Tiểu luận - Một số giải pháp nhằm thu hút
FDI vào các KCN trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, vốn là một hoạt động vật chất quan trọng cho mọi
hoạt động của nền kinh tế. Nhu cầu về vốn đang nổi lên như một vấn đề cấp bách.
Đầu tư và tăng trưởng vốn là một cặp phạm trù của tăng trưởng kinh tế, để thực
hiện chiến lược phát triển nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay ở nước ta cần đến
một lượng vốn lớn.
Chính vì vậy, Nghị quyết Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã
khẳng định: “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thị trường. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là chủ trương
quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế
quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại
hóa phát triển đất nước, xây dựng một nền sản xuất hiện đại,có khả năng hổ trợ và
kích thích phát triển năng lực cho các ngành khác, tiến tới đổi mới toàn bộ xã hội.”
Mục tiêu đặt ra cho các Khu Công Nghiệp (KCN) do vậy cũng nằm trong
mục tiêu chung mà cả nước đang quyết tâm đạt tới trong những thập kỷ đầu của
thế kỷ XXI.
Sau hơn 5 năm phát triển KCN, Thành phố Hồ Chí Minh (HCM) đã đạt
được những thành tựu quan trọng về việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI), góp phần tăng trưởng nền kinh tế của cả nước nói chung và kinh tế Thành
phố HCM nói riêng.
Như vậy để tiếp tục phát triển các KCN trên địa bàn thành phố HCM, từ đó
góp phần phát triển kinh tế kinh tế của thành phố chúng ta cần thu hút nhiều hơn
nữa các nguồn vốn vào KCN, đặc biệt là nguồn vốn FDI.
Vì vậy đề tài của em tập trung nghiên cứu về: “Một số giải pháp nhằm thu
hút FDI vào các KCN trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”
Trong quá trình thực hiện đề tài này, do hạn chế tầm nhìn và hiểu biết nên
không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong có được sự chỉ bảo của các bạn và hướng
theo tỷ lệ góp vốn của mình
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài nước chủ nhà có thể tiếp nhận được
công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm tổ chức, quản lý là mục tiêu mà các hình
thức khác không giải quyết được
- Nguồn vốn này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của hoạt động nó
còn bao gồm cả vốn của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như
đầu tư từ lợi nhuận thu được.
2. Vai trò của FDI đối với sự phát triển của các KCN nói chung
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức XIX của Đảng đã khẳng
định: “ kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích
phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài là chủ trương quan trọng góp phần khai thác các nguồn lực trong
nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự
nghiệp CNH - HĐH phát triển đất nước”.
Trong hơn 10 năm qua kể từ khi ban hành Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam năm 1987, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục
tiêu kinh tế – xã hội, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới, đưa nước ta ra khỏi
khủng hoảng kinh tế, tăng cường thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế. Đầu
tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho
đầu tư phát triển: có tác dụng thúc đảy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng CNH -
HĐH, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, nâng cao năng lực quản lý và trình
độ công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo thêm nhiều việc làm mới, góp
phần mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế thế giới.
Tuy nhiên, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài những năm qua cũng đã
bộc lộ những mặt yếu kém, hạn chế. Nhận thức quan điểm về đầu tư trực tiếp nước
ngoài chưa thực sự thống nhất và chưa được quán triệt đầy đủ ở các cấp, các
ngành, cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài có mặt còn bất hợp lý và hiệu quả tổng
thể về kinh tế- xã hội của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa cao; môi
hội. Nhật đã dựa vào cơ cấu chính quyền rất mạnh cộng với thu thuế rất lớn từ
nhân dân. Thông qua biện pháp này Nhật đã huy động được nguồn vốn rất lớn cho
phát triển kinh tế. Các nhà kinh tế đã tổng kết và đưa ra các nhân tố tác động đến
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật là:
Sự gia tăng nguồn vốn nhanh chóng, đa dạng hoá cơ cấu sản xuất, đẩy mạnh
công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, tăng cường
điều tiết và vai trò của chính phủ trong nền kinh tế quốc dân, mở rộng thị trường.
Bước đầu bước vào thời kỳ công nghiệp hoá Nhật đã có tỷ lệ tích luỹ vốn
hàng năm là 21,8% đến năm 1968 là 29,2% lớn hơn hai lần so với Mỹ và gần bằng
2 lần của Anh.
Năm 1959 GDP của Nhật bằng 81% của Đức nhưng tổng đầu tư vào tư bản
cố định của Nhật đã vượt Đức.
Nhật duy trì được mức tích luỹ cao là nhờ mức lương thấp trong khi năng
xuất lao động thì rất cao và có xu hướng ngày càng tăng nhanh. Huy động được
khối lượng lớn nguồn vốn từ người dân vào trong kinh doanh, chi phí cho quan sự
thấp, chi phí sử dụng nguồn vốn thấp và khống chế được mức chi tiêu công cộng ở
mức thấp.
3.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Kinh tế Hàn Quốc bắt đầu cất cách từ thập kỷ 60, kể từ kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội 5 năm lần thứ nhất ra đời năm 1962, nền kinh tế đã duy trì được tốc
độ tăng trưởng kinh tế nhanh. Bình quân tốc độ tăng GDP hàng năm là 9% cao hơn
rất nhiều so tốc độ tăng bình quân của thế giới. Trong cùng thời gian công nghiệp,
nhất là công nghiệp chế biến có tốc độ tăng trên 20% năm, dịch vụ tăng trên 14%/
năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh đã giúp cho Hàn Quốc giải quyết được
nhiều vấn đề như giảm thất nghiệp, giảm tỷ lệ nghèo đói, giảm mức chênh lệch về
thu nhập giữa nông
thôn và thành thị.
Tài trợ cho các nhu cầu đầu tư trước tình hình kinh tế trong nước kém phất
triển, nguồn tích luỹ từ nội bộ ít, nguồn tài trợ bên ngoài giảm sút chính phủ đã
khuyến khích đầu tư làm tăng việc sử dụng nguyên liệu trong công nghiệp, khuyến
1 Đầu tư nước ngoài đã góp phần bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư
phát triển, tăng cường tiềm lực để khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các
nguồn lực trong nước. Mặt khác đầu tư nước ngoài cũng đóng góp phần quan trọng
vào việc bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế.
1 Tỷ lệ đóng góp của FDI trong GDP liên tục tăng qua các năm.
1 Nguồn thu ngân sách cũng liên tục tăng qua các năm.
1 Kinh ngạch xuất khẩu tăng liên tục qua các năm. Tính đến 31.12.2009 đã có
350 công ty đi vào hoạt động, sản xuất và nhiều hàng hoá có chất lượng tốt xuất
khẩu đi trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tổng kim gạch xuất khẩu
từ khi thành lập đến nay đạt trên 3 tỷ USD. Riêng năm 2001 kim gạch xuất khẩu
của các KCN thành phố đạt 880 triệu USD. Trong đó 2 khu Tân Thuận và Linh
trung đạt doanh số xuất khẩu 812,4 triệu USD, chiếm 95,5 % doanh số xuất khẩu
của các KCN thành phố HCM. Mức tăng trưởng xuất khẩu năm 2001 đạt 9,6% so
với năm 2008. Riêng trong 3 tháng đầu năm 2010 kim gạch xuất khẩu đạt xấp xỉ
200 triệu USD.
1 Góp phần hình thành một số ngành công nghiệp mới, có ý nghĩa quan trọng
đối với sự phát triển của nền kinh tế như chế biến dầu khí, sản xuất, lắp ráp ôtô, sản
phẩm điện tử.
1 Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tham gia phát
triển nguồn nhân lực.
Giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 100.000 lao động trực tiếp làm việc
trong các doanh nghiệp KCX – KCN Tp. HCM và hàng ngàn lao động tham gia
phục vụ hoạt động của các KCX – KCN. Trong đó, riêng KCX Linh Trung1 dù
diện tích chỉ 62 ha, nhưng đã tạo công ăn việc làm cho hơn 46.000 lao động dẫn
đầu về giải quyết công ăn việc làm trong các KCX – KCN trong cả nước.
7 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH để phát triển
lực lượng sản xuất
7 Góp phần quan trọng vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt hơn hệ
thống cơ sỏ hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tai, bưu chính viễn thông, năng
lượng.
là các dự án lớn đi vào triển khai thực hiện.
Trong khi đó, chương trình đào tạo của các cơ sở giáo dục đào tạo trong nước quá
lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp.
Tình trạng đình công đang diễn ra và trở thành áp lực đáng kể với các doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động.
Thứ năm, công tác giải phòng mặt bằng là mặt hạn chế chậm được khắc phục của
môi trường đầu tư của ta. Trên thực tế, công tác quy hoạch sử dụng đất đã được các
địa phương quan tâm nhưng vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ với quy hoạch ngành,
chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói chung và
thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI nói riêng. Nhiều địa phương đang
lâm vào trình trạng khó khăn trong việc bố trí đủ đất cho các dự án quy mô lớn như
đã cam kết trước khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
Việc đền bù thu hồi đất, tái định cư, giải phóng mặt bằng và xây dựng các công
trình hạ tầng ngoài hàng rào kết nối vào khu vực dự án đầu tư đang là khó khăn lớn
nhất đối với triển khai một số dự án FDI quy mô lớn hiện nay, đặc biệt đối với dự
án 100% vốn nước ngoài.
Theo quy định của Luật Xây dựng, chính quyền địa phương chịu trách nhiệm toàn
bộ khâu giải phóng mặt bằng và bàn giao đất sạch cho nhà đầu tư. Tuy nhiên do
phải sử dụng ngân sách địa phương để đền bù thu hồi đất và thủ tục giải ngân đối
với nguồn vốn ngân sách quá phức tạp và mức đền bù theo quy định chung của
Nhà nước không đáp ứng yêu cầu của người được đền bù nên tiến độ giải phóng
mặt bằng rất chậm.
Mặt khác, còn tâm lý e ngại nhà đầu tư không triển khai dự án đúng tiến độ sẽ làm
ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn ngân sách. Như vậy trên thực tế ngân sách nhà
nước phải chi một khoản rất lớn ngay từ lúc giải phóng mặt bằng, trong khi đó nếu
thực sự dự án có hiệu quả thì cũng phải nhiều năm sau mới có thu ngân sách. Điển
hình là một số dự án đầu tư quy mô lớn, sử dụng nhiều diện tích đất mới được cấp
giấy chứng nhận đầu tư tại một số địa phương.
Việc sử dụng đất nông nghiệp để đầu tư các khu công nghiệp, khu đô thị, sân golf
đang được dư luận gần đây quan tâm. Do các địa phương chưa có quy hoạch, kế
ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
I. Những giải pháp của bản thân các khu công nghiệp
1. Quy hoạch tổng thể các khu và hoạt động sản xuất cho mỗi khu một cách hợp lý.
Ban quản lý các khu công nghiệp tham gia cùng các ngành chức năng xây
dựng quy hoạch tổng thể các khu và hoạt động sản xuất của khu một cách hợp lý.
Xem xét đánh giá lại quy hoạch chi tiết trong từng khu công nghiệp (so với
thực tế) đặc biệt là chú ý quy hoạch bố trí ngành nghề.
2. Phát triển cơ sở hạ tầng khu công nghiệp.
Trước mắt cần tập trung các nguồn lực đẩy nhanh tốc độ xây dựng và hoàn
thiện hệ thống cơ sở hạ tầng bên trong các khu công nghiệp hiện có Theo kinh
nghiệm của Trung Quốc cần có chính sách khuyến khích đặc biệt (về giá cả, dịch
vụ, thuế) đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài. Đầu tư phát
triển mới hệ thống cơ sở hạ tầng ở các khu công nghiệp.
Kiến nghị UBND TP. Hồ Chí Minh nhanh chóng triển khai các công trình hạ
tầng bên ngoài gắn liền với các khu công nghiệp như: Đường, cầu, giao thông …
Đề nghị Trung ương cho phép TP. Hồ Chí Minh giữ lại 50 – 60% các nguồn
thu trong các khu công nghiệp để sử dụng xây dựng phát triển hạ tầng bên ngoài
các khu công nghiệp.
Ban quản lý khu công nghiệp cần theo dõi chặt chẽ quá trình và chất lượng
xây dựng các công trình kết cấu cơ sở hạ tầng đồng thời sớm có tiêu chuẩn, quy
phạm xây dựng đối với các công trình cơ sở hạ tầng khu công nghiệp.
3. Đẩy mạnh công tác xúc tiến vận động đầu tư
Sớm thành lập Website về khu công nghiệp TP. Hồ Chí Minh trên mạng
Internet nhằm tăng cường khả năng vận động khuyến khích đầu tư và đáp ứng nhu
cầu tìm hiểu về hoạt động của các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố.
Kiến nghị UBND Thành Phố chủ động thành lập các bộ phận chuyên trách
đảm nhận công việc xúc tiến đầu tư ở nước ngoài nhằm chủ động đa phương hoá
các đối tác đầu tư nước ngoài. Ngoài các thị trường ở Châu á cần nghiên cứu kỹ
lưỡng đối tác đầu tư ở Tây Âu, Bắc Âu, Mỹ nhằm tranh thủ về công nghệ, kỹ thuật
hiện đại để nâng cao khả năng cạnh tranh.
nhằm kịp thời trao đổi các thông tin cung cấp văn bản pháp quy, nhu cầu mua
hàng, nhu cầu tuyển dụng lao động, báo cáo định kỳ, khai báo hải quan, trả lời các
thắc mắc của các doanh nghiệp.
Trong tương lai TP. Hồ Chí Minh có thể phát triển đa dạng hơn các loại hình
bất động sản công nghiệp. Khu phát triển kinh tế và kỹ thuật hay đặc khu kinh tế
như các nước đã làm.
2. Những giải pháp của nhà nước.
2.1 đối với khu vực kinh tế quốc doanh
Như nghị định 42/cp và nghị định 92/cp quy định về đầu tư, xây dựng theo
xu hướng giảm bớt các yêu cầu phải có quyết định đầu tư và giâý phép đầu tư đối
với các nhà đầu tư không sử dụng tiền. Nhà nước bỏ khâu phê duyệt dự án thay
bằng giải trình các phương án kinh doanh, thực hiện việc phân cấp xem xét ưu đãi
đầu tư đến cấp quận huyện để các nhà đầu tư sẵn sàng tiếp cận được với các chính
sách ưu tiên đầu tư.
2.2 Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước và tài sản công
+ Ngân sách nhà nước phải để dành từ 10- 20% GDP để đầu tư cho cơ sở hạ
tầng, y tế, giáo dục
+ Sử dụng các tài khoản công để tăng thu cho ngân sách nhà nước.
+ Phát hành trái phiếu chính phủ trung hạn và dài hạn.
2.3 Đối với các doanh nghiệp nhà nước
+ Mở rộng quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp theo hướng cơ
cấu lại cơ cấu vốn sản xuất và tài sản doanh nghiệp một cách hợp lý tính đủ giá trị
sử dụng đất vào vốn và tài sản của doanh nghiệp.
+ Cho phép khấu hao nhanh để tái đầu tư sản xuất.
+ Tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, để tăng thêm vốn đầu
tư cho doanh nghiệp, cũng là để nhà nước tăng các khoản thu cho đầu tư phát triển
kinh tế.
+ Hoàn thiện môi trường pháp lý tạo điều kiện phát triển cho các nhà đấu tư.
2.4 Đối với khu vực dân cư
+ Đa dạng hoá các hình thức và công cụ huy động vốn để cho mọi người dân