VĂN HỌC VIỆT NAM
XUẤT DƯƠNG LƯU BIỆT
- Phan Bội Châu -
I. Tác giả: (Sgk)
II. Tác phẩm
1. Hoàn cảnh ra đời
Năm 1905, sau khi vận động thành lập hội Duy Tân và để mở đầu phong trào Đông
Du, Phan Bội Châu từ biệt các đồng chí ra nước ngoài. Bài thơ “Xuất dương lưu
biệt” được sáng tác trong buổi chia tay này.
2. Nội dung
- Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu:
+ Nam tử sinh ra ở đời phải làm những công việc lớn lao có ích cho xã hội Lý
tưởng nhân sinh.
+ Làm trai phải làm nên chuyện lạ: xoay chuyển trời đất chí làm trai gắn liền với
sự nghiệp cứu nước với một lý tưởng lớn lao.
- Ý thức tự khẳng định mình.
Khẳng định cái tôi trách nhiệm cống hiến cho đất nước trước lịch sử. Đó là một cái
tôi cứng cỏi, đẹp đẽ và cao cả.
- Quan niệm vinh nhục và thái độ đối với nền học vấn cũ:
+ Tác giả ý thức về nỗi nhục mất nước.
+ Sách vở thành hiền không giúp gì cho thời buổi mất nước (quan niệm tiến bộ, mới
mẻ).
- Khát vọng và tư thế của buổi lên đường:
+ Khát vọng: Vượt bể đông lớn lao.
+ Tư thế: Tư thế hăm hở ra đi tìm đường cứu nước.
3. Nghệ thuật
Giọng thơ tâm huyết, có sức lay động mạnh mẽ.
HẦU TRỜI
- Tản Đà –
I. Tác giả: (Sgk)
II. Tác phẩm:
tân táo bạo, độc đáo trong nghệ thuật thơ ông.
2/ Nội dung
- Tình yêu cuộc sống say mê, tha thiết của nhà thơ.
- Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời
- Khát vọng sống, khát vọng yêu đương cuồng nhiệt hối hả.
3/ Nghệ thuật
Kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí, giọng điệu say mê, sôi nổi,
ngôn từ và hình ảnh thơ sáng tạo độc đáo.
TRÀNG GIANG
- Huy Cận -
I. Tác giả (Sgk)
II. Tác phẩm:
2
1/ Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác:
- Sáng tác tháng 9/1939, khi đó Huy Cận 20 tuổi đang học trường Cao đẳng Canh
nông, những buổi chiều nhớ nhà thường đạp xe ra bến Chèm nhìn dòng sông Hồng
cuộn chảy nỗi nhớ trào dâng bài thơ ra đời
- Rút ra từ tập “Lửa thiêng” (1940)
2/ Nội dung:
- Nhan đề và lời đề từ
+ Tràng giang: âm hưởng từ Hán-Việt gợi không khí cổ kính và có tính khái quát:
không chỉ gợi sự mênh mông bát ngát của không gian mà còn gợi nỗi buồn mênh
mang rợn ngợp.
+ Lời đề từ: Thâu tóm khá chính xác và tinh tế cả tình (bâng khuâng, thương nhớ) và
cảnh (trời rộng, sông dài) của bài thơ.
- Bức tranh thiên nhiên:
+ Không gian: mênh mang, bao la, rộng lớn.
+ Cảnh vật: hiu quạnh, hoang vắng, đơn lẻ, hiu hắt buồn
- Tâm trạng nhân vật trữ tình (nỗi lòng của nhà thơ):
+ Nhà thơ cảm thấy cô đơn nhỏ bé trước mênh mông sông nước đất trời.
thấy lung linh vẻ đẹp “mờ nhân ảnh”
+ Câu hỏi phiếm chỉ cực tả nỗi băn khoăn không biết tình yêu có bền chặt hay cũng
mờ ảo như sương khói.
-> Tình yêu thầm kín của nhà thơ.
3/ Nghệ thuật
Hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng.
TỪ ẤY
– Tố Hữu -
I. Tác giả (Sgk)
II. Tác phẩm:
1/ Xuất xứ:
- Tập thơ Từ ấy (1937-1946) gồm 3 phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng.
- Bài thơ Từ ấy được trích từ tập thơ Từ ấy thuộc phần Máu lửa.
2/ Nội dung:
- Bài thơ là niềm vui sướng của chàng trai trẻ khi bắt gặp lí tưởng cách mạng:
- Từ giác ngộ lí tưởng cách mạng, chàng trai trẻ tự nguyện đến với mọi người lao
khổ để cùng cảm thông chia sẻ - đó là quá trình từ bỏ cái tôi cá nhân để đến với cái
ta chung. Sự gắn bó ấy được nâng lên thành tình cảm máu thịt ruột rà.
3/ Nghệ thuật:
- Nghệ thuật ẩn dụ : “mặt trời chân lí”.
- Ngôn ngữ hình ảnh, tươi sáng: “bừng nắng hạ”,”rất đâm hương và rộn tiếng
chim”…
- Sự nhiệt tình, khí thế hăm hở đến với cách mạng của chàng trai trẻ khi mới giác
ngộ cách mạng.
CHIỀU TỐI
- Hồ Chí Minh –
I Tác giả (Sgk)
II. Tác phẩm
1/ Xuất xứ
1/ Xuất xứ :
Một thời đại trong thi ca là tiểu luận mở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam, tổng kết
một cách sâu sắc phong trào thơ mới.
2/ Nội dung:
- Tác giả nêu vấn đề: Đi tìm “ Điều ta cho là quan trọng hơn: Tinh thần thơ mới”
- Tinh thần thơ mới là ở chỗ cái “tôi” đối lập với cái “ ta”. Cái “ tôi” mang nhiều
mặt tích cực và bi kịch
+ Cái “tôi đáng thương và tội nghiệp, nó là bi kịch đang diễn ngấm ngầm dưới
những phù hiệu dễ dãi trong tâm hồn người thanh niên.
+ Họ giải quyết bi kịch đó bằng cách gửi vào tình yêu tiếng Việt
3/ Nghệ thuật:
- Lập luận khoa học, chặt chẽ, thấu đáo
- Văn phong tài hoa, tinh tế, giàu cảm xúc.VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
TÔI YÊU EM
(A. Pus-kin)
II. Hoàn cảnh ra đời
5
Tác giả viết năm 1839 . khởi nguồn từ mối tình tuyệt vọng của tác giả với A.A . Ô-
lê- nhi- na.
Là một trong những bài thơ tình nổi tiếng của A. Pus-kin - “mặt trời thi ca Nga”.
I. Gía trị tư tưởng :
Bài thơ thể hiện nỗi buồn của mối tình vô vọng nhưng trong sáng của một tâm hồn
yêu đương chân thành mãnh liệt , nhân hậu vị tha và cao thượng .
NGƯỜI TRONG BAO ( A. P. SÊ -KHỐP)
I. Hoàn cảnh ra đời :
Truyện người trong bao viết năm 1898 khi Sê- khốp đi nghỉ mát tại thành phố I- an
xã hội TB do phương thức đó đẻ ra
+ Sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, biến lý thuyết khoa học thành hành động
Cách mạng
- Tình cảm của Ăng-ghen đối với Mác
2/ Nghệ thuật
Lập luận chặt chẽ, sử dụng nghệ thuật so sánh tăng tiến
6
PHẦN TIẾNG VIỆT
NGHĨA CỦA CÂU
1/ Cần nắm được:
Mỗi câu gồm có hai thành phần nghĩa
+ Nghĩa sự việc: đề cập đến một sự việc (hoặc một vài sự việc)
+ Nghĩa tình thái: bày tỏ thái độ, sự đánh giá của người nói đối với sự việc
- Nghĩa sự việc của câu là thành phần nghĩa ứng với sự việc mà câu đề cập đến
Một số loại sự việc phổ biến
+ Câu biểu hiện hành động
+ Câu biểu hiện trạng thái tính chất ,đặc điểm
+ Câu biểu hiện q trình
+ Câu biểu hiện tư thế
+ Câu biểu hiện sự tồn tại
+ Câu biểu hiện quan hệ
- Nghĩa tình thái: Sự nhìn nhận, đánh giá và thái độ của người nói đối với sự việc
được đề cập đến trong câu, nó bộc lộ tình cảm thái độ của người nói
2/ Làm được các bài tập trong Sgk.
ĐẶC ĐIỂM LOẠI HÌNH CỦA TIẾNG VIỆT
1/ Nắm được khái niệm.
- Loại hình ngơn ngữ là 1 kiểu cấu tạo ngơn ngữ, trong đó bao gồm một hệ thống
những đặc điểm có liên quan với nhau, chi phối lẫn nhau.
dung, hình thức và mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài của chúng.
- Phân tích bao giờ cũng gắn với tổng hợp.
- Khi phân tích chúng ta cần:
+ Cần chia, tách đối tượng thành các yếu tố theo những tiêu chí, quan hệ nhất định
+ Cần đi sâu vào từng yếu tố, từng khía cạnh song cần đặc biệt lưu ý đén quan hệ
giữa chúng với nhau trong một chỉnh thể toàn vẹn, thống nhất.
THAO TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH
- Mục đích và yêu cầu của thao tác lập luận so sánh là làm sáng tỏ, làm vững chắc
hơn luận điểm của người viết.
- Đặt các đối tượng vào cùng một bình diện, đánh giá trên cùng một tiêu chí, cần nêu
rõ quan niệm ý kiến của người nói (viết)
-
THAO TÁC LẬP LUẬN BÁC BỎ
- Bác bỏ là dùng lí lẽ và dẫn chứng để phủ nhận những ý kiến, những nhận định…
sai trái, nhằm bảo vệ những ý kiến, những nhận định đúng đắn.
- Để bác bỏ thành công, chúng ta cần:
+ chỉ ra được cái sai hiển nhiên (trái với quy luật tự nhiên, XH, sáng tạo và cảm thụ
nghệ thuật…) của chủ thể phát ngôn (ý kiến, nhận định, quan điểm…)
+ Dùng lí lẽ và dẫn chứng khách quan, trung thực để bác bỏ các ý kiến, nhận định …
sai trái.
+ Thái độ thẳng thắn, có văn hoá và có sự tôn trọng người đối thoại, tôn trong bạn
đọc.
TIỂU SỬ TÓM TẮT
- Yêu cầu của bản tiểu sử tóm tắt
+ Văn bản tiểu sử tóm tắt cần chính xác,chân thực, ngắn gọn nhưng phải nêu đựơc
những nét tiêu biểu về cuộc đời, sự nghiệp của người được giới thiệu.
+ Nội dung và độ dài của văn bản cần phù hợp với mục đích tóm tắt tiểu sử. Văn
phong cô đọng, trong sáng không dùng tu từ.
- Các phần của bản tiểu sử tóm tắt
+ Giới thiệu khái quát về nhân thân (họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, gia
NGH LUN VN HC
1; Em hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài Từ ấy của Tố Hữu để thấy đwợc
tâm trạng của tác giả khi bắt gặp lý tởng:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vờn hoa lá
Rất đậm hơng và rộn tiếng chim.
- Mở bài: Giới thiệu tác giả Tố Hữu và bài thơ Từ ấy. Đồng thời giới thiệu khổ thơ
sẽ phân tích.
- Thân Bài
+ Nội dung: Đoạn thơ mở đầu tác phẩm có ý nghĩa khái quát tâm trạng của Tố
Hữu khi lần đầu tiên đợc đứng vào hàng ngũ những ngời cộng sản. Đó là tiếng reo
vui náo nức, niềm vui khi gặp lý tởng của tác giả.
+ Nghệ thuật: Đoạn thơ sử dụng các biên pháp nghệ thuật nh: ẩn dụ, các hình ảnh
so sánh din t tâm trạng hồ hởi vui tơi, yêu đời của ngời chiến sĩ cách mạng
trẻ tuổi
- Kết bài: Đánh giá ý nghĩa đoạn thơ và bài thơ nói chung trong việc ghi lại cảm
xúc, tâm trạng của Tố Hữu một kỷ niệm đẹp, trong sáng khi bắt gặp lý tởng
mới soi đờng.
2 Cảm nhận của em về tâm trạng của Xuân Diệu qua đoạn thơ sau:
9
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhng lợng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
( Trích Vội vàng Xuân Diệu).
- Mở bài: Giới thiệu nhà thơ Xuân Diệu và bài thơ Vội vàng. Đồng thời giới thiệu
10
rất tài hoa và cũng rất đỗi bất hạnh này. "Đây thôn Vĩ Dạ" trích từ tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử.
Chất điên cuồng ấy thể hiên cụ thể và rõ nét trong khổ thơ:
"Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?"
Với lời trách cứ nhẹ nhàng dịu ngọt vừa như một lời mời, Hàn Mặc Tử trở về với thôn Vĩ Dạ trong
mộng tưởng:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cây nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
Cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ - một làng kề sát thành phố Huế bên bờ Hương Giang với những vườn cây
trái, hoa lá sum suê hiện lên thật nên thơ, tươi mát làm sao. Đó là một hàng cau thẳng tắp đang tắm
mình dưới ánh “nắng mới lên” trong lành. Chưa hết, rất xa là hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới
lên” còn rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt quá” gợi cả cây nhung non tràn
trề sức sống xanh tốt. Màu “mướt quá” làm cho lòng người như trẻ hơn và vui tươi hơn. Lời thơ
khen cây cối xanh tốt nhưng lại nhu huyền ảo, lấp lánh mới thấy hết cẻ đẹp của “vườn ai”. Trong
không gian ấy hiện lên khuôn “mặt chữ điền” phúc hậu, hiền lành vừa quen vừa lạ, vừa gần, vừa
xa, vừa thực vừa ảo bởi “lá trúc che ngang”. Câu thơ đẹp vì sự hài hòa giữa cảnh vật và con người.
“Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vẻ đẹp của con người. Như vậy tâm trạng của nhân
vật trữ tình ở đoạn thơ này là niềm vui, vui đến say mê như lạc vào cõi tiên, cõi mộng khi được trở
về với cảnh và người thôn Vĩ.
Thế nhưng cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dạ nhưng thời gian có sự biến đổi từ “nắng mới lên”
sang chiều tà. Tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng có sự biến đổi lớn. Trong mắt thi nhân, bầu
trời hiện lên “Gió theo lối gió mây đường mây” trong cảnh chia li, uất hận. Biện pháp nhân hóa
cho chúng ta thấy điều đó. “Gió theo lối gió” theo không gian riêng của mình và mây cũng thế.
Câu thơ tách thành hai vế đối nhau; mở đầu vế thứ nhất là hình ảnh “gió”, khép lại cũng bằng gió;
mở đầu vế thứ hai là “mây”, kết thúc cũng là “mây”. Từ đó cho ta thấy “mây” và “gió” như những
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
Vẫn là một tâm trạng vui sướng được đón “khách đường xa” - người thôn Vĩ đến với mình, tâm
trạng nhân vật trữ tình lại khép lại trong một nỗi đau đớn, hoài nghi “Ai biết tình ai có đậm đà?”.
“Ai” ở đây vừa chỉ người thôn Vĩ vừa chỉ chính tác giả. Chẳng biết người thôn Vĩ có còn nặng tình
với mình không? Và chẳng biết chính mình còn mặn mà với “áo em trắng quá” hay không? Nỗi
đau đớn trong tình yêu chính là sự hoài nghi, không tin tưởng về nhau. Nhân vật trữ tình rơi vào
tình trạng ấy và đã bộc bạch lòng mình để mọi người hiểu và thông cảm. Cái mới của thơ ca lãng
mạn giai đoạn 1932 - 1945 cũng ở đó.
Đọc xong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, nhất là khổ thơ “Gió theo lối gió -…. kịp tối
nay” để lại trong lòng người đọc những tình cảm đẹp. Đoạn thơ giúp ta hiểu thêm tâm tư của một
nhà thơ sắp phải giã từ cuộc đời. Lời thơ vì thế trầm buồn, sâu lắng, đầy suy tư. Bạn đọc đương
thời yêu thơ của Hàn Mặc Tử bởi thi nhân đã nói hộ họ những tình cảm sâu lắng nhất, thầm kín
nhất của mình trong thời đại cái “tôi”, cái bản ngã đang tự đấu tranh để khẳng định. Tình cảm
trong thơ Hàn Mặc tử là tình cảm thực do đó nó sẽ ở mãi trong trái tim bạn đọc. Ấn tượng về một
nhà thơ của đất Quảng Bình đầy nắng và gió sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người Việt
Nam.
(Trích bài thi đạt điểm 10 của Nguyễn Trung Ngân dự thi ĐH Cần Thơ năm 2008)
Đề 4 : Đề và đáp án môn văn khối D năm 2009
Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận để làm nổi bật vẻ đẹp vừa cổ điển vừa
hiện đại.
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
12
- HC là một nhà thơ xuất sắc trong phong trào Thơ mới
Tràng giang (sáng tác năm 1939 in trong tập Lửa Thiêng), là bài thơ nổi tiếng và tiêu
biểu nhất của HC trước CMT8. Tràng Giang mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại.
2. Phân tích bài thơ
a. Khổ thơ 1:
- Nhan đề và lời đề từ đã gợi lên phần nào cảm xúc chủ đạo của bài thơ : bâng
làm Thôi Hiệu buồn, còn Huy Cận thì không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà, nỗi
nhớ đã luôn da diết trong lòng tác giả.
3. Vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại của bài thơ
a. Đề tài, cảm hứng:
- Tràng giang mang nỗi sầu từ vạn cổ của con người bé nhỏ, hữu hạn trước thời
gian
không gian vô hạn, vô cùng.
- Tràng giang đồng thời thể hiện “nỗi buồn thế hệ” của một “cái tôi” Thơ mới
thời mấ
nước “chưa tìm thấy lối ra”.
b. Chất liệu thi ca:
- Ở Tràng giang, ta bắt gặp nhiều hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ (tràng giang,
bờ bãi đìu hiu, cánh chim trong bóng chiều…), nhiều hình ảnh, tứ thơ được gợi từ
thơ cổ.
- Mặt khác, Tràng giang cũng không thiếu những hình ảnh, âm thanh chân thực
của đờ thường, không ước lệ (củi khô, tiếng vãn chợ chiều, bèo dạt…).
c. Thể loại và bút pháp:
- Tràng giang mang đậm phong vị cổ điển qua việc vận dụng nhuần nhuyễn thể
thơ 7 chữ với cách ngắt nhịp, gieo vần, cấu trúc đăng đối; bút pháp tả cảnh ngụ
tình, gợi hơn là tả …những từ Hán Việt cổ kính (tràng giang, cô liêu…).
- Song, Tràng giang lại cũng rất mới qua xu hướng giãi bày trực tiếp “cái tôi” trữ
tình
(buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…), qua
những từ ngữ sáng tạo mang dấu ấn xúc cảm cá nhân của tác giả (sâu chót vót,
niềm thân mật, dợn…)
4. Kết luận
- Tràng giang của Huy Cận không chỉ là một bức phong cảnh mà còn là “một bài
14
thơ về tâm hồn”. Bài thơ thể hiện nỗi buồn cơ đơn trước vũ trụ, trước cuộc đời.
- Từ đề tài, cảm hứng, chất liệu đến giọng điệu, bút pháp, Tràng giang vừa mang
bay mỏi” và Huy Cận lại cảm thấy bóng chiều như đang sà xuống từ cánh chim đang
nghiêng dần về cuối chân trời: “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”. Hình như
trong cảm nhận của các thi nhân xưa thì khi miêu tả cảnh chiều mà không có hình ảnh
cánh chim thì bóng chiều chưa rõ.
Cánh chim trong thơ xưa thường chỉ là một chi tiết nghệ thuật thuần tuý để
gợi tả cảnh chiều thế thôi và thường gợi nên cảm giác về sự xa xăm, phiêu bạt, chia lìa:
“Chúng điểu cao phi tận” – Lí Bạch
“Thiên sơn điểu phi tuyệt” – Liễu Tông Nguyên
chúng ta đều nhận thấy cánh chim trong thơ của Lí Bạch và Liễu Tông Nguyên đều
“Phi tuyệt”, “Phi tận”. Tất cả đều không có điểm dừng mà ở vào trạng thái bay vào
15
chốn xa xăm, vô tận, gợi lên một ý niệm siêu hình nào đó. Còn cánh chim trong bài thơ
“Chiều tối” của Bác lại có phương hướng, điểm dừng, mục đích bay rõ ràng:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ)
như vậy Bác đã đưa cánh chim từ thế giới siêu hình trở về với thế giới hiện thực. Ta
nhận thấy trong cách nhìn của Bác là một cách nhìn đầy yêu thương, trìu mến trước
biểu hiện nhỏ nhoi của sự sống. Nhìn cánh chim đang bay, Bác cảm nhận được sự mệt
mỏi của đôi cánh sau một ngày đường hoạt động. Trong chiều sâu tâm hồn của Bác
chính là lòng yêu thương sự sống, cảm quan của Bác chính là cảm quan nhân đạo.
Câu thơ thứ hai cũng mang đậm nét Đường thi. Nó rất gần với câu thơ: “Cô
vân độc khứ nhàn” của Lí Bạch. Hình ảnh chòm mây cô độc trôi giữa bầu trời đã trở
thành một mô tuýp quen thuộc trong thơ xưa, nó thường gợi lên cái cô độc thanh cao, sự
phiêu diêu, thoát tục và nỗi khắc khoải của con người trước cõi hư không. Còn trong bài
“Chiều tối” của Bác, hình ảnh chòm mây cô độc trôi nhè nhẹ qua bầu trời chỉ là một
nét vẽ tạo nên cái không gian cao rộng của cảnh trời chiều nơi miền rừng núi. Bầu trời
hôm ấy phải thật cao, thật trong xanh ta mới thấy được hình ảnh chòm mây cô độc ấy
gợi nên hình ảnh cô độc nơi đất khách, quê người của Bác. Mỗi một chi tiết của cảnh
chiều đều nhuốm màu tâm trạng. Cánh chim mỏi tìm về tổ ấm, còn người tù thì mệt
mỏi sau một ngày đường mà vẫn chưa có được chỗ dừng chân. Chòm mây lẻ loi trôi
Gõ sừng mục tử lại cô thôn”
(Chiều Hôm Nhớ Nhà - Bà Huyện Thanh Quan)
còn con người trong thơ Bác, lại là con người lao động đầy sức sống. Chính hai từ
“thiếu nữ” đã làm bừng lên sức sống của bức tranh. Cô gái miệt mài xay ngô và hình
như cô không chú ý đến những gì xung quanh mình. Cối xay vẫn cứ quay và quay tít
“ma bao túc” rồi “bao túc ma” và khi ngô đã xay xong “bao túc ma hoàn” thì cô mới
nhìn thấy “lò than đã rực hồng”. Hình ảnh “lò than đã rực hồng” hiện lên trong đêm tối
càng làm nổi bật hình ảnh người thiếu nữ. Toàn bộ cảnh thiên nhiên đang chìm trong
màu xám nhạt chuyển sang màu tối. Cũng vì thế hình ảnh lò than rực hồng có sức lôi
cuốn đặc biệt. Bài thơ kết thúc bằng chữ “hồng”, có thể nói đó chính là chỗ đẹp nhất
của bài thơ. Đó chính là ánh lửa hồng của cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc gia đình, ánh
lửa hồng của sự sống, của niềm lạc quan. Chữ “hồng” đặt ở cuối bài thơ soi rõ vẻ đẹp
của người thiếu nữ, toả ánh sáng và hơi ấm xua đi cái buồn vắng của bức tranh chiều
tối nơi rừng núi.
Hai câu thơ đã cho ta thấy được cái nhìn ấm áp đầy yêu thương, trân trọng
của Bác đối với con người lao động. Buổi “Chiều tối” nơi miền rừng núi quạnh hiu,
hoang vắng, lẽ ra rất đỗi buồn bã, thê lương trước mắt người tù bò xiềng xích, bò giải đi
với biết bao nỗi gian lao vất vả, nhưng trái lại đó là tiếng reo vui. Chữ “hồng” ở cuối
bài đã làm nên tiếng reo vui ấy, tạo cho bài thơ âm hưởng nồng ấm, dạt dào.
“Chiều tối” là một tác phẩm đậm đà màu sắc cổ điển mà cũng rất hiện đại, thể
hiện một cách tự nhiên và phong phú vẻ đẹp của hình ảnh người tù – thi só, người chiến
só cộng sản Hồ Chí Minh. Bài thơ đã thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết của Bác.
Điều đặc biệt ở đây là cảm quan thiên nhiên của Bác gắn liền với cảm quan nhân đạo,
cảm quan về sự sống.
Nghị luận xŠ hội
Đề 1: Ý kiến của em về phương châm “HŒc đi đơi với hành”
Định hướng làm bài:
1. Kĩ năng: Biết vận dụng kiến thức từ cuộc sống, từ thực tế học tập của bản
Đề 3: Quan niệm của anh (chị) về đồng tiền trong xŠ hội ngày nay.
Gợi ý:
-Xác định đây là dạng đề mở
-HS cần xác định nội dung trọng tâm của đề: Quan niệm của bản thân về đồng tiền
trong xã hội ngày nay cùng đôi điều suy ngẫm
-Như vậy HS cần làm rõ các luận điểm:
+Vai trò của đồng tiền đối với cuộc sống hôm nay
. Là phương tiện giúp ta đáp ứng được mọi nhu cầu cần thiết trong cuộc sống
. Là yếu tố cơ bản trong việc vun đắp hạnh phúc gia đình và duy trì sự bình yên của
đời sống xã hội.
. Hiện thực hoá những ước mơ-là chiếc cầu nối cho mỗi chúng ta trên bước đường
danh vọng.
+Những tác động tiêu cực của đồng tiền:
. Tiền làm tha hoá nhân cách con người, mục rã các giá trị đạo đức truyền thống
. Tiền là căn nguyên của những tệ nạn xã hội
-HS cần phải nhìn nhận được những vấn đề trên đồng thời cần phải liên hệ nhiều
trong thực tế đời sống.
Đề 4 :
Đề bài: Đồng cảm và chia sẻ đang là nếp sống đẹp hiện nay trong xã hội ta.
Anh (chị) hãy trình bày ý kiến của mình về nếp sống tốt đẹp đó.
I. YÊU CẦU:
1. Về kĩ năng :
- Áp dụng kết hợp thao tác lập luận ở những mức độ nhất định để làm rõ
nội dung đề bài.
- Biết cách trình bày một bài văn nghị luận xã hội.
18
- Hiểu về vấn đề xã hội được nêu trong đề bài.
2. Về nội dung :
19