CAU HOI THAM KHAO LUAT BIEN - Pdf 17

Câu hỏi tham khảo tham khảo Luật biển Quốc tế
Câu hỏi 1: Luật Biển quốc tế là gì? theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật
Biển năm 1982, Việt Nam có những vùng biển nào?
Trả lời:
a. Luật Biển quốc tế là gl?
Luật Biển quốc tế được hiểu một cách đơn giản nhất, là tổng hợp các qui phạm
pháp luật quốc tế điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên thế giới liên quan đến
biển.
Công ước quốc tế về Luật Biển của Liên Hợp Quốc năm 1982 (sau đây gọi tắt là
Công ước 1982), có hiệu lực năm 1994 và Việt Nam là thành viên của Công ước
này (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã chính thức phê chuẩn ngày
23/6/1994), là một văn kiện quốc tế tổng hợp, toàn điện, bao quát những vấn đề
quan trọng nhất về chế độ pháp lý của biển và đại dương thế giới, quy định những
quyền và nghĩa vụ về nhiều mặt của mọi loại quốc gia (có biển, không có biển,
không phân biệt chế độ kinh tế, chính trị, xã hội cũng như trình độ phát triển) đối
với các vùng biển thuộc phạm vi quốc tế, cũng như những vùng biển thuộc quyền
tài phán quốc gia.
b. Các vùng biển theo Công ước l982
Theo Công ước 1982, Việt Nam có quyền ở 5 vùng biển với phạm vi và chế độ
pháp lý khác nhau. Đó là: Nội thủy, Lãnh hải, Vùng tiếp giáp, Vùng đặc quyền về
kinh tế và Thềm lục địa. Tháng 5/1977, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ra
Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Tháng 11/1982, Chính phủ ra Tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng
lãnh hải Việt Nam. Hai văn bản qui phạm pháp luật nói trên, mặc dù ban hành
trước khi Công ước 1982 ra đời, nhưng đã phù hợp với Công ước, thể hiện được
chủ trương, chính sách của Nhà nước ta sớm nắm bắt tinh thần và xu hướng trong
tiến trình xây dựng Công ước từ trước đó.
Câu hỏi 2: Đường cơ sở Việt Nam được xác định như thế nào?
Trả lời:
Là đường cơ bản quốc gia ven biển có thể đơn phương xác định đùng làm căn cứ
để tính chiều rộng lãnh hải và các vùng biển khác.

giới quốc gia trên biển. Trong lãnh hải, tàu thuyền của các quốc gia khác được
hưởng quyền qua lại không gây hại và thường đi theo tuyến phân luồng giao thông
biển của nước ven biển.
Lãnh hải của nước CHXHCN Việt Namrộng 12 hải lý theo tuyên bố năm 1982 của
Chính phủ Việt Nam.
Câu hỏi 5: Thế nào là vùng tiếp giáp lãnh hải? Chế dộ pháp lý vùng nước này
như thế nào?
Trả lời:
Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh
hải, rộng 12 hải lý tính từ danh giới ngoài của lãnh hải, hợp với lãnh hải Việt Nam
thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh
hải của Việt Nam. Trong vùng tiếp giáp, nước ven biển có quyền qui định biện
pháp ngăn ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm đối với luật lệ về nhập cư, thuế
khóa, y tế, thậm chí cả an ninh, xảy ra trong lãnh thổ hay lãnh hải của mình.
Câu hỏi 6: Vùng đặc quyền kinh tế là gì? Chế độ pháp lý của nó như thế nào?
Trả lời:
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở (188 hải
lý tính từ ranh giới ngoài lãnh hải, 176 hải lý tính từ ranh giới ngoài của vùng tiếp
giáp).
Vùng đặc quyền kinh tế là một chế định riêng biệt, được hình thành từ nhu cầu
quản lý tài nguyên, bảo vệ lợi ích kinh tế của quốc gia ven biển.
Trong vùng biển này, nước ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với
mọi loại tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động kinh tế nhằm khai thác, sử dụng
các tài nguyên thiên nhiên đó, có quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu
khoa học bảo vệ môi trường biển, xây dựng và lắp đặt những công trình và thiết bị
nhân tạo. Các nước khác có quyền tự do bay, tự do hàng hải và đặt dây cáp và ống
đẫn ngầm.
Vùng đặc quyền kinh tế của nước CHXHCN Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam
và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ
sở, đùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam theo tuyên bố của Chính phủ Việt

Như vậyVịnh có thể là của riêngmột quốc gia hoặc vịnh do bờ biển của nhiều quốc
gia bao bọc như:
Vịnh Bắc Bộ là Vịnh nằm giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung
Hoa; Vịnh Thái Lan (còn gọi là Vịnh Xiêm) là một biển nửa kín, giới hạn bởi bờ
biển của 4 nước: Thái Lan (1.560 km2), Việt Nam (230 km2), Malaixia (150 km2)
và campuchia (460 km2).
Công ước năm 1982 không quy định về Vịnh lịch sử hay vùngnước lịch sử,tuy
nhiên theo tập quán và thựctiễnquốc tế, một vịnh được coi là lịch sử khi có sự:
+ Thực hiện chủ quyền một cách thực sự của quốc gia ven biển.
+ Thực hiện việc sử dụng vùng biển này một cách liên tục, hòa bình và lâu dài;
không vấp phải sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào.
Câu hỏi 10: DOC là gì?
Trả lời:
DOC là tên viết tắt tiếng Anh của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển
Đông, được ký kết ngày 4 tháng 11 năm 2002 tại Phnôm Pênh giữa các nước
ASEAN và Trung Quốc. Mục đích của văn bản này là nhằm thúc đẩy một môi
trường hòa bình, ổn định và hữu nghị giữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông
và tạo điều kiện cho việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực này một
cách hòa bình và lâu dài.
Nội đung chính của Tuyên bố gồm, một số điểm quan trọng sau: i) Các bên tham
gia cam kết sẽ hướng tới thông qua một Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông; ii) Các
bên tham gia cam kết sẽ giải quyết các vấn đề tranh chấp về lãnh thổ một cách hòa
bình, hữu nghị trên cơ sở hợp tác và hiểu biết dẫn nhau; iii) Các bên cam kết tự
kiềm chế, không có các hành vi có thể làm phức tạp hay leo thang tranh chấp; iv)
Trong thời gian chờ đợi tìm được một giải pháp cơ bản và lâu dài, các bên có thể
tìm kiếm và tiến hành các hoạt động hợp tác.
Câu hỏi 11: Thế nào là chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của
quốc gia ven biển theo Công ước về Luật biển của Liên Hợp quốc năm 1982?
Trả lời:
Chủ quyền của quốc gia ven biển là quyền tối cao của quốc gia được thực hiện

quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và độc quyền khai thác tài nguyên sinh
vật thuộc đáy biển, khoáng sản thuộc lòng đất dưới đáy biển./.
Câu hỏi 13: Quốc gia quần đảo là gì? Có những quốc gia quần đảo nào ở khu
vực Biển Đông và ảnh hưởng đến lợi ích biển của Việt Nam như thế nào?
Trả lời:
Quốc gia quần đảo được định nghĩa tại Điều 46 của Công ước 1982 là một quốc
gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều đảo, trong đó các đảo có liên quan
chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị.
Trong khu vực Biển Đông có hai quốc gia quần đảo là Philippine và Indonesia,
được cấu thành bởi hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, cả Philippine và Indonesia nhờ đó
có quyền sử dụng một không gian biển rộng lớn hơn nhiều so với các nước ven bờ
lục dịa, gồm cả vùng nước bên trong các nhóm đảo bao bọc và các vùng biển và
thềm lục địa trả rộng ra xung quanh các quốc gia này.
Câu hỏi 14: Hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam gồm những nội dung và
lĩnh vực gì?
Trả lời:
Hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam có thể được phân loại theo các lĩnh vực
sau:
- Pháp luật về bảo vệ chủ quyền và an ninh trên biển (Ví dụ: Tuyên bố ngày
12/5/1977 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp
lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục dịa Việt Nam; Luật Biên giới quốc
gia – 2003 ).
- Pháp luật về khai thác tài nguyên thiên nhiên trên biển (Luật Thủy sản, Luật Dầu
khí. . .).
- Pháp luật về nghiên cứu khoa học biển (Nghị định 242 HĐBT/ ngày 5/8/1991 )
- Pháp luật về du lịch biển, đảo Việt Nam(Luật Du lịch )
- Pháp luật về giao thông, vận tải biển (Bộ Luật Hàng hải )
- Pháp luật về đảm bảo trật tự, an toàn trên biển (Pháp lệnh lực lượng cảnh sát
biển )
- Pháp luật về bảo vệ môi trường biển (Luật Bảo vệ môi trường – 2005 )

Vịnh Bắc Bộ:nằm ở phía Tây Biển Đông, được bờ biển của Việt Nam và Trung
Quốc bao bọc. Diện tích của vịnh vào khoảng 126.250km2, chiều ngang, nơi rộng
nhất khoảng 310 km và nơi hẹp nhất khoảng 220 km. Đây là một vịnh nông, nơi
sâu nhất chỉ độ 100m.
Vịnh Thái Lan:nằm ở Tây Nambiển Đông, được bờ biển của các nước Việt
Nam,Malaysia, Campuchia, Thái Lan bao bọc. Diện tích của vịnh là khoảng
293.000 km2, nơi sâu nhất là 80 m.
Ngoài ViệtNam, Biển Đông được bao bọc bởi các nước Trung Quốc (gồm cả Đài
Loan), Philippine, Inđonesia, Brunei,Malaysia, Singapore, Thái Lan và
Campuchia.
Câu hỏi 17: Biển, đảo Việt Nam có dặc điểm kinh tế - xã hội và vai trò như thế
nào với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay?
Trả lời:
Với trên 3.260 km bờ biển trả dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Với tỷ lệ
khoảng 100 km2 diện tích đất liền/1km bờ biển, Việt Namthuộc các quốc gia ven
biển có tỷ lệ đất/biển khá cao (trung bình của thế giới là 600 km2 diện tích lục
địa/1km bờ biển). Hiện nay, nước ta có tổngcộng 29 tỉnh, thành phố ven biển,
chiếm 42% diện tích và 31% số dân cả nước, trong đó 15,5 triệu người sống ở khu
vực đới bờ và 16 vạn người ở các đảo và quần đảo. Ven bờ Việt Nam có trên 3.000
hòn đảo lớn, nhỏ tập trung ở vùng biển Đông Bắc, 40 hòn đảo ở vùng biển Bắc
Trung Bộ và số còn lại ở các vùng biển Nam Trung Bộ, Tây Nam. Trên Biển
Đông, Việt Namcó hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là vùng lãnh thổ
thiêng liêng của đất nước, có vị trí địa chính trị hết sức chiến lược cả về an ninh,
quốc phòng và phát triển kinh tế.
Câu hỏi 18: Có bao nhiêu thỏa thuận và hiệp định mà Việt Nam đã đàm phán,
ký kết được với các nước láng giềng về phân định và hợp tác trên biển?
Trả lời:
Đến nay, Việt Namđã ký kết 5 Hiệp định và Thỏa thuận với các nước láng giềng
có bờ biển liền kề hoặc kế cận. Đó là các nước Trung Quốc, Malaysia, Indonesia,
Thái Lan và Campuchia.

quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ.
- Hiệp định phân định thềm lục địa giữa hai nước Việt Nam - Indonesia
Trước khi tiến hành đàm phán phân định, giữa hai nước tồn tại một vùng chồng lấn
khoảng 98.000 km2. Qua nhiều vòng đàm phán, vùng chồng lấn này đã dần được
thu hẹp lại. Kết quả cuối cùng là việc ký kết Hiệp định ngày 26 tháng 6 năm 2003
đã thiết lập thành công đường ranh giới thềm lục địa Việt Nam - Indonesia.
Câu hỏi 19: Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam có vị trí, vai
trò gì đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước?
Trả lời:
Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là hai quần đảo san hô nằm giữa Biển
Đông. Trên các bản đồ cổ của các nhà hàng hải phương Tây, hai quần đảo thường
được xác định như một quần đảo đuy nhất có hình lá cờ đuôi nheo, nằm đọc theo
bờ biển Việt Nam từ miền Trung tới miền Nam. Gầy đây, với sự phát triển của
ngành hàng hải và đo đạc bản đồ biển, người ta đã nhận rõ hai quần đảo riêng biệt
mang tên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (hay Paracels và Spraly theo các bản
đồ nước ngoài).
1. Quần đảo Hoàng Sa:
Quần đảo Hoàng Sa là một huyện thuộc thành phố Đà Nẵng. Quần đảo này nằm
trong khoảng vĩ độ 15o45' đến 17o15’ Bắc, kinh độ 111o đến 113o Đông, trên
đường vào Vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn hơn 120 hải lý, cách hòn đảo ở gần đảo
Hải Nam (Trung Quốc) nhất 140 hải lý. Quần đảo do trên 30 hòn đảo, đá, cồn san
hô, bãi cát nằm rải rác trên một vùng biển rộng tử Tây sang Đông khoảng 100 hải
lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý hợp thành. Hoàng Sa chiếm một diện tích
biển khoảng 15.000 km2.
Quần đảo Hoàng Sa được chia thành hai nhóm: nhóm phía Đông (thường gọi là
nhóm Amphitrite theo tiếng Pháp) gồm 12 hòn đảo nhỏ và một số mỏm đá san hô
lớn nhất là đảo Phú Lâm và đảo Linh Côn, rộng trên dưới 1,5 km2; nhóm phía Tây
(hay còn gọi là nhóm Lưỡi Liềm) có các đảo như Hoàng Sa, Hữu Nhật và một số
cồn, vành đai san hô.
2. Quần đảo Trường Sa:

được thể hiện là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.
Các sách địa lý cổ của Việt Nam như Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ
Bá biên soạn trong khoảng năm 1630 - 1635, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết
năm 1776 hay Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý do nhà Nguyễn biên soạn
đều có những ghi chép rất rõ ràng về Trường Sa và Hoàng Sa hay Bãi Cát Vàng
thời xưa. Bên cạnh đó nhiều sách về địa lý, hàng hải, v.v do các giáo sĩ hay những
nhà thám hiểm phương Tây biên soạn thời xưa đều có nhắc đến hai quần đảo như
một phần lãnh thổ của Vương quốc An Nam. Đó là những cuốn Hồi ký về nước
Cochinchine của Chaigneau viết năm 1820, Ghi chép về Cochinchina do linh mục
Taberđ biên soạn, hay Thế giới và Mô tả, mô tả các dân tộc: Nhật, Đông Dương,
Xây-lan xuất bản năm 1850 của tác giả Jancigny,v.v.
Câu hỏi 21: Với tư cách là người làm chủ, Nhà nước phong kiến Việt Nam đã
tiến hành khảo sát và khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như thế
nào?
Trả lời:
Những cuộc khảo sát và khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của cha
ông ta đã được các tài liệu cổ ghi chép lại rất chi tiết.
Theo sách Đại Nam thực lục chính biên, bộ sử về nhà Nguyễn trong những năm
1821 - 1848, các vua triều Nguyễn là Gia Long và Minh Mệnh đã cử thủy quân
đến hai quần đảo để tiến hành khảo sát, đo đạc vẽ bản đồ. Kết quả của những
chuyến đi này cũng được các sách xưa ghi lai đầy đủ. Điều đáng ngạc nhiên là
những đo đạc, tính toán của cha ông ta ngày xưa, khi mà khoa học - kỹ thuật chưa
phát triển như bây giờ đều trùng khớp với nhưng số liệu bây giờ. Thời đó, Bãi Cát
Vàng được mô tả là có khoảng trên 130 hòn đảo, ngày nay chúng ta đã xác định
được quần đảo Hoàng Sa có khoảng trên 30 hòn đảo và quần đảo Trường Sa gồm
khoảng 100 hòn.
Các sách xưa cũng ghi lai cách tổ chức, hoạt động của các đội Hoàng Sa được lập
ra đước thời nhà Nguyễn với mục đích chuyên đi khai thác hai quần đảo. Ví dụ
như theo Phủ biên tạp lục, họ nhà Nguyễn đã đặt đội Hoàng Sa, mỗi năm ra các
đảo thuộc hai quần đảo để lấy hóa vật của các tàu bị đắm như gươm, bạc vụn tiền

- Công ước Vienna 1969 về Luật điều ước quốc tế; Luật Ký kết, thực hiện và gia
nhập Điều ước quốc tế của Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006;
- Sự khác biệt giữa trình tự thủ tục ký kết điều ước quốc tế song phương và đa
phương chủ yếu là thủ tục bảo lưu và gia nhập;
- Thành viên chính thức của văn kiện có đựơc quyền rút khỏi với điều kiện xảy ra
như sau:
+ Khi một bên nào đó chỉ hưởng quyền, nhưng không thực hiện nghĩa vụ của
mình; hoặc
+ Khi một hay nhiều bên vi phạm nghiêm trọng những điều khoản trong điều ước;
hoặc
+ Do sự thay đổi của hoàn cảnh, có biến cố bất thường dẫn đến việc không thể thực
hiện được điều ước.
Câu 26: Anh/chị cho biết cách xác định nội thuỷ và lãnh hải của quốc gia ven
biển? Trong điều kiện bình thường, tàu biển có được quyền “qua lại không
gây hại” trên phần nội thuỷ và lãnh hải của quốc gia ven biển không? (1điểm)
- Nội thủy là vùng nước phía bên trong đường cơ sở, phía ngoài giáp với lãnh hải
và phía trong giáp bờ biển, do quốc gia tự tuyên bố trên cở sở thông lệ quốc tế.
Luật biển quốc tế và pháp luật của các quốc gia đều xác định tính chất chủ quyền
hoàn toàn và tuyệt đối cho vùng nước nội thủy, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển,
cũng như không phận phía trên vùng nước nội thủy. Trong mọi trường hợp tàu
biển muốn qua lại phải được phép của quốc gia ven biển mới có thể được quyền
qua lại ở vùng này.
- Lãnh hải là vùng biển rộng không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở, việc xác
định bề rộng thực tế và ranh giới ngoài của lảnh hải phụ thuộc vào việc vạch
đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Lãnh hải thuộc chủ quyền hoàn toàn
và đầy đủ của quốc gia ven biển, chủ quyền cũng bao trùm vùng trời phía trên,
phần đáy và vùng đất dưới đáy của phần lãnh hải. Luật quốc tế quy định trong điều
kiện bình thường tàu biển được quyền qua lại không gây hại ở vùng này mà không
cần xin phép quốc gia ven biển (Công ước Luật biển 1982).
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT LUẬT SƯ VÀ HÀNH NGHỀ

chống thực dân Pháp và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa tiếp theo, đội ngũ
bào chữa viên đã được hình thành và ngày càng phát triển.
Tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về quyền bào chữa và bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà năm 1959 (Điều 101) đã quy định "Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo
đảm"; Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 ngoài việc
khẳng định bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, còn quy định việc thành lập tổ
chức luật sư để giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình,
đồng thời bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Thực hiện quy định của Hiến pháp, trong giai đoạn triển khai xây dựng văn bản
pháp luật về tổ chức luật sư, đội ngũ bào chữa viên tiếp tục được củng cố và phát
triển đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của cá nhân, tổ chức. Ngày 31.10.1983 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số
691/QLTPK về công tác bào chữa, trong đó quy định cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện
làm bào chữa viên, quy định ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành
lập một Đoàn bào chữa viên, riêng ở hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh thì
thành lập Đoàn luật sư, bào chữa viên, tập hợp các luật sư đã được công nhận trước
đây và các bào chữa viên. Thực hiện Thông tư số 691/QLTPK, đến cuối năm 1987,
trên cả nước đã có 30 Đoàn bào chữa viên với gần 400 bào chữa viên.
Từ sau ngày giải phóng, miền Nam, thống nhất đất nước đến những năm nửa đầu
thập niên 80 của thế kỷ XX. Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV năm 1986
đã mở đầu một thời kỳ lịch sử mới xây dựng đất nước, thời kỳ đổi mới. Đường lối
đổi mới do Đại hội vạch ra đã tác động sâu rộng đến mọi mặt hoạt động trong xã
hội, trong đó có hoạt động tư pháp. Các đạo luật về tố tụng được ban hành theo
hướng mở rộng dân chủ trong tố tụng, trong đó có việc tăng cường bảo đảm quyền
bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trước Toà án và các
cơ quan tố tụng khác.
Trong bối cảnh đó, Pháp lệnh tổ chức luật sư được ban hành ngày 18.12.1987. Có
thể nói, Pháp lệnh tổ chức luật sư là văn bản pháp luật có ý nghĩa lịh sử trong việc
khôi phục nghề luật sư và mở đầu cho quá trình phát triển nghề luật sư ở nước ta

trong 5 năm đó các luật sư đã thành lập trên 1.000 tổ chức hành nghề là các văn
phòng luật sư, các công ty luật hợp danh. Các Đoàn luật sư được xây dựng lại và
củng cố để làm đúng chức năng của tổ chức xã hội nghề nghiệp tự quản của các
luật sư. Hoạt động hành nghề của luật sư cũng được tăng lên đáng kể về phạm vi
và chất lượng. Trong tham gia tố tụng, nhiều luật sư đã bắt đầu làm quen và dần
khẳng định trình độ chuyên môn và bản lĩnh khi tham gia tranh tụng tại phiên toà.
Hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư cũng đã có bước phát triển đáng kể, đặc biệt
hoạt động tư vấn cho khách hàng trong các lĩnh vực kinh doanh, đầu tư, thương
mại đã ngày càng mở rộng về phạm vi, nâng cao về chất lượng dịch vụ. Đã bước
đầu hình thành đội ngũ luật sư giỏi trong tham gia tố tụng và trong lĩnh vực cung
cấp dịch vụ pháp lý cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Cùng với những
bước tiến trong quá trình chuyên nghiệp hoá nghề luật sư, các luật sư Việt Nam
cũng đã bước những bước đầu tiên và quan trọng trong quá trình mở rộng quan hệ
với các tổ chức luật sư nước ngoài và quốc tế. Bên cạnh hoạt động phối hợp với
các tổ chức luật sư, luật sư nước ngoài tổ chức các cuộc hội thảo, toạ đàm về nghề
nghiệp, một số Đoàn luật sư đã tham gia các tổ chức luật sư quốc tế với tư cách là
thành viên bình đẳng.
Có thể nói, Pháp lệnh luật sư năm 2001 là văn bản mở đầu cho quá trình chuyên
nghiệp hoá và hội nhập quốc tế của nghề luật sư ở Việt Nam, đã tạo một bộ mặt
mới với triển vọng phát triển mạnh mẽ nghề luật sư ở nước ta.
Trong những năm đầu của thiên niên kỷ XXI, cùng với bước phát triển và những
yêu cầu mới của xu thế toàn cầu hoá, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của
nước ta đã có những bước phát triển nhanh và mạnh mẽ với những sự kiện quan
trọng mang tính chất đột phá. Việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế
(WTO) đã tạo ra vị thế và những cơ hội mới phát triển đất nước, đồng thời cũng
đặt ra những thách thức mới to lớn cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, trong đó
có nhiệm vụ quan trọng là phải chuyển đổi hệ thống pháp luật và các thiết chế cùng
với cơ chế vận hành theo lộ trình phù hợp với các cam kết khi gia nhập WTO. Tổ
chức, hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động luật sư nói riêng cũng nằm trong
bối cảnh chung đó. Trong các năm 2005, 2006, 2007, Nhà nước ta đã ban thành

đức đối với Luật sư. Đồng thời, theo hướng “chuyên nghiệp hoá” đội ngũ luật sư,
Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư quy định cán bộ, công chức không được
hành nghề luật sư.
Có thể nói, trong những năm gần đây, chất lượng của đội ngũ Luật sư đã được
nâng lên đáng kể, về cơ bản đủ khả năng cung cấp dịch vụ pháp lý tin cậy cho
khách hàng. Trong số những người đã qua đào tạo nghề luật sư, có nhiều người đã
tập sự hành nghề trong các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam nên
có hiểu biết về pháp luật quốc tế và thông thạo ngoại ngữ. Một số luật sư Việt Nam
đã theo học các khoá đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài và được công nhận là luật
sư của nước sở tại (Mỹ, Úc, Pháp).
Tuy nhiên, đội ngũ luật sư nước ta còn một số hạn chế sau đây:
- Số lượng luật sư hiện có so với dân số còn rất thấp. Tỷ lệ luật sư nước ta trung
bình là 1 luật sư/20.700 người dân, trong khi đó tỷ lệ này ở Thái Lan là 1/1526,
Singapore là 1/1000, Nhật Bản là 1/4546, Pháp là 1/1000, Mỹ là 1/250. Mặt khác,
số lượng luật sư phát triển chưa cân đối giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa
đồng bằng và miền núi, trung du.
Với số lượng luật sư ở nước ta hiện nay. Việc không đủ luật sư tham các vụ án
hình sự là tất yếu và đã làm ảnh hưởng đến nguyên tắc tranh tụng, quyền bào chữa
của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo, ảnh hưởng đến chất lượng giải
quyết vụ án. Đội ngũ luật sư tư vấn cho các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp trong
hoạt động kinh doanh, đầu tư, thương mại còn thiếu trầm trọng.
- Chất lượng của đội ngũ luật sư còn nhiều hạn chế. Gần một nửa số lượng luật sư
hiện nay chưa được đào tạo một cách bài bản về kỹ năng hành nghề. Hiệu quả
tham gia tố tụng của luật sư vẫn còn chưa đáp ứng được yêu cầu tranh tụng tại
phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp. Các luật sư vẫn còn thiếu kinh nghiệm
trong việc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến quá trình bào chữa, tranh
luận, đưa ra yêu cầu, kiến nghị tại phiên toà. Một số luật sư còn có thái độ ứng xử
nghề nghiệp chưa đúng mực trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng và luật sư đồng nghiệp, làm ảnh hưởng đến uy tín của đội
ngũ luật sư.

tụng, thực hiện tư vấn pháp luật và các dịch vụ pháp lý khác. Luật Luật sư đã mở
rộng hơn phạm vi hành nghề luật sư với việc quy định luật sư được đại diện ngoài
tố tụng cho khách hàng. Có thể nói trên cơ sở những quy định ngày càng thông
thoáng hơn của pháp luật cộng với sự nỗ lực của các luật sư, dịch vụ pháp lý của
luật sư tăng đáng kể về số lượng và nâng cao một bước về chất lượng.
Tham gia tố tụng là lĩnh vực hành nghề chủ yếu của các luật sư hiện nay. Trong
thời gian qua, các luật sư đã tham gia giải quyết hàng trăm nghìn vụ án. Vai trò của
luật sư trong quá trình tham gia tố tụng đã có những bước phát triển về chất. Xuất
phát từ việc pháp luật tố tụng đang từng bước được hoàn thiện, các cơ quan tiến
hành tố tụng đã quan tâm hơn đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia
bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị can, bị cáo, đương sự. Đặc
biệt sau khi Nghị Quyết số 08/NQ-TW ngày 02.01.2002 của Bộ chính trị đã nêu
rõ: "Khi xét xử, các toà án việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào
kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ,
ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo
điều kiện để luật sư tham gia cào quá trình tố tụng ", thì vai trò của luật sư trong
quá trình tham gia tố tụng đã được nâng lên một bước. Nhiều cơ quan điều tra,
Viện Kiểm sát đã tạo điểu kiện cho luật sư tham gia vào quá trình tố tụng được
thuận lợi hơn. Ý kiến của luật sư tại phiên toà đã được cơ quan công tố quan tâm
và coi trọng.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy hoạt động tham gia tố tụng của luật sư đã góp
phần bảo đảm thực hiện tương đối tốt nguyên tắc tranh tụng tại phiên toà, một
trong những yêu cầu trọng tâm của cải cách tư pháp. Việc tham gia tố tụng của các
luật sư không những bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, các
đương sự khác, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa
những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Tư vấn pháp luật là lĩnh vực hành nghề quan trọng của luật sư, đặc biệt trong điều
kiện nhu cầu về tư vấn pháp luật trong xã hội ngày càng tăng nhanh. Các luật sư đã
mở rộng và phát triển tư vấn trong các lĩnh vực kinh tế, đầu tư, thương mại. Trong

nghèo, đối tượng thuộc diện chính sách. Việc tham gia vào hoạt động này không
chỉ thực hiện một cam kết mang tính chất nghĩa vụ của luật sư đối với xã hội mà
còn góp phần tạo lập sự công bằng cho các đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý.
Trong thời gian qua, các luật sư đã tham gia trợ giúp pháp lý cho hàng chục nghìn
vụ việc, góp phần đáng kể trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người
nghèo, người thuộc diện chính sách.
Có thể nói, mặc dù còn những hạn chế, nhưng hoạt động của luật sư thời gian qua
đã đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu giúp đỡ pháp lý của công dân và tổ chức,
đóng góp đáng kể trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và
các đương sự khác, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
3. Về tổ chức luật sư và quản lý luật sư.
Pháp lệnh luật sư 2001, Luật Luật sư quy định nguyên tắc kết hợp quản lý nhà
nước với phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Theo đó, Đoàn
luật sư là tổ chức xã hội nghề nghiệp đại diện, bảo vệ quyền lợi của các luật sư;
quản lý hoạt động nghề nghiệp của các luật sư, giám sát việc tuân theo pháp luật và
Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp; thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên
môn cho các luật sư
Trong thời gian qua, công tác của các Đoàn luật sư đối với luật sư và hành nghề
luật sư đã có nhiều chuyển biến tích cực. Căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn được
giao, các Đoàn luật sư đã thực hiện tương đối tốt công tác giám sát, kiểm tra việc
tuân thủ pháp luật, tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, Điều
lệ Đoàn luật sư của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư; kịp thời nhắc nhở, uốn nắn
và có biện pháp xử lý nghiêm minh các trường hợp luật sư vi phạm.
Một số Đoàn luật sư đã tổ chức các hội thảo chuyên đề cho luật sư, đặc biệt là tổ
chức rút kinh nghiệm đối với luật sư trong các vụ án lớn có tính chất trọng điểm
mà luật sư tham gia theo tinh thần Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị để
đánh giá những mặt được và chưa được, tích cực và hạn chế về quan điểm bào
chữa, kiến thức pháp luật, kỹ năng tham gia tranh tụng, phong cách, văn hoá ứng
xử của luật sư.
Các Đoàn luật sư tích cực tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật, tham gia

tổ chức quan tâm đầu tiên đến chất lượng hoạt động luật sư, đến việc bồi dưỡng về
chuyên môn, bồi dưỡng, giáo dục và giám sát về đạo đức nghề nghiệp đối với luật
sư của tổ chức mình. Trong thời gian qua, đa số các tổ chức hành nghề luật sư đã
làm tốt công việc giáo dục, giám sát luật sư trong việc tuân theo pháp luật, quy tắc
đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư. Tuy nhiên, một số tổ chức hành nghề
luật sư chưa thực sự quan tâm đến công việc này, đồng thời có biểu hiện lỏng lẻo
trong việc quản lý các luật sư của tổ chức mình, để xảy ra hiện tượng luật sư vi
phạm pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp mà tổ chức không biết hoặc bỏ qua.
Trong công tác quản lý luật sư, không thể thiếu sự phối hợp giữa Đoàn luật sư và
cơ quan quản lý nhà nước. Nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước về hành nghề luật
sư với phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư được
quy định tại Pháp lệnh luât sư năm 2001. Luật Luật sư cũng quy định và làm rõ
hơn nguyên tắc này. Việc kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của tổ chức
luật sư đã được thể hiện ngay từ quy định về điều kiện hành nghề luật sư; theo đó,
một người muốn hành nghề luật sư thì phải có Chứng chỉ hành nghề do cơ quan
nhà nước cấp và phải gia nhập Đoàn luật sư. Để bảo đảm và nâng cao chất lượng
công tác quản lý của Đoàn luật sư đối với các luật sư, Pháp lệnh luật sư, Luật Luật
sư đã tăng cường đáng kể quyền hạn và trách nhiệm của Đoàn luật sư. Ngoài việc
đại diện, bảo vệ quyền lợi của các luật sư; Đoàn luật sư còn có vai trò rất quan
trọng trong quản lý hoạt động nghề nghiệp của các luật sư.
Trong thời gian qua việc thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với phát
huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư đã đạt được những
kết quả nhất định, góp phần phát triển số lượng luật sư, nâng cao chất lượng hành
nghề luật sư, duy trì việc tuân theo pháp luật, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của
luật sư theo đúng định hướng mà Đảng, Nhà nước đã đề ra.
III. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LUẬT SƯ VÀ HÀNH
NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM.
1. Phương hướng hoàn thiện Pháp luật Luật sư.
Chúng ta đã biết, sứ mệnh của luật sư là góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã
hội. Hoạt động của luật sư có mối quan hệ gắn chặt với hoạt động tư pháp, hỗ trợ

nhanh chóng; số lượng vụ việc, khách hàng của luật sư sẽ nhiều hơn, đa dạng hơn;
phạm vi hoạt động hành nghề của luật sư ngày càng được mở rộng. Quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế cũng tạo nhiều cơ hội cho luật sư phát triển quan hệ hợp tác,
giao lưu với các đối tác nước ngoài.
2. Phương hướng pháp triển nghề Luật sư ở Việt Nam.
Nghị quyết số 49/NQ-TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra
nhiệm vụ "đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính
trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn". Việc phát triển số lượng luật sư đủ đáp ứng
nhu cầu của xã hội là yêu cầu thường xuyên và lâu dài. Để đạt được mục tiêu này,
cần thực hiện một số biện pháp sau đây:
- Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cơ quan, tổ chức và của mỗi
người dân về vị trí, vai trò của luật sư trong xã hội, góp phần tăng tính hấp dẫn của
nghề luật sư, thu hút ngày càng đông đội ngũ cử nhân luật mới ra trường tham gia
hành nghề luật sư.
- Có quy hoạch, kế hoạch cụ thể phát triển số lượng luật sư phù hợp với nhu cầu
của xã hội. Đối với các thành phố lớn, một mặt đáp ứng được nhu cầu của những
người có đủ điều kiện và có nguyện vọng gia nhập Đoàn luật sư, mặt khác bảo đảm
điều kiện và chất lượng tập sự, bảo đảm sự quản lý chặt chẽ của Đoàn luật sư đối
với đội ngũ luật sư tập sự của Đoàn. Đối với những địa phương có khó khăn về
nguồn bổ sung luật sư, cần có các biện pháp chủ động phát hiện, động viên những
người có đủ điều kiện, đang sinh sống tại địa phương gia nhập Đoàn luật sư.
Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư cả về nghiệp vụ chuyên môn, phẩm
chất đạo đức là yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài. Trước mắt, cần có những biện
pháp khắc phục những yếu kém, những "lỗ hổng" về chuyên môn, những biểu hiện
trái với đạo đức nghề nghiệp luật sư trong đội ngũ luật sư. Về lâu dài, chúng ta
phải phấn đấu xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam có trình độ ngang tầm với luật
sư khu vực và thế giới, trong đó có luật sư "tầm cỡ" quốc tế về tranh tụng và tư vấn
trong các lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Muốn vậy, ngay từ bây giờ, chúng ta
cần xúc tiến một số việc sau đây:
- Cải tiến nội dung, phương pháp để nâng cao chất lương đào tạo nghề luật sư,

về chất lượng hành nghề luật sư. Có kế hoạch, biện pháp khắc phục những nhược
điểm, những yếu kém về chuyên môn, tiêu cực về đạo đức nghề nghiệp, đồng thời
phát huy những ưu điểm, mặt tích cực của luật sư trong hoạt động tham gia tố
tụng. Đẩy mạnh dịch vụ tư vấn pháp luật của luật sư theo hướng nâng cao chất
lượng tư vấn, mở rộng phạm vi nội dung và đối tượng tư vấn, đặc biệt trong lĩnh
vực kinh doanh, thương mại trong nước và quốc tế. Các tổ chức hành nghề luật sư
cần phải quan tâm hơn nữa đến công tác bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và đạo
đức nghề nghiệp cho các luật sư; nghiên cứu xây dựng chuẩn mực về văn hoá tranh
tụng và văn hoá ứng xử nói chung của luật sư.
__________________
Nghề luật và nghề luật sư
Rất nhiều người tự hào giới thiệu mình làm nghề luật. Khi nghĩ suy về nghề luật
trong quá khứ, hiện tại và tương lai, chúng ta cần xác định rõ nghề luật là gì?
1. Nghề luật
Ở nghĩa rộng nhất, nói đến những người làm nghề luật là chúng ta nói đến thẩm
phán, luật sư, kiểm sát viên, công chứng viên…
Thẩm phán được hiểu là những người làm việc tại Toà án, được quyền nhân danh
Nhà nước để xét xử các vụ án. Thẩm phán - ở nghĩa lý tưởng được hiểu là người
được quyền ra quyết định cuối cùng để mang lại sự công bằng cho mọi người, cứu
người vô tội và trừng phạt kẻ ác.
Kiểm sát viên là người buộc tội tại phiên toà (ở nước ngoài thường được gọi là
công tố viên). Họ được quyền đưa một vụ phạm pháp ra xem xét để xử lý, ra lệnh
bắt giữ, tham gia điều tra vụ án, truy tố người phạm tội.
Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật
của mỗi quốc gia, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ
chức. Luật sư là những người hành nghề trong Văn phòng hoặc Công ty luật. Thu
nhập của luật sư là từ các khoản thù lao do khách hàng trả.
Công chứng viên là người làm việc tại các Phòng công chứng, có quyền xác nhận
tính hợp pháp của các giao dịch, hợp đồng
Nếu hiểu nghề luật như là nghề kiếm sống có liên quan đến luật, có thể kể ra nhiều

ii) Tính chất hướng dẫn: Tính chất nghề nghiệp đòi hỏi luật sư không chỉ thông
hiểu pháp luật hiện hành mà còn hiểu biết cả tinh thần, nội dung những quy định
của pháp luật ở từng thời điểm của thời gian đã qua. Luật sư còn phải hiểu sâu
rộng cả tục lệ và bản sắc văn hoá của dân tộc.
Mọi người hiểu và nghĩ về luật sư như vậy, cho nên mỗi khi bản thân hoặc gia đình
có điều gì vướng mắc đều tìm đến luật sư, nhờ luật sư tư vấn. Vì vậy, hoạt động
của luật sư luôn luôn có tính chất hướng dẫn. Yêu cầu của hoạt động này là hướng
dẫn cho đương sự hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật để biết cách xử sự
tháo gỡ vướng mắc của họ phù hợp với pháp lý và đạo lý.
iii) Tính chất phản biện: Tính chất phản biện trong hoạt động của luật sư là những
biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến quan điểm của người khác mà mình cho
là không phù hợp với pháp lý và đạo lý.
Tính chất phản biện trong hoạt động của luật sư, thông thường thể hiện ở lĩnh vực
tố tụng, đặc biệt là trong tố tụng hình sự. Điều 36, khoản 3 Bộ Luật tố tụng hình sự
hiện hành quy định: “Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp
luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; giúp bị can, bị cáo về mặt
pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.
Phản biện là phải dựa trên sự thông hiểu tường tận về pháp lý và đạo lý. Hoạt động
phản biện của luật sư là lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét
mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ phải trái, đúng sai…từ đó đề xuất
những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽ phải, loại bỏ cái sai, bảo vệ công lý.
Ở đây có thể có câu hỏi đặt ra là trong trường hợp không phát biện ra điều gì sai,
không có cơ sở để phản biện thì luật sư sẽ làm gì?. Xin nêu một câu ngạn ngữ
phương Tây: “Luật sư chỉ giỏi khi gặp Công tố viên tồi”. Câu ngạn ngữ này có
nghĩa là khi người tiến hành tố tụng hoạt động hoàn toàn đúng pháp luật với những
nhận định và kết luận chuẩn xác thì không còn chỗ cho luật sư phản biện. Luật sư
không còn chỗ để phản biện, cũng giống như thầy thuốc không có bệnh nhân để
chữa thì thật là hạnh phúc.
Hoạt động của luật sư trong trường hợp này chỉ còn ý nghĩa là người chứng kiến.

V trước Công nguyên, trong nhà nước Hy Lạp cổ, tổ chức toà án hình thành và
việc xét xử có sự tham gia của mọi người dân. Nguyên cáo hoặc bị cáo có thể tự
trình bày ý kiến, lý lẽ của mình trước Toà hoặc nhờ người khác có tài hùng biện
trình bày hộ ý kiến, lý lẽ trước Toà. Việc bào chữa xuất phát tự nhiên nhằm minh
oan cho bạn bè hoặc người thân bị nhà cầm quyền bắt giam vô cớ và trừng phạt
một cách độc đoán dần phát triển.
Ở La Mã cổ đại, cũng với sự xuất hiện của pháp luật đã xuất hiện những mầm
mống của nghề luật sư. Pháp luật La mã cổ đại mang tính huyền bí, thần thánh và
việc áp dụng pháp luật gắn liền với lễ nghi tôn giáo. Trong phiên toà, có sự tham
gia của các nhà chuyên môn, người am hiểu pháp luật để nhắc lại những quy tắc,
quy định tôn giáo để tránh việc viện dẫn sai hoặc vi phạm thủ tục tố tụng.
Trong xã hội dần dần hình thành một nhóm người chuyên sâu, am hiểu về pháp
luật và việc diễn giải pháp luật của họ được xem xét như hoạt động nghề nghiệp.
Hoạt động của các luật sư được chấp nhận và uy tín của họ trong xã hội ngày càng
được nâng cao. Nghề luật sư được xem như một nghề vinh quang trong xã hội.
Sau khi Đế quốc La Mã tan rã, châu Âu chuyển sang thời kỳ Trung cổ với các triều
đại phong kiến phân quyền cát cứ. Tổ chức Toà án và chế độ luật sư ở các nước
được xây dựng dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích phục vụ tôn giáo
và chế độ phong kiến.
Dưới chế độ tư bản, nghề luật sư được tổ chức chặt chẽ với những điều kiện khắt
khe nhằm bảo vệ quyền lợi riêng cho một số ít người xuất thân từ giai cấp bóc lột.
Từ xuất phát điểm của những người tự nguyện thực hiện việc bào chữa vì sự thật
và công lý, nghề luật sư dưới chế độ tư bản dần dần trở thành nghề tự do, nghề làm
vì tiền.
Ở Việt Nam, từ năm 1930 trở về trước, người Pháp chiến độc quyền trong hành
nghề luật sư. Với Sắc lệnh ngày 25/5/1930 của Toàn quyền Đông Dương, thực dân
Pháp tổ chức Hội đồng luật sư ở Hà Nội và Sài Gòn cho những người đã tốt nghiệp
luật khoa và đã tập sự 5 năm trong một Văn phòng biện hộ của luật sư thực thụ.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số
46/SL ngày 10/10/1945 tổ chức đoàn thể luật sư. Quyền bào chữa của bị can, bị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status