c ở bang Ca-
li mà chủ yếu là vùng ven Lốt-an-giơ-lét.
Lốt-an-giơ-lét, cũng nh toàn bộ bang Ca-li nói chung mang nặng dấu ấn
Do nguồn lực miền Tây đợc coi là vô tận, ngời dân nơi này đã hình
thành thói lãng phí và thực dụng. Những đàn trâu khổng lồ (bò rừng) bị sát hại
không thơng tiếc cho tới khi số lợng chỉ còn lẻ tẻ vài con, một vài loài bị đẩy
tới bờ diệt chủng. Các con sông bị ngăn chặn và các cộng đồng sinh thái của
các dòng sông bị xâm hại, các khu rừng bị huỷ diệt do khai thác quá mức và
các vùng đất thiên nhiên tơi đẹp trở nên hoang hoá do nạn khai thác mỏ tràn
lan vô ý thức.
Đối trọng với việc xâm hại nguồn tài nguyên thiên nhiên là phong trào
xây dựng các khu bảo tồn. Phong trào này thành công một phần bởi thái độ
không sẵn lòng của ngời Mỹ nhìn thấy điều kiện sống ở những vùng giáp ranh
trở nên hoang tàn. Những ngời tham gia vào phong trào bảo tồn đóng vai trò
tích cực xây dựng nên công viên quốc gia Yellow stone (năm 1872) và
những khu rừng bảo tồn quốc gia đầu tiên trong thập niên 90 của thế kỷ 19.
Gần đây, đạo luật bảo vệ các loài thú có nguy cơ đã giúp ngăn chặn đợt thuỷ
triều tuyệt chủng.
Chơng trình bảo vệ môi trờng hiện nay còn nhiều tranh cãi. Một số ngời
chống đối tin rằng đạo luật bảo vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng đã hạn chế
sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, về tổng thể phong trào bảo vệ sự phát triển về
tự nhiên của Nớc Mỹ tiếp tục phát triển và có thêm sức mạnh. Bản sao của ch-
ơng trình này ở nhiều quốc gia khác trên thế giới là minh chứng chứng tỏ sức
mạnh lâu dài của vùng giới hạn Hoa Kỳ.
12
Nghiên cứu về Hoa Kỳ Nguyễn Đức Lợi-THPT
Phù Ninh
Chơng III:
Lịch sử tóm tắt Hoa Kỳ
Những ngời Âu châu đầu tiên do Lây E-ríc-sơn đứng đầu tới Hoa Kỳ là
những ngời thổ dân băng đảo cách đây 1000 năm. Các dấu tích về hành trình
của họ đợc tìm thấy ở Tỉnh Niu-fao-Len của nớc Canađa. Tuy nhiên những ng-
ời du c đầu tiên này không thể thiết lập một nơi định c ổn định và sớm mất liên
duyên hải Đại tây dơng từ bang Niu-hăm-sphia ở phía Bắc tới bang Gioóc-gia
ở phía Nam. Ngời Pháp quản lý vùng đất thuộc Canađa và vùng Lu-si-a-na bao
gồm lu vực sông Mít-si-si-pi rộng lớn. Trong suốt thế kỷ thứ 18 nhiều cuộc
chiến giữa ngời Anh và ngời Pháp nổ ra, với sự tham chiến của hầu hết ngời
dân Bắc Mỹ. Sau cuộc chiến 7 năm kết thúc năm 1763,
ngời Anh giành quyền kiểm soát Canađa và toàn bộ vùng đất phía Đông lu vực
sông Mít-si-si-pi Bắc Mỹ.
Chẳng bao lâu chính nớc Anh và các vùng thuộc địa cũng xảy ra các
cuộc xung đột. Mẫu quốc áp đặt nhiều loại thuế mới, một phần để chi phí cho
cuộc chiến 7 năm và một phần chi trả cho ngời Mỹ đã cung cấp nhà ở cho các
13
Nghiên cứu về Hoa Kỳ Nguyễn Đức Lợi-THPT
Phù Ninh
binh sĩ Anh. Những ngời cai trị mới đã chống lại các loại thuế và chế độ thanh
toán nhà ở cho binh sỹ này. Họ khăng khăng cho rằng thuế chỉ có thể áp đặt do
chính đại diện của họ ở các vùng thuộc địa và tụ tập lại dới khẩu hiệu Không
đóng thuế một khi họ không có đại diện trong nghị viện.
Hầu hết các loại thuế đều bị bãi bỏ trừ thuế chè. Tuy nhiên, vào năm
1773, một số ngời đã phản ứng lại thuế chè bằng cách tổ chức hiệp hội chè.
Mạo danh thổ dân, họ tràn lên tàu buôn Anh và đổ 342 thùng chè xuống cảng
Bô-xtơn. Điều này khiến nghị viện Anh đàn áp thẳng tay bao gồm cả việc
không cho tàu cập cảng Bô-xtơn. Các nhà lãnh đạo vùng thuộc địa tụ họp đại
hội lần đầu năm 1774 để thảo luận các biện pháp chống đối lại sự cai trị của n-
ớc Anh. Cuộc chiến xảy ra vào ngày 19 tháng 4 năm 1775 khi lính Anh đối
mặt với những kẻ phiến loạn thuộc địa ở Le-xing-tơn, Ma-sa-chu-set. Vào
ngày 4 tháng 6 năm 1776 đại hội của những vùng thuộc địa ra bản tuyên ngôn
độc lập.
Giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh cách mạng, ngời Mỹ bị thất bại
thảm hại do trang thiết bi chiến tranh nghèo nàn và ít đợc luyện tập, do vậy
luôn bị tổn thất nhân mạng và bị quân đội Anh đè bẹp mắc dù chiến đấu rất
Vào 15 năm đầu tiên của thế kỷ thứ 19, giới hạn của vùng định c di
chuyển về phía Tây tới và quá dòng sông Mit-si-si-pi. Năm 1828, An-đriu Jắc-
sơn là vị tổng thống ngoài vùng lãnh thổ cũ đợc bầu lần đầu tiên: Ngời bang
Ten-ne-si, sinh ra trong một gia đình nghèo và không thuộc các truyền thống
văn hoá của ngời nhập c đến bờ Đại tây dơng.
14
Nghiên cứu về Hoa Kỳ Nguyễn Đức Lợi-THPT
Phù Ninh
Mặc dù về bề ngoài kỷ nguyên của những ngời theo học thuyết Jắc-sơn
có vẻ lạc quan và đầy sức sống, quốc gia non trẻ này vẫn mắc phải nhiều mâu
thuẫn. Những lời nói vang lên trong bản tuyên ngôn độc lập Tất cả mọi ngời
đều bình đẳng vẫn chẳng có ý nghĩa gì đối với với hơn 1,5 triệu nô lệ.
Vào năm 1820, các chính trị gia miền Bắc, miền Nam đã tranh cãi vấn
đề nô lệ có cần đợc hợp pháp hoá ở các vùng lãnh thổ miền Tây?. Quốc hội đạt
đợc thoả thuận: Chế độ nô lệ đợc tồn tại ở bang Mit-su-ri và vùng lãnh thổ A-
can-sát nhng cấm ở tất cả các vùng miền Tây khác và bắc bang Mit-su-ri.
Cuộc chiến với Me-hi- cô xảy ra (1846-1848) làm cho nớc Mỹ có thêm lãnh
thổ và vấn đề chế độ nô lệ lại đợc nêu ra. Một thoả thuận khác lại đạt đớc vào
năm 1850, theo đó công nhận bang Ca-li-fóc-nia là bang tự do, công dân của
bang U-ta và Niu-Mê-hi-cô đợc phép tự quyết định chọn chế độ nô lệ hay
không trong giới hạn ranh giới bang mình.
Tuy nhiên vấn đề nô lệ tiếp tục dày vòi. Sau khi A-bra-ham-lin-côn, kẻ
thù của chế độ nô lệ, đợc bầu làm tổng thống năm 1860, 11 bang còn lại của
liên bang đã tự tuyên bố là quốc gia độc lập. Nhà nớc liên bang Hoa Kỳ: nam
Ca-lô-lai-na, Mit-si-si-pi, Flo-ri-đa, Ala-ba-ma, Gioóc-gia, Lu-si-a-na, Tếch-
dát, Vơ-gi-nia, A-can-sát, Ten-net-si và nam Ca-lo-lai-na. Cuộc nội chiến bắt
đầu.
Quân đội liên bang đã thành công trong thời gian đầu của cuộc chiến, và
một số vị tớng của cuộc chiến đặc biệt là tớng Rô-bớt-li trở thành nhà chiến
thuật tài ba. Tuy nhiên, quân đội liên bang chỉ có u thế về sức ngời và vật lực
15
Nghiên cứu về Hoa Kỳ Nguyễn Đức Lợi-THPT
Phù Ninh
Châu âu cộng lại. Ngành công nghiệp khai thác dầu phát triển nhanh. Rốc-kơ-
fe-lơ của công ty dầu mỏ Stan-đớt trở thành ngời giàu nhất nớc Mỹ. An-dru ca-
ni-gi vốn khởi nghiệp từ một ngời Scốt-len nhập c nghèo rớt đã xây dựng một
đế chế công nghiệp thép khổng lồ. Các nhà máy dệt mọc nh nấm ở miền Nam,
tơng tự nh vậy đối với ngành sản xuất thịt hộp ở Chi-ca-gô bang I-li-noi.
Ngành công nghiệp điện cũng phát triển nhanh do ngời Mỹ tận dụng đợc
nhiều phát minh: Điện thoại, bóng đèn, động cơ điện xoay chiều, máy biến thế
và phim có lồng tiếng. Tại Chi-ca-gô, kiến trúc s Lu-i Su-li-van đã sử dụng kết
cấu xây dựng khung thép tạo nên sự đóng góp hoàn hảo của ngời Mỹ trong
xây dựng thành phố hiện đại: Nhà chọc trời.
Tuy nhiên sự tăng trởng kinh tế nhanh ngoài tầm kiểm soát cũng đem lại
những nguy hiểm. Để hạn chế sự cạnh tranh, ngành vận tải đờng sắt đợc sát
nhập và đa ra tốc độ vận tải tiêu chuẩn hoá. Trust- một tổ hợp các công ty
khổng lồ nỗ lực thiết lập sự độc quyền đối với một số ngành công nghiệp mà
trớc hết là ngành công nghiệp dầu mỏ. Các công ty khổng lồ này có năng lực
sản xuất hàng hoá hiệu quả, và bán với giá rẻ, khống chế giá để tiêu diệt các
đối thủ cạnh tranh. Để chống lại sự lũng đoạn này, chính phủ Liên bang phải
ra tay can thiệp. Uỷ ban thơng mại liên bang đợc thành lập năm 1887 để
kiểm soát tốc độ phát triển ngành đờng sắt. Đạo luật chống liên minh, sát nhập
công ty năm 1890 ra đời nhằm Kiểm soát thơng mại.
Việc công nghiệp hoá cũng tạo ra nguồn lao động có tổ chức. Hội Lao
Động Liên Bang-ra đời năm 1886- là sự sát nhập các liên đoàn lao động những
ngời lao động có tay nghề cao. Cuối thế kỷ 19 là thời kỳ di c ào ạt và rất nhiều
công nhân lành nghề ở Hoa Kỳ là ngời từ các quốc gia khác. Đối với nông dân
Mỹ, thời gian ngày càng khắc nghiệt. Giá lơng thực, thực phẩm liên tục giảm
sút trong khí giá vận chuyển hàng hoá, giá kho bãi, thuế tại chỗ và thuế hải
quan đánh vào hàng tiêu dùng ngày càng cao.
thuật và viên chức nhà nớc. Họ cố tìm kiếm các giải pháp khoa học có hiệu
quả để áp dụng cho các vấn đề chính trị.
Các công nhân xã hội đã đi vào hang cùng ngõ hẻm của các khu nhà ổ
chuột để thiết lập nên những khu định c có khả năng cung cấp cho ngời nghèo
dịch vụ nghỉ ngơi và chăm sóc sức khoẻ. Những ngời ủng hộ việc cấm bán rợu
đòi hỏi cấm bán rợu triệt để, một phần để ngăn chặn những nỗi thống khổ do
những ông chồng nát rợu gây ra cho các bà vợ và con cái. ở các đô thị, các
nhà chính trị theo xu hớng cải cách chiến đấu chống lại nạn
tham nhũng, việc đi lại bị kiểm soát của công dân và xây dựng cơ sở vật chất
hữu dụng thuộc sở hữu cộng đồng. Nhà nớc thông qua các đạo luật cấm sử
dụng lao động trẻ em, giới hạn ngày làm việc và bồi thờng cho công nhân bị
tai nạn lao động.
Một số ngời Mỹ có quan điểm cấp tiến hơn. Đảng xã hội, do U-gi-en
Đép tán thành quá trình chuyển đổi hoà bình, dân chủ sang nền kinh tế thuộc
sở hữu nhà nớc.Tuy nhiên, Chủ nghĩa xã hội không bao giờ tìm đợc vị thế chắc
chắn ở Hoa Kỳ-Đảng này chỉ kiếm đợc khoảng 6% số phiếu trong cuộc tranh
đua giành ghế tổng thống năm 1912.
-Chiến tranh và hoà bình:
Khi thế chiến 1 bùng nổ ở Châu âu năm 1914, tổng thống Wi-Sơn theo
đuổi chính sách trung lập tuỵêt đối. Quyết định của Đức về việc sử dụng tàu
ngầm không hạn chế tấn công các tàu buôn hớng về cảng các nớc đông minh
đã làm tổn hại quan điểm trung lập này. Khi quốc hội tuyên bố tình trạng
chiến tranh với nớc Đức năm 1917, quân đội Hoa Kỳ chỉ có khoảng 200.000
lính. Hàng triệu đàn ông phải thực hiện chế độ quân dịch, đợc rèn luyện và lên
tàu vợt Đại tây dơng và cho tàu ngầm đến quấy phá của đối phơng. Phải mất
hơn một năm, quân đội Hoa Kỳ mới đủ điều kiện tham gia cuộc chiến có hiệu
quả.
Vào mùa thu năm 1918, vị thế của quân Đức trong cuộc chiến trở nên
vô vọng . Quân đội Đức buộc phải rút quân đối mặt với sự tăng cờng lực lợng
liên tục của quân đội Mỹ. Vào tháng 10 Đức đề nghị hoà bình và hiệp định
Kỷ 20 ầm ầm chuyển động -Kỷ nguyên của nhạc Zazz và phim không tiếng
cùng những thú vui kỳ cục nh dựng cột cờ, nuốt cá vàng.Tổ chức Ku-lu-
klan-một tổ chức phân biệt chủng tộc ra đời sau nội chiến thu hút nhiều thành
viên mới cùng những ngời da đen theo chủ nghĩa khủng bố, ngời theo đạo tin
lành và thiên chúa giáo và ngời nhập c. Cùng thời gian này, một ngời theo đạo
tin lành- ông An-frêt Smít-thống đốc thành phố Niu-Gioóc, ứng cử viên thuộc
Đảng dân chủ tham gia chạy đua chức tổng thống.
Với các nhà kinh doanh lớn, thập kỷ 20 là những năm vàng son. Hoa Kỳ
lúc này là xã hội tiêu thụ với thị trờng bùng nổ của radio, đồ điện gia đình, sợi
nhân tạo và nhựa tổng hợp. Một trong những ngời đợc hâm mộ nhất của thập
kỷ này phải kể đến Henry-Fo, ngời đa ra dây chuyền lắp ráp trong ngành sản
xuất ô tô. Fo đủ khả năng trả lơng cao mà vẫn thu lợi lớn qua việc sản xuất
hàng loạt mẫu ô tô T, một loại xe mà hàng triệu ngời tiêu dùng có khả năng
mua. Trong một thời gian ngắn ngời Mỹ dờng nh đều có thể có xe dùng.
Tuy nhiên sự giàu có bên ngoài che đậy những vấn đề nổi cộm bên
trong. Với lợi nhuận tăng lên, lãi xuất giảm, rất nhiều tiền đã đợc đầu t mà
trong đó chủ yếu đầu t vào thị trờng chứng khoán đầy may rủi. Những cuộc
mua bán điên rồ đã đẩy giá cổ phiếu quá cao so với giá trị thực. Các nhà đầu t
mua chứng khoán theo Chênh lệch giữa giá mua và giá bán, vay tới trên
90% của giá mua. Bong bóng nổ tung vào năm 1929. Thị trờng chứng khoán
sụp đổ, điểm nhấn cho sự sụt giá toàn cầu .
-Đại hạ giá:
Vào năm 1932 hàng nghìn ngân hàng Mỹ và hơn 100.000 xí nghiệp làm
ăn thua thiệt. Sản xuất công nghiệp chỉ còn một nửa, lơng công nhân giảm
60% và cứ 4 công nhân thì có một công nhân thất nghiệp. Năm đó Fran-kơ
Ru-sơ-ven trúng cử tổng thống dựa trên luận cơng Sự đồng thuận mới đối với
ngời Mỹ.
Sự tự tin vui nhộn của Ru-sơ-ven đã khuyến khích cả dân tộc. Điều duy
nhất đáng sợ chính là sự sợ hãi chính bản thân mình. Ông phát biểu trong lễ
nhậm chức và ngay sau đó thực hiện lời cam kết của mình bằng các hoạt động
-Chiến tranh lạnh:
Một hội nghị quốc tế mới-Tổ chức Liên Hợp Quốc-đợc thành lập ngay
sau chiến tranh thế giới lần thứ II có sự tham gia của Hoa kỳ. Ngay sau đó là
tình trạng căng thẳng giữa Hoa kỳ và một đồng minh trong chiến tranh-Liên
Bang Xô Viết. diễn ra. Mặc dù lãnh tụ Giô-dép Sta-lin cam kết ủng hộ các
cuộc tuyển cử tự do, Nhà nớc Xô viết đã áp đặt các chính quyền chuyên chính
cộng sản ở Đông Âu. Nớc Đức bi chia cắt với vùng phía Tây đặt dới sự quản lí
của Anh, Pháp và Hoa kỳ còn ở miền Đông chịu sự kiểm soát của Liên xô.
Mùa thu 1948 ngời Xô viết đã cô lập Tây Bec-lin nhằm khuất phục thành phố
bị tách biệt này. Các nớc phơng Tây đáp lại bằng chiến dịch không vận khổng
lồ, cung cấp lơng thực, xăng dầu cho tới khi ngời Xô viết dỡ bỏ lệnh cấm vận
vào tháng 5/1949. Trớc đó 1 tháng, Hoa Kỳ đã liên minh với Bỉ, Bồ Đào Nha,
Vơng Quốc Anh thành lập khối Liên Minh Bắc Đại Tây Dơng (NATO).
Ngày 25 tháng 6/1950 lực lợng vũ trang Bắc Triều tiên với trang bị vũ
khí của Liên xô và đợc sự chấp thuận của Stalin đã xâm lợc Nam Triều tiên.
Cuộc chiến kéo dài trong 3 năm và hậu quả cuối cùng là nớc Triều tiên bị chia
cắt.
Nớc Nga kiểm soát đông Âu, cuộc chiến Triều Tiên, cùng với sự phát
triển vũ khí nguyên tử và vũ khí hạch tâm đã gây nên mối lo ngại cho ngời
Mỹ. Song một số ngời tin rắng mối nguy hiểm mới của quốc gia chính là các
hoạt động của những kẻ phản bội từ bên trong. Nghị sỹ đảng Cộng hoà Giô-
Giép Mắc-ka-thi vào đầu thập kỷ 50 quả quyết rằng các bộ thuộc chính phủ
liên bang và các lực lợng vũ trang Hoa kỳ bị những ngời cộng sản thách đố.
Nghị sỹ này đã bị công luận lên án. Tuy nhiên vào thời điểm này, mọi sự dờng
nh đã bị tổn hại mặc dù ngời Mỹ đã có tất cả song những giá trị đạo đức chủ
yếu của ngời Mỳ đã bị mất mát: Đó là sự khoan dung do những bất đồng chính
kiến.
Từ năm 1945 tới năm 1975, nền kinh tề Mỹ phát triển liên tục, chỉ có
một giai đoạn suy thoái ngắn và nhẹ nhàng. Lần đầu tiên đa số ngời Mỹ đợc h-
ởng điều kiện sống cao. Năm 1960, có 55% hộ gia đình có máy giặt, 77% có
tranh Việt nam. Năm 1968, 500.000 quân nhân Mỹ tham chiến ở quốc gia nhỏ
bé này, nơi mà hầu hết binh sỹ Mỹ cha từng biết tới trớc đó. Mặc dù các chính
trị gia có xu hớng nhìn cuộc chiến này nh là một phần của những nỗ
lực quan trọng để khống chế chủ nghĩa cộng sản trên tất cả các mặt trận, ngày
càng có nhiều ngời Mỹ không thấy những lợi ích sống còn trong cuộc chiến
này. Những cuộc xuống đờng chống lại sự dính líu của Mỹ vào cuộc chiến này
nổ ra ở các trờng đại học và đã có các cuộc xung đột mang tính bạo lực giữa
cảnh sát và sinh viên. Tình cảm chống chiến tranh còn sang cả lĩnh vực đấu
tranh chống lại sự bất bình đẳng và phân biệt chủng tộc.
Do mất lòng dân, tổng thống Jôn-Sơn quyết định không tham gia tranh
cử nhiệm kỳ 2. Ri-sơt Níc-Sơn đợc bầu làm tổng thống năm 1968. Ông tiếp
tục theo đuổi chính sách Việt nam hoá chiến tranh, thay thế dần dần lính Mỹ
bằng lính ngời Việt. Năm 1973, ông ký hiệp định hoà bình với bắc Việt nam
và đa quân Mỹ về nớc. Tổng thống Níc-Sơn đạt đợc hai bớc đột phá về ngoại
giao: Thiết lập lại mối quan hệ với Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa và đàm
phán cát giảm vũ khí chiến lợc giai đoạn 1 với Liên Bang Xô Viết. Năm 1972,
ông dễ ràng thắng cử tổng thống nhiệm kỳ 2.
Trong chiến dịch vận động tranh cử tổng thống, 5 ngời đã bị bắt vị tội
đột nhập vào trụ sở của Đảng dân chủ ở toà Goa-tơ-gết ở Oa-sinh-tơn. Các nhà
báo điều tra vụ này phát hiện ra rằng năm kẻ này do Uỷ ban vận động bầu cử
của Đảng cộng hoà thuê làm. Nhà trắng làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn
bằng cách cố tình che đậy mối liên hệ của mình với vụ tai tiếng này. Dần dần,
các cuốn băng ghi âm do chính tổng thống ghi đã bị phơi bày và tổng thống rõ
ràng có dính líu tới vụ che dấu này. Mùa hè năm 1974. Quốc hội dự kiến phế
truất và truy tố tổng thống. Ngày 9 tháng 8 Ri-sớt Níc-sơn là vị tổng thống
Hoa Kỳ đầu tiên buộc phải từ nhiệm.
-Các thập kỷ đổi thay:
Sau chiến tranh thế giới II, chức tổng thống liên bang liên tục thay đổi
giữa những ngời cộng hoà và những ngời dân chủ. Tuy nhiền hầu hết thời gian
này ngời thuộc Đảng dân chủ luôn nắm đa số ở quốc hội-cả Hạ viện và Thợng
nắm đa số ở cả hai viện trong 40 năm. Trong lúc đó các cuộc tranh cãi lại tiếp
diễn giữa những ngời chủ trơng một chính phủ liên bang mạnh và những ngời
chủ chơng phi tập trung quyền lực, giữa những ngời ủng hộ đa tôn giáo vào hệ
thống trờng công và những ngời chủ trơng tách nhà thờ và sự quản lí của nhà
nớc ra khỏi trờng học, giữa những ngời mong muốn sự trừng phạt mạnh mẽ và
nhanh chóng đối với các loại tội phạm và những ngời mong muốn giải quyết
căn nguyên cơ bản dẫn đến tội phạm. Những lời phàn nàn về vấn đề này nọ
dẫn đến việc thành lập Đảng lớn thứ 3 do nhà kinh doanh bang Tếc-dát-Rốt-
pê-rốt đứng đầu.
Mặc dù nền kinh tế rất thịnh vợng vào giữa thập kỷ 90, có hai hiện tợng
làm phiền toái ngời Mỹ. Các công ty thờng xuyên phải sử dụng quá trình đợc
gọi là cắt giảm: Cắt giảm lực lợng lao động nhằm cắt giảm chi phí mặc dù việc
này đánh trực tiếp vào công nhân. Trong một số ngành công nghiệp, khoảng
cách đền bù hàng năm giữa giám đốc và ngời lao động bình thờng ngày càng
lớn. Đa số ngời Mỹ có cuộc sống vật chất đầy đủ cũng băn khoăn về mức suy
giảm về chất lợng cuộc sống, về sức mạnh trong mỗi gia đình, trong tình làng
nghĩa xóm và phép lịch sự trong hành vi đối xử. Ngời Mỹ có thể là những ngời
lạc quan nhất trên thế giới. Tuy nhiên vào cuối thế kỷ, các cuộc thăm dò ý kiến
cho thấy rằng tính lạc quan đó dờng nh cũng phôi phai ít nhiều.
21
Nghiên cứu về Hoa Kỳ Nguyễn Đức Lợi-THPT
Phù Ninh
Chơng IV:
Một chính phủ năng động
Lối sống thuở đầu của ngời Mỹ luôn khuyến khích dân chủ. Những kẻ
đô hộ sống ở vùng núi và các vùng hoang dã. Họ phải làm việc cùng nhau để
tạo nơi ở, tìm kiếm thức ăn, khai phá đất đai, lập trại và ổn định ăn nơi ăn chốn
ở. Sự cần thiết của sự hợp tác này củng cố niềm tin rằng trong thế giới mới,
ngời ta cần nền tảng bình đẳng, không ai có đợc sự u ái đặc biệt.
Nhu cầu bình đẳng ảnh hởng tới các mối quan hệ của 13 vùng thuộc địa
- Nếu quốc hội thông qua một đạo luật mà tổng thống cảm thấy không
khôn ngoan, tổng thống có thể phủ quyết. Điều đó có nghĩa là đạo luật
đó không có giá trị trừ khi 2/3 nghị sĩ biểu quyết thông qua bất chấp
việc tổng thống phủ quyết.
- Nếu quốc hội thông qua và tổng thống ký chuẩn y, thì đạo luật đó tiếp
tục phải đợc toà án liên bang xem xét có đi ngợc lại hiến pháp không và
toà án có thể vô hiệu hoá đạo luật đó (Toà án không tham vấn, cho ý
kiến, tuy nhiên quyền thực thi pháp lý chỉ giới hạn trong các tranh chấp
nảy sinh từ thực tiễn).
- Tổng thống có quyền ký các hiệp định với các quốc gia khác, có quyền
bổ nhiệm các vị trí trong chính phủ liên bang bao gồm cả các quan toà.
22
Nghiên cứu về Hoa Kỳ Nguyễn Đức Lợi-THPT
Phù Ninh
Tuy nhiên, hạ viện phải biểu quyết thông qua việc kí kết hoặc bổ nhiệm
trớc khi mọi quyết định có hiệu lực.
* Gần đây một số nhà quan sát phân biệt những điều họ đánh giá là
điểm yếu trong hệ thống quản lí tay ba này: Nh một xu hớng giám sát
quá chặt chẽ dẫn đến trì trệ hoặc khuân cứng.
-Các quyền:
Hiến pháp viết năm 1787 tại Phi-la-đen-phi-a cha thể có hiệu lực cho tới
khi nó đợc đa số công dân ở ít nhất 9 trong tổng số 13 bang của Hoa Kỳ phê
chuẩn. Trong suốt quá trình phê chuẩn, một số mối nghi ngại lại nảy sinh. Một
số ngời không chấp thuận vì cho rằng văn bản này không đảm bảo rõ ràng các
quyền cá nhân. ý kiến bổ xung thêm đợc thể hiện trong 10 tu chính bổ xung
váo bản hiến pháp, đợc hầu hết mọi ngời hiểu là đạo luật về quyền con ngời.
Đạo luật về quyền con ngời đảm bảo cho các công dân Mỹ quyền tự do
ngôn luận, tự do tôn giáo và tự do báo chí. Công dân đợc hội họp nơi công
cộng, đợc phản kháng các hoạt động của chính phủ và đòi hỏi sự thay đổi.
Ngoài ra công dân còn có quyền có trang bị vũ khí. Theo các quyền nh qui
Để biến thành luật, bất kỳ dự luật nào cũng phải đợc cả hai viện thông
qua. Sau khi dự luật đợc chuyển tới từng thành viên, dự luật này đợc các uỷ
ban nghiên cứu, bổ xung và bỏ phiếu trong uỷ ban đó và sau đó đợc thảo luận
trong toàn hạ viện. Nếu dự luật này đợc thông qua, nó sẽ đợc chuyển sang th-
ợng viện để tiếp tục xem xét. Nếu dự luật gặp phải những ý kiến khác nhau
23
Nghiên cứu về Hoa Kỳ Nguyễn Đức Lợi-THPT
Phù Ninh
nghị sỹ lỡng viện sẽ gặp nhau để dàn xếp sự khác biệt đó. Nhóm nghị sỹ
thuyết phục các nghị sỹ quốc hội khác bỏ phiếu ủng hộ hoặc chống lại dự luật
đợc gọi là Vận động hành lang. Các nghị sỹ này có thể tạo ảnh hởng vào bất
cứ thời điểm nào của quá trình lập pháp. Một khi cả hai viện thông qua cách
hiểu đúng văn bản, dự luật này mới đợc trình tổng thống thông qua.
-Ngành hành pháp:
Ngời đứng đầu cơ quan hành pháp của liên bang là tổng thống, ngời
cùng với phó tổng thồng đợc bầu ra với nhiệm kỳ 4 năm. Theo tu chính hiến
pháp thông qua năm 1951, tổng thống chỉ đợc tại vị không quá hai nhiệm kỳ.
Trong trờng hợp tổng thống đơng nhiệm bị chết hoặc không còn khả năng đảm
đơng công việc, phó tổng thống chủ toạ thợng viện và có thể đợc bầu để giải
quyết thế bế tắc.
Quyền lực của tổng thống rất lớn song không phải là vô hạn. Là ngời có
quyền tối hậu trong việc hình thành các chính sách quốc gia, tổng thống
chuyển văn bản luật tới quốc hội. Nh đề cập ở trên, tổng thống có thể phủ
quyết bất kỳ đạo luật nào do quốc hội thông qua. Tổng thống là tổng t lệnh các
lực lợng vũ trang. Tổng thống có quyền bổ nhiệm chánh án liên bang khi vị trí
này bị khuyết bao gồm cả cả các thẩm phán toà thợng thẩm. Là ngời đứng đầu
đảng chính trị, với điều kiện dễ dàng tiếp cận tới các phơng tiện thông tin, tổng
thống dễ dàng có ảnh hởng lớn tới d luận.
Trong khuân khổ ngành hành pháp, tổng thống có quyền to lớn trong
việc ban hành các qui định, chỉ thị để điều hành các bộ hoặc cơ quan chính
Phù Ninh
giải quyết các vấn đề tranh cãi lâu dài và có ảnh hởng xã hội vợt quá hệ quả
trực tiếp tức thì. Hai vụ nổi tiếng: Vụ Ple-sy chống lại Fơ-gu-sơn (1896) và
Braon chống lại lãnh đạo nghành giáo dục vùng Tô- pê-ka (1954).
Trong vụ Ple-sy vấn đề tranh cãi là liệu ngời da đen có bị bắt buộc
không đợc đi trên đờng giành cho ngời da trắng không. Toà đã kết hợp hai lí
thuyết cấm và bình đẳng làm nền tảng để giải quyết vụ này. Việc xét xử nh
thế này gửi tín hiệu rõ ràng rằng toà đã hiểu tu chính án số 13 và 14 quá nông
cạn và hệ thống luật pháp và thói quen hành xử khác biệt giữa ngời da trắng
với ngời da đen không nên bị bóp méo. Một vị thẩm phán-ông Jôn-Mác-san-
ha-Lân ngời không thống nhất với quyết định của toà nói rằng Hiến pháp
không áp dụng với ngời da màu.
Sáu mơi năm sau, toà đã thay đổi cách nghĩ của mình. Trong vụ Brao toà
phán quyết rằng các trờng công cố tình phân biệt đối xử về chủng tộc đã vi
phạm chơng bảo vệ quyền bình đẳng đợc nêu trong tu chính hiến pháp 14.
Mặc dù toà không trực tiếp bác bỏ quyết định của mình trong vụ Ple-sy, quan
điểm của thẩm phán Ha-lân về hiến pháp đã đợc minh oan. Phán quyết 1954
áp dụng cho các trờng ở các thành phố Tô-pee-ka, Kan-sát, tuy nhiên nó đã đ-
ợc vận dụng cho tất cả các trờng công trong cả nớc. Hơn thế, vụ án này làm
suy yếu sự phân biệt chủng tộc với mọi cố gắng của chính phủ và đa quốc gia
vào thời điiểm mà mọi ngời đợc đối xử nh nhau.
Quyết dịnh trong vụ Brao gây ra sự khiếp đảm đối với một số công dân,
đặc biệt là với những ngời sống ở miền Nam, song dần dần đợc chấp nhận nh
luật đất đai. Các quyết định gây tranh cãi khác của toà án tối cao không nhận
đợc sự đồng thuận nh vậy. Trong một vài vụ từ 1962 tới 1985, chẳng hạn, toà
quyết định rằng sinh viên ở các trờng công bắt buộc phải cầu nguyện hoặc
nghe cầu nguyện là vi phạm điều cấm qui định trong hiến pháp đối với việc
không hình thành tôn giáo trong trờng học. Những ngời phê phán quyết định
này tin rằng việc không áp dụng bắt buộc tôn giáo trong trờng công có thể
góp phần làm suy giảm đạo đức của ngời Mỹ. Họ cố gắng đa tôn giáo vào tr-