CH NH TH CĐỀ Í Ứ
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT CHUYÊN
QUẢNG NAM Năm học 2009-2010
Môn NGỮ VĂN
Thời gian làm bài 150 phút (không kể thời gian giao
đề)
Câu 1 (2,0 điểm)
a) Thế nào là thành phần khởi ngữ?
b) Tìm thành phần khởi ngữ trong các câu sau:
- Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm.
Điều này ông khổ tâm hết sức.
(Kim Lân, Làng)
- Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”.
(Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa
xôi)
Câu 2 (3,0 điểm)
Nêu các yếu tố kì ảo và phân tích ý nghĩa của những yếu tố kì ảo trong
“Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ.
Câu 3 (5,0 điểm)
Trình bày suy nghĩ của em về quan niệm sau của M. Gorki:
“Người bạn tốt nhất bao giờ cũng là người đến với ta trong những giây phút
khó khăn, cay đắng nhất của cuộc đời.”
HẾT
Họ và tên thí sinh: Số báo danh:
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT CHUYÊN
QUẢNG NAM Năm học 2009 – 2010
Môn NGỮ VĂN
HƯỚNG DẪN CHẤM THI
I. Hướng dẫn chung
- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài
làm của học sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.
oan cho nàng ở bến Hoàng Giang lung linh huyền ảo với kiệu hoa, võng
lọng lúc ẩn lúc hiện rồi bóng Vũ Nương mờ nhạt dần và biến mất.
0,50
-Phân tích ý nghĩa của những yếu tố kì ảo:
+Làm hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của nhân vật Vũ Nương
(một con người dù đã ở thế giới khác vẫn nặng tình với cuộc đời, quan
tâm đến chồng con, phần mộ tổ tiên, vẫn khao khát được phục hồi danh
dự).
0,50
+Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho tác phẩm, thể hiện ước mơ
ngàn đời của nhân dân về sự công bằng trong cuộc đời - người tốt dù có
trải qua bao oan khuất, cuối cùng cũng được minh oan.
0,50
+Tình tiết Vũ Nương trở lại dương thế: Hạnh phúc dương thế của những
con người như Vũ Nương khao khát chỉ là ảo ảnh thoáng chốc, khó lòng
tìm thấy được - điều đó khẳng định niềm cảm thương của tác giả đối với
số phận bi thảm của người phụ nữ trong chế độ phong kiến.
0,50
Lưu ý:
+Học sinh có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo
các ý chính trên.
+Điểm quy định cho từng ý là điểm tối đa của ý đó. Giáo viên căn cứ thực
ĐỀ CHÍNH THỨC
tiễn bài làm của học sinh để tính toán điểm số hợp lí.
Câu 3 Trình bày suy nghĩ của em về quan niệm sau của M. Gorki:
“Người bạn tốt nhất bao giờ cũng là người đến với ta trong
những giây phút khó khăn, cay đắng nhất của cuộc đời.”
5,00
a)Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí. Kết cấu
NĂM HỌC 2009-2010, KHÓA NGÀY 24-6-2009
MÔN THI: NGỮ VĂN CHUYÊN (tại TP.HCM)
(Thời gian làm bài: 150 phút, không kể thời gian giao đề)
Câu 1 (8 điểm):
“Bước vào thế kỉ mới, nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức đều sẽ cản trở sự phát triển của đất nước” .
(Vũ Khoan, Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới). Suy nghĩ của em về vấn đề trên.
Câu 2 (12 điểm):
Hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam được thể hiện sâu sắc qua các tác phẩm văn học trung đại trong chương
trình Ngữ văn 9.
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu 1 (8 điểm):
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, tuy nhiên cần đảm bảo được các yêu cầu sau:
1. Giải thích câu nói:
- Thế kỷ mới: đặt trong bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới của tác giả Vũ Khoan, đây là nhóm từ chỉ thế kỷ
XXI, thế kỷ của khoa học công nghệ, của sự hội nhập toàn cầu…
- Nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại: chỉ thái độ coi trọng, tôn trọng quá mức (sùng), bác bỏ, tẩy chay, chê bai
(bài) các yếu tố bên ngoài (ngoại). Đặt trong văn cảnh, có thể hiểu “ngoại” là các yếu tố nước ngoài.
- Nội dung câu nói: khẳng định cả hai thái độ (sùng ngoại, bài ngoại) đều không thể chấp nhận được, vì cản trở
sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.
2. Chứng minh:
- Thế kỷ mới (thế kỷ XXI) là thời kỳ đất nước ta đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hơn thế nữa “hội nhập
ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới” (Vũ Khoan, Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới). Bước chân vào thế kỷ
mới, đất nước Việt Nam, con người Việt Nam có rất nhiều cơ hội (hòa nhập, mở rộng giao lưu về kinh tế, văn
hóa, khoa học, công nghệ ) nhưng cũng đứng trước không ít khó khăn, thử thách (trong đó có thử thách làm
sao giữ được bản sắc, truyền thống dân tộc). Vấn đề làm sao tận dụng những cơ hội, ứng phó với thách thức do
tiến trình hội nhập đem lại là vấn đề hết sức to lớn, là mối quan tâm của tất cả mọi người.
- Nếp nghĩ nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức tất yếu sẽ nảy sinh trong quá trình hội nhập, gây nên rất
nhiều hậu quả, có thể kể ra:
+ Nếp nghĩ sùng ngoại: tạo ra nếp sống, cách nghĩ xa lạ với con người, dân tộc Việt Nam, dẫn đến một điều nguy
hại: làm mất đi bản sắc, thui chột truyền thống dân tộc, không có ý thức phát huy lòng tự tôn dân tộc.
nghĩa gây ra bao nhiêu bất hạnh cho con người.
- Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh - trích Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ: phản ánh cuộc sống xa hoa của
tầng lớp vua chúa, sự nhũng nhiễu của bọn quan lại thời Lê - Trịnh.
- Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái: sự rối ren của xã hội phong kiến được phản ánh thông qua số
phận bi thảm, bộ mặt hèn nhát của lũ vua quan bán nước, hại dân ; sự đại bại của bè lũ xâm lược.
- Mã Giám Sinh mua Kiều (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du): phản ánh bản chất bất nhân, phi nghĩa của bọn
buôn người.
- Lục Vân Tiên gặp nạn (trích Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu): phản ánh sự tàn ác, toan tính thấp
hèn của kẻ bất nhân.
* Phản ánh số phận khổ đau, bị chà đạp của con người, đặc biệt là người phụ nữ:
- Là số phận oan trái, bi kịch của Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ), bị chồng nghi
ngờ về lòng chung thủy, bị dồn vào bước đường cùng, phải tìm đến cái chết ở bến Hoàng Giang.
- Là số phận chìm nổi Thúy Kiều, một người con gái tài sắc, đang sống trong cảnh ấm êm, bỗng chốc rơi vào
thảm cảnh: bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích với bao nhiêu bẽ bàng, chua xót (Kiều ở lầu Ngưng Bích); trở thành
món hàng trong tay bọn buôn người (Mã Giám Sinh mua Kiều).
- Là Lục Vân Tiên nhân hậu nhưng trở thành nạn nhân của những toan tính thấp hèn, âm mưu hiểm độc ( Lục
Vân Tiên gặp nạn).
3. Đánh giá chung, trình bày suy nghĩ, cảm nhận của bản thân:
- Hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam được thể hiện trong các tác phẩm nói trên được thể hiện vừa sâu sắc
(trên nhiều phương diện), vừa sinh động (dưới nhiều hình thức thể loại, các kiểu dạng nhân vật phong phú). Hiện
thực ấy đã giúp các tác giả tái hiện lại bức tranh xã hội phong kiến Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử nhất
định, đặc biệt làm nên giá trị hiện thực - một trong những phương diện tư tưởng quan trọng của tác phẩm.
- Thông qua hiện thực ấy, các tác giả (Nguyễn Dữ, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Du ) đã lên tiếng tố cáo đanh thép
xã hội phong kiến, thể hiện sự bất bình cao độ, đặc biệt là cất lên tiếng nói đồng cảm, xót xa, bênh vực và bảo vệ
con người.
- Thông qua hiện thực ấy, ta hiểu được tài năng và cả tấm lòng của các tác giả văn học thời trung đại.
Người giải đề thi: ThS TRIỆU THỊ HUỆ
(Tổ trưởng tổ Văn, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong TP.HCM)
Đề môn Văn tuyển sinh lớp 10 tại TP HCM
a. Ông nói gà, bà nói vịt:
- Ý nghĩa: mỗi người nói một đằng, nói không khớp với nhau, không hiểu nhau.
- Phương châm hội thoại liên quan: phương châm quan hệ.
b. Nói như đấm vào tai:
- Ý nghĩa: nói mạnh, trái ý người khác, khó tiếp thu, gây khó chịu cho người khác.
- Phương châm hội thoại liên quan: phương châm lịch sự.
Câu 3 (3 điểm):
Đề bài yêu cầu HS viết một văn bản nghị luận (không quá một trang giấy thi) về chủ đề
quê hương. Đây là dạng bài nghị luận xã hội (về một vấn đề tư tưởng, đạo lí) với hình
thức khá “mở”, tạo điều kiện cho HS có thể trình bày ý kiến, cảm nhận của mình xoay
quanh chủ đề quê hương (như vai trò của quê hương đối với đời sống con người, tình
yêu, sự gắn bó đối với quê hương ). Tuy vậy, HS cần đáp ứng được hai yêu cầu chính
sau đây:
* Về hình thức: Trình bày bài viết đúng với yêu cầu của đề: văn bản nghị luận có đủ ba
phần (mở bài, thân bài, kết luận), và không quá một trang giấy thi.
* Về nội dung: HS có thể diễn đạt theo nhiều cách, song cần đảm bảo được một số ý
chính sau:
- Giải thích khái niệm quê hương: có thể hiểu khái quát là nơi ta sinh ra, lớn lên, có gia
đình, kỉ niệm thời thơ ấu
- Vị trí, vai trò của quê hương trong đời sống của mỗi con người:
+ Mỗi con người đều gắn bó với quê hương, mang bản sắc, truyền thống, phong tục tập
quán tốt đẹp của quê hương. Chính vì thế, tình cảm dành cho quê hương ở mỗi con người
là tình cảm có tính chất tự nhiên, sâu nặng.
+ Quê hương luôn bồi đắp cho con người những giá trị tinh thần cao quí (tình làng nghĩa
xóm, tình cảm quê hương, gia đình sâu nặng ).
+ Quê hương luôn là điểm tựa vững vàng cho con người trong mọi hoàn cảnh, là nguồn
cổ vũ, động viên, là đích hướng về của con người.
(Lưu ý: HS lấy dẫn chứng trong đời sống, trong văn học để chứng minh)
- Bàn bạc mở rộng:
+ Phê phán một số người không coi trọng quê hương, không có ý thức xây dựng quê
qua đời).
b. Là người có số phận bất hạnh:
- Nạn nhân của chế độ nam quyền, của cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa: cuộc hôn
nhân của nàng không xuất phát từ tình yêu; phải đằng đẵng chờ chồng khi chồng đi chiến
trận.
- Bị chồng nghi ngờ lòng chung thủy chỉ vì lời nói ngây thơ của con trẻ (chú ý các lời
thoại của Vũ Nương: cố phân trần với chồng, biện bạch cho mình mà không được, đau
khổ tuyệt vọng khi bị chồng mắng nhiếc, đánh đuổi đi, bị dồn vào bước đường cùng: phải
tự vẫn ở bến Hoàng Giang để bảo toàn danh dự).
- Đoạn kết của truyện tuy mang màu sắc cổ tích (kết thúc có hậu) nhưng vẫn không làm
mờ đi bi kịch của Vũ Nương: nàng không thể trở về dương thế sống bên cạnh chồng con
được nữa.
c. Từ nhân vật Vũ Nương, khái quát lên phẩm chất và số phận của người phụ nữ
dưới xã hội phong kiến:
- Nguyễn Dữ đã đặt nhân vật Vũ Nương vào nhiều hoàn cảnh khác nhau để làm bật lên
phẩm chất và cả sự bất hạnh của nàng. Cách dẫn dắt tình tiết sinh động, hấp dẫn, sự đan
xen các yếu tố kỳ ảo với những yếu tố thực khiến cho nhân vật vừa mang những đặc điểm
nhân vật của thể loại truyền kì vừa gắn với cuộc đời thực.
- Vũ Nương là người phụ nữ mang vẻ đẹp mẫu mực của người phụ nữ dưới xã hội phong
kiến xưa kia. Lẽ ra nàng phải được hưởng hạnh phúc trọn vẹn nhưng lại phải chết oan
uổng, đau đớn. Phẩm chất và số phận bi thảm của nàng gợi phẩm chất tốt đẹp và số phận
bi thảm của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia.
- Qua nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ cất lên tiếng nói thông cảm, bênh vực người phụ
nữ đồng thời phản ánh, tố cáo xã hội phong kiến bất công, vô nhân đạo.
Đề môn Văn tuyển sinh lớp 10 tại Hà Nội
KỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
NĂM HỌC 2009-2010, KHÓA NGÀY 24-6-2009
MÔN THI: NGỮ VĂN (Hà Nội)
(Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian giao đề)
Phần I (4 điểm):
phần tình thái và những từ ngữ dùng làm phép nối).
Câu 3: Cũng trong bài thơ trên có câu:
“Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng”
Trong câu thơ trên từ “lộc” được hiểu như thế nào? Theo em, vì sao hình
ảnh “người cầm súng” lại được tác giả miêu tả “Lộc giắt đầy trên lưng”?
GỢI Ý BÀI GIẢI
Phần 1 (4 điểm):
Câu 1: Đoạn văn là lời của nhân vật thanh niên, nhân vật chính trong truyện
Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long kể về công việc làm của mình cho ông
họa sĩ già và cô kỹ sư nông nghiệp trẻ, qua lời giới thiệu của bác lái xe, lên thăm
nơi ở và làm việc của anh thanh niên trên đỉnh Yên Sơn cao hai ngàn sáu trăm
mét trong thời gian ba mươi phút.
- Những lời tâm sự đó giúp em hiểu: Nhân vật thanh niên đó sống một mình trên
núi cao, quanh năm suốt tháng làm việc với cây và mây núi ở Sa Pa.
Công việc của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất,
dự báo trước thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, chiến đấu. Anh lấy những
con số, mỗi ngày báo về “nhà” bằng báo bộ đàm bốn giờ, mười một giờ, bảy giờ
tối và một giờ sáng. Công việc anh thanh niên kể trong đoạn văn là ghi báo về
những con số lúc một giờ sáng trong hoàn cảnh thời tiết khắc nghiệt.
- Ngoài khó khăn được nói đến trong đoạn trích trên, hoàn cảnh sống và làm
việc của nhân vật còn có điều đặc biệt là: Anh thanh niên mới có hai mươi bảy
tuổi, cái tuổi đang hừng hực sức sống và sự bay nhảy. Thế mà, anh đã sống một
mình trong suốt bốn năm trên đỉnh Yên Sơn. Trong bốn năm đó, ông họa sĩ và
cô gái trẻ là đoàn khách thứ hai đến thăm nhà anh. Như vậy, cái gian khổ nhất
đối với anh là phải vượt qua sự cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt tháng chỉ có
một mình trên đỉnh núi cao không một bóng người. Công việc của anh làm âm
thầm, lặng lẽ một mình, báo về “ốp” đều đặn những con số để phục vụ sản xuất,
chíên đấu. Công việc ấy đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác, có tính trách nhiệm cao.
Câu 2: Trong hoàn cảnh sống và làm việc đặc biệt ấy, điều đã giúp nhân vật anh
Câu 1: Đoạn thơ trên nằm trong tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh
Hải.
Bài thơ được viết vào tháng 11-1980, không bao lâu trước khi tác giả qua đời,
thể hiện niềm yêu mến thiết tha cuộc sống, đất nước và ước nguyện được cống
hiến của tác giả.
Câu 2: Đoạn văn viết phải đảm bảo được những yêu cầu sau:
a. Về hình thức: Là đoạn văn tổng - phân - hợp, đúng số câu dề bài quy
định (khoảng từ 10-12 câu), không sai lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp, chữ viết sạch
sẽ, rõ nét.
b. Về nội dung:
- Câu mở đoạn: Giới thiệu khổ thơ nằm ở phần đầu bài Mùa xuân nho nhỏ của
Thanh Hải.
- Ý chính: Ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên của mùa xuân xứ Huế và cảm xúc của nhà
thơ trước vẻ đẹp ấy.
- Thân bài: Đảm bảo được rõ hai mạch ý:
- Ý 1: Mùa xuân thiên nhiên xứ Huế được miêu tả qua vài nét khắc hoạ: Dòng
sông xanh, bông hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hót vang trời.
Qua vài nét khắc hoạ nhưng tác giả vẽ ra được cả không gian mênh mông, cao
rộng cùa dòng sông xanh, hoa tím biếc - màu tím đặc trưng cho xứ Huế; cả âm
thanh rộn rã của chim chiền chiện hót vang trời vọng từ trên cao, bông hoa mọc
lên từ nước, giữa dòng sông xanh. Bức tranh xuân còn tràn trề sức sống được
thể hiện qua nghệ thuật đảo ngữ. Từ “Mọc” lên trước chủ ngữ và đứng đầu khổ
thơ.
- Ý 2: Cảm xúc của tác giả sâu sắc, say xưa, ngây ngất trước vẻ đẹp tươi sáng
tràn trề sức sống của mùa xuân được bộc lộ qua lời gọi, lời gọi chim “Ơi”, “hót
chi”; qua sự chuyển đổi cảm giác, cảm nhận âm thanh tiếng chim từ chỗ: cảm
nhận âm thanh bằng thính giác chuyển thành “từng giọt”, có hình, khối, cảm
nhận bằng thị giác. “Từng giọt long lanh” ấy có ánh sáng, màu sắc, có thể cảm
nhận bằng xúc giác: “Tôi đưa tay tôi hứng”.
Kết đoạn: Hình ảnh mùa xuân được khắc hoạ thật đẹp ở khổ 1 bài thơ Mùa xuân
những điều kiện thời tiết rất khắc nghiệt. Công việc của anh đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác,
có tính trách nhiệm cao.
- Ngoài khó khăn được nói đến trong đoạn trích trên, hoàn cảnh sống của nhân vật còn rất
đặc biệt. Anh sống một mình trên đỉnh Yên Sơn, quanh năm suốt tháng không một bóng
người, một hoàn cảnh thật đặc biệt. Cái gian khổ nhất là anh phải vượt qua được sự cô
đơn vắng vẻ, quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao.
Câu 2: Trong hoàn cảnh ấy, điều đã giúp nhân vật anh thanh niên vẫn sống yêu đời và
hoàn thành tốt nhiệm vụ là:
- Trước hết đó là ý thức về công việc và lòng yêu nghề, anh thấy được công việc thầm
lặng ấy là có ích cho cuộc sống, cho mọi người.
- Anh có những suy nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con người.
" “…Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc
của cháu gắn liền với công việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu
gian khổ thế đấy chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất".
-Cuộc sống của anh không cô đơn, buồn tẻ vì anh còn có nguồn vui khác nữa ngoài công
việc - đó là niềm vui đọc sách.
- Anh tổ chức, sắp xếp cuộc sống một mình trên trạm khí tượng thật ngăn nắp chủ động.
Anh thanh niên là người có lý tưởng sống, có những suy nghĩ và tình cảm cao đẹp, sống
có trách nhiệm với cuộc đời, có ý chí, nghị lực, cống hiến lặng lẽ và âm thầm cho đất
nước.
Câu 3: Chỉ ra một câu có sử dụng phép nhân hóa trong đoạn văn trên: học sinh lựa chọn
một trong hai câu cuối.
Phần II
Câu 1: Đoạn thơ trên nằm trong tác phẩm "Mùa xuân nho nhỏ" của nhà thơ Thanh Hải.
- Hoàn cảnh ra đời tác phẩm ấy: tháng 11/1980. Bài thơ được viết không bao lâu trước
khi nhà thơ qua đời, thể hiện niềm yêu mến thiết tha cuộc sống, đất nước và ước nguyện
của tác giả.
Câu 2: Dựa vào đoạn thơ trên, em hãy viết một đoạn văn khoảng 10-12 câu theo cách lập
luận tổng hợp - phân tích - tổng hợp, trong đó có sử dụng phép nối và một câu chứa thành
phần tình thái với chủ đề: vẻ đẹp của mùa xuân, thiên nhiên và cảm xúc của nhà thơ trước
vì tác giả bắt nguồn từ hình ảnh thực: trên đường hành quân, trên lưng người lính lúc nào
cũng có những cành lá để ngụy trang. Mùa xuân của đất trời đọng lại trong hình ảnh lộc
non, đã theo người cầm súng ra trận địa. Những con người ấy chiến đấu để bảo vệ mùa
xuân, mang mùa xuân tới mọi nơi cho đất nước.
Đinh Thu Hà