Nghiên cứu sử dụng cỏ vetiver và dương xỉ để cải tạo đất ô nhiễm kim loại nặng sau khai thác thiếc tại xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên - Pdf 17

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THANH TÚ NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CỎ VETIVER VÀ DƢƠNG XỈ ĐỂ CẢI TẠO
ĐẤT Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG SAU KHAI THÁC THIẾC
TẠI XÃ HÀ THƢỢNG, HUYỆN ĐẠI TỪ,
TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Khoa học môi trƣờng
Mã số: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Văn Minh


người dân trong xã đã nhiệt tình tham gia các buổi thảo luận nhóm, trả lời phỏng vấn,
và đóng góp rất nhiều ý kiến hay cho đề tài nghiên cứu này.
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè
đã quan tâm, chia sẻ khó khăn và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Do thời gian và lượng kiến thức có hạn nên đề tài của tôi không tránh khỏi
nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để luận
văn của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Ngƣời thực hiện Nguyễn Thị Thanh Tú

iii
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu chung 2
3. Mục tiêu cụ thể 3
4. Ý nghĩa của đề tài 3
4.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
4.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1. Cơ sở lý luận 4
a, Một số khái niệm 4
1.1.2. Cơ sở thực tiễn 7
1.1.3. Cơ sở pháp lý 8
1.2. Ô nhiễm KLN trong đất và một số phương pháp xử lý ô nhiễm truyền

2.2. Phạm vi và thời gian nghiên cứu 32
2.2.1. Phạm vi 32
2.2.2. Thời gian nghiên cứu: 32
2.3. Nội dung nghiên cứu 32
2.4. Phương pháp nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi 32
2.4.1. Phương pháp thu thập, kế thừa, phân tích và tổng hợp tài liệu 32
2.4.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm 32
2.4.4. Phương pháp lấy mẫu ngoài thực địa và phân tích trong phòng thí
nghiệm 33
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Hà Thượng, huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên 36
3.1.1.Điều kiện tự nhiên 36
3.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội 37
3.1.3. Đánh giá về tài nguyên và môi trường trên địa bàn xã Hà Thượng
39

v
3.2. Điều tra, khảo sát hiện trạng môi trường đất sau khai thác thiếc của
người dân bản địa 40
3.3. Đánh giá tình hình sinh trưởng của một số loại cây bản địa trên khu
vực đất sau khai thác thiếc 41
3.4. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của cỏ Vetiver và Dương xỉ trồng
trên đất sau khai thác thiếc sau 4 năm từ 2008 42
3.4.1. Khả năng sinh trưởng của cỏ Vetiver 42
3.4.2. Khả năng sinh trưởng của Dương xỉ 47
3.5. Khả năng hấp thụ KLN của Vetiver và Dương xỉ trồng năm thứ 4 trên
đất sau khai thác thiếc 50
3.6. Đánh giá chất lượng môi trường đất sau 4 năm trồng Dương xỉ và
Vetiver 52

: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
DX
: Dương xỉ
KL
: Kim loại
KLN
: Kim loại nặng

: Mục đích

: Nghị định
ÔTC
: Ô tiêu chuẩn
PTN
: Phòng thí nghiệm
QCVN
: Quy chuẩn Việt Nam
TCVN
: Tiêu chuẩn Việt Nam
TN&MT
: Tài nguyên và Môi trường
TT
: Thông tư
UBND
: Ủy ban nhân dân vii
DANH MỤC CÁC BẢNG


Dương xỉ và Vetiver 55
Bảng 3.16: Hàm lượng KLN tích tụ trong cây 56
Bảng 3.17: Kết quả tro hóa sinh khối thân lá của Dương xỉ và Vetiver 58
Bảng 3.18: Hàm lượng KLN tổng số trong tro sau thí nghiệm 59
Bảng 3.19: Hàm lượng KLN dễ tiêu trong tro sau thí nghiệm 59
Bảng 3.20: Độ pH, OM trước và sau thí nghiệm xử lý rễ 60
Bảng 3.21: Hàm lượng KLN dễ tiêu trong đất sau thí nghiệm 61

ix
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1.Biểu đồ thể hiện chiều cao của cây Vetiver qua 5 tháng 43
Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện chiều dài rễ cây Vetiver. 45
Hình 3.3: Biểu đồ sự sinh trưởng qua chiều cao cây Dương xỉ 48

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên là một trong những nhân tố để thúc
đẩy nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia trên thế giới. Nước ta là một trong
những nước có trữ lượng tài nguyên khoáng sản vào loại lớn và đa dạng trên thế
giới. Tuy nhiên lượng khoáng sản này lại nằm rải rác trong các khu vực với trữ
lượng nhỏ nên không kinh tế trong việc khai thác. Đồng thời, việc khai thác khoáng
sản đã và đang để lại những hệ lụy to lớn về môi trường, một phần lý do là do quy
mô khai thác nhỏ khiến cho việc đầu tư công nghệ không lớn, dẫn đến hiệu suất

trống rất lớn và rất sâu. Quá trình bốc xúc, tuyển rửa quặng, làm xáo trộn tầng đất
mặt. Ớ khu vực Hà Thượng, đất bị ô nhiễm nặng bởi Asen (As). Hàm lượng As
trong một số mẫu đất như HT6, HT7 và HT2 cao hơn quy chuẩn cho phép là 1262,
498 và 467 lần tương ứng. Kết quả nghiên cứu về hàm lượng As thu được tương
đương với kết quả trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của Công ty khoáng
sản Tiberon. Trong báo cáo đó, hàm lượng As trung bình là 5000 ppm ở Hà
Thượng, Đại Từ. [2]
Có rất nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng để xử lý KLN trong đất.
Tuy nhiên, gần đây phương pháp sử dụng thực vật để xử lý KLN trong đất được các
nhà khoa học quan tâm đặc biệt bởi chi phí đầu tư thấp, an toàn và thân thiện với
môi trường. Tuy nhiên, một trong những vấn đề quan trọng khi dùng thực vật để xử
lý ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm môi trường đất do KLN gây ra là xử lý
sinh khối thực vật này như thế nào để KLN đã được hấp thu trong cây không quay
ngược trở lại gây ô nhiễm môi trường?
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Nghiên cứu sử dụng cỏ vetiver và dương xỉ
để cải tạo đất ô nhiễm kim loại nặng sau khai thác thiếc tại xã Hà Thượng,
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”, được thực hiện nhằm góp phần tiếp nối và phát
triển cũng như bổ sung cơ sở lý luận thực tiễn trong nghiên cứu sử dụng thực vật xử
lý KLN trong đất sau khai thác khoáng sản. Từ đó đưa ra được những định hướng
và giải pháp xử lý KLN trong sinh khối thực vật sau hấp thu KLN, phục vụ công tác
bảo vệ môi trường đất sau khai thác khoáng sản nói riêng và bảo vệ môi trường đất
nói chung.
2. Mục tiêu chung
Đánh giá cải tạo và phục hồi đất bị thoái hóa và ô nhiễm sau khai thác khoáng
sản của dương xỉ và vetiver. Nghiên cứu hướng xử lý đối với những thực vật sau

3
khi hấp thụ KLN tại đất sau khai thác khoáng sản, sao cho những thực vật này ít gây
tác hại cho môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng.
3. Mục tiêu cụ thể

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở lý luận
a, Một số khái niệm
* Khái niệm môi trường
Hiện nay, môi trường là một lĩnh vực khoa học đã và đang được nhiều nhà bác
học quan tâm, nghiên cứu, từ đó đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về môi trường.
Tuy có nhiều quan điểm và mục đích nghiên cứu về môi trường khác nhau, nhưng
cũng có thể nêu lên một số định nghĩa tổng quát:
Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh, có
khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật [16].
Môi trường là tổng các điều kiện bên ngoài, có ảnh hưởng đến sự phát triển
hay tồn tại của một sinh vât hay một cộng đồng.
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con
người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, tồn tại, phát triển của con người và
sinh vật (Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam, 2005).
* Khái niệm về ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường được hiểu là sự có mặt của các chất hoặc năng lượng với
khối lượng lớn trong môi trường mà môi trường khó chấp nhận.
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời
các tính chất vật lý, hoá học, sinh học của môi trường bị thay đổi, gây tác hại tới
đời sống của con người và sinh vật khác [16].
Ô nhiễm môi trường là sự tích luỹ trong môi trường các yếu tố vật lý, hoá học,
sinh học, vượt quá tiêu chuẩn chất lượng môi trường khiến cho môi trường trở nên
độc hại đối với con người và sinh vật.

5
Sự ô nhiễm môi trường có thể là hậu quả của các hoạt động tự nhiên như: hoạt
động của núi lửa, thiên tai như lũ lụt, bão… hoặc do các hoạt động của con người

và thải vào môi trường đất các chất thải đa dạng khác. Trong các chất thải này,
có những chất phóng xạ, đất cũng nhận những kim loại nặng từ khí quyển dưới
dạng bụi như: Pb, Hg, Cd, Mo và các chất phóng xạ. Nguồn rác thải từ đô thị,
việc sử dụng phân bón tươi để bón ruộng, nương rẫy cũng đã góp phần làm ô
nhiễm đất [16].
* Hậu quả của ô nhiễm môi trường đất do KLN
Sự tích tụ các chất độc hại, các KLN trong đất sẽ làm tăng khả năng hấp thụ
các nguyên tố có hại trong cây trồng vật nuôi và gián tiếp gây ảnh hưởng xấu tới
sức khoẻ con người, làm thay đổi cấu trúc tế bào gây ra nhiều bệnh di truyền, bệnh
về máu, bệnh ung thư [24].
b, Tác động của hệ thống sản xuất đến môi trường đất
Đất là nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất trong sản xuất nông -
lâm nghiệp, ngoài ra con người còn sử dụng đất cho nhiều mục đích khác nhau
như: Làm nhà ở, đường giao thông, kho tàng và mặt bằng sản xuất công nghiệp.
Theo NAYHTUN (1982) thì năm 1970 một hecta đất canh tác sử dụng cho 2,6
người, còn năm 2000 cho 4 người [12].
Như vậy khi dân số gia tăng, đòi hỏi lương thực, thực phẩm ngày càng nhiều
và con người phải áp dụng những phương pháp để tăng mức sản xuất và tăng cường
khai thác độ phì của đất.
* Những biện pháp phổ biến là:
- Tăng cường sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp như: Phân bón,
thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ.
- Sử dụng các chất điều khiển sinh trưởng để giảm bớt thất thoát mùa màng và
thuận lợi cho thu hoạch.
- Sử dụng công cụ và kỹ thuật hiện đại.
- Mở rộng mạng lưới tưới tiêu.
Tất cả những biện pháp này đều gây tác động mạnh mẽ đến hệ sinh thái và môi
trường đất, đó là:
- Làm đảo lộn cân bằng sinh thái do sử dụng thuốc trừ sâu.


như là một công cụ làm sạch các vùng bị ô nhiễm. Họ tin rằng đất ô nhiễm KLN

8
hoặc chất phóng xạ có thể được làm sạch bằng cách sử dụng các loài cây có khả
năng hấp thụ những chất này. Quy trình này gọi là cải tạo sinh học, cụ thể hơn nếu
dùng thực vật để cải tạo thì gọi là cải tạo bằng thực vật.
Ví dụ, khi một khu đất bị ô nhiễm cadimi, hiện nay người ta sẽ rào khu đất lại,
đề biển để ngăn mọi người vào, xây dựng một bãi để xe hoặc đào toàn bộ khối đất
chở đến chỗ chôn lấp, tất cả các việc này rất tốn kém. Ý tưởng mới sẽ là trồng các
cây có khả năng tích luỹ kim loại để tách kim loại ra khỏi khu đất. Sau 5 hoặc 10
năm, bằng cách trồng luân canh các loại cây này sẽ có thể khử kim loại ra khỏi đất.
Như vậy sẽ tiết kiệm nguồn kinh phí và giữ được đất để sử dụng sau đó.
1.1.3. Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và chính thức có hiệu lực từ
ngày 01 tháng 07 năm 2005.
- Nghị định số 68/2006/NĐ – CP của chính phủ ngày 20 tháng 05 năm 2005 về
an toàn hoá chất.
- Quyết định số 22/2006/QĐ/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về
việc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
- Quyết định số 33/2004/QĐ – BKHCN về việc ban hành tiêu chuẩn Việt Nam
do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành.
- Quyết định số 04/2008/QĐ – BTNMT về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Tiêu chuẩn Việt Nam về giới hạn tối đa cho phép của kim loại nặng trong đất
(TCVN 7209: 2002) và ngưỡng độc hại trong thực vật.
- Quyết định số 99/2008/QĐ-BTN ngày 15 tháng 10 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Quyết định số 328/2005/QĐ-TTg ngày 12/12/2005 của thủ tướng chính phủ
phê duyệt kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010.

1.2.2. Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ ô nhiễm KLN trong đất
Tùy theo từng mục đích sử dụng đất, từng điều kiện kinh tế xã hội, các quốc
gia khác nhau đưa ra các tiêu chuẩn để xác định mức độ ô nhiễm KLN trong đất
khác nhau. Ở Úc và New Zealand, giới hạn cho phép KLN trong đất được quy định
ở bảng 1.2 dưới đây.
Bảng 1.2. Giới hạn ô nhiêm đất ở Úc và New Zealand
Nguyên tố
Ngƣỡng mg/kg
As
20
Cd
3
Cr
50
Cu
60
Pb
300
Mn
500
Hg
1
Ni
60
Zn
200
(Nguồn: ANZ (1992) [26]

10
Nhiều nước còn đưa ra quy định giới hạn KLN đối với đất dùng cho mục đích

100
200
100
400
20(100)
500
Cd
5
8
3
-
1
2
Hg
5
0,3
5
-
2
10
(Nguồn [27]
Như vậy nguồn gốc ô nhiễm KLN trong đất cũng như mức độ độc hại của
KLN đối với con người và hệ sinh thái rất phức tạp, vì vậy tiêu chí đánh giá ô
nhiễm KLN trong đất cũng rất khác nhau. Ở Việt Nam, Dựa vào mục đích sử dụng
đất, Tiêu chuẩn cho phép đối với từng kim loại được quy định khác nhau. Trong đó,
đối với mục đích sử dụng đất nông nghiệp, giới hạn KLN cho phép là thấp nhất.
1.2.3. Một số phƣơng pháp xử lý ô nhiễm đất truyền thống
Trước hiện tượng ô nhiễm môi trường đất, nước đang diễn ra ngày càng trầm
trọng như hiện nay, các nhà khoa học đã tiến hành các nghiên cứu để bảo vệ nguồn
tài nguyên quan trọng của trái đất. Hiện nay các phương pháp giảm thiểu ô nhiễm

đầu khi chưa được xử lý. Hay phương pháp thay đổi loại cây trồng có khả năng
thích nghi tốt với môi trường có nồng độ kim loại nặng cao và tạo ra các sản phẩm
có ít khả năng tích lũy kim loại nặng cũng là một trong những chiến lược quản lý và
giảm thiểu sự tác động của kim loại nặng đến cây trồng.
Hiện nay trong việc giảm thiểu ô nhiễm kim loại nặng các nhà khoa học đang
hướng tới các phương pháp rẻ tiền hơn và thân thiện với môi trường hơn, đó là
phương pháp xử lý ô nhiễm bằng thực vật (Phytoremediation) - một trong những
giải pháp quan trọng, có tính khả thi cao để xử lý các vùng đất, nước bị ô nhiễm kim
loại nặng. Đây là một lĩnh vực quan trọng của công nghệ sinh học ứng dụng vào
công tác bảo vệ môi trường. Đây là một hướng đi tương đối mới trong lĩnh vực xử
lý ô nhiễm đất, nước. Ở Việt Nam một số tác giả cũng đề xuất biện pháp làm sạch ô

12
nhiễm kim loại nặng trong đất bằng cách sử dụng một số cây có khả năng tích tụ
các kim loại độc hại ở mức cao như cúc su si, ngũ gia bì…(Trần Kông Tấu và cs,
2005 [17]), cây cải xoong có thể xử lý được Cr và Ni từ nước thải mạ điện, rong
đuôi chó và bèo tấm lại có khả năng giảm thiểu được Pb, Zn, Fe và Cu có trong Hồ
bảy mẫu, Hà Nội [10], cây ổi thơm và dưa leo (Herterostrema villosum) có khả
năng hấp thụ Pb và Cd rất cao, cây dương xỉ có thể làm sạch nước bị ô nhiễm As.
Việc lựa chọn phương pháp xử lý ô nhiễm các kim loại phải căn cứ loại cây
trồng, đặc điểm hệ rễ, sinh khối, pH đất, loại kim loại nặng. Xu hướng hiện nay
các nhà nghiên cứu đi theo hướng lựa chọn các loại thực vật dễ trồng, chi phí thấp,
có khả năng chịu được nồng độ ô nhiễm cao và nhất là có khả năng là sạch môi
trường với thời gian ngắn.
Có thể nói vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong đất, nước tại các khu công
nghiệp tập trung và các thành phố lớn hiện nay ở Việt Nam là một thực tế
đáng báo động. Các nhà khoa học cũng đã đưa ra rất nhiều các giải pháp
nhằm hạn chế sự ô nhiễm nhưng cũng mới chỉ là những nghiên cứu thử
nghiệm. Hiện tại vẫn chưa có một qui trình công nghệ hữu ích nào để xử lý ô
nhiễm kim loại nặng trong đất, nước.

- Khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản
Việc khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản, kéo theo các hậu quả nghiêm
trọng như tàn phá môi trường, làm thất thoát, lãng phí tài nguyên. Việc khai thác
trái phép tài nguyên khoáng sản gây hậu quả lớn đến môi trường, chủ yếu là nạn
khai thác vàng, sử dụng cyanur, hoá chất độc hại để thu hồi vàng đã diễn ra ở
Quảng Nam, Lâm Đồng, Đà Nẵng; khai thác chì, kẽm, thiếc, than ở các tỉnh miền
núi phía Bắc; khai thác quặng ilmenit dọc bờ biển, đã phá hoại các rừng cây chắn
sóng, chắn gió, chắn cát ven biển; khai thác cát, sỏi lòng sông gây xói lở bờ, đê, kè,
ảnh hưởng các công trình giao thông, gây ô nhiễm nguồn nước; khai thác đá vật liệu
xây dựng phá hoại cảnh quan, môi trường, gây ô nhiễm không khí. [4]
1.3.2. Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường
a, Ô nhiễm không khí, nước
Các hoạt động khai thác khoáng sản thường sinh ra bụi, nước thải với khối
lượng lớn, gây ô nhiễm không khí và nước.

14
Tác động hoá học của hoạt động khai thác khoáng sản tới nguồn nước: Sự phá
vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy
các quá trình hoà tan, rửa lũa các thành phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình
tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được
quản lý, xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn cung
cấp cho nguồn nước tự nhiên, là những tác động hoá học làm thay đổi tính chất
vật lý và thành phần hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ.
Nước ở các mỏ than thường có hàm lượng các ion kim loại nặng, á kim, các hợp
chất hữu cơ, các nguyên tố phóng xạ cao hơn so với nước mặt và nước biển khu vực
đối chứng và cao hơn TCVN từ 1-3 lần. Đặc biệt là khu vực từ Quảng Yên đến Cửa
Ông. Trong các mỏ thiếc sa khoáng, biểu hiện chính của ô nhiễm hoá học là làm đục
nước bởi bùn - sét lơ lửng, tăng hàm lượng các ion sắt và một số khoáng vật nặng.Việc
khai thác và tuyển quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa Hg, ngoài ra, các
nguyên tố kim loại nặng như asen, antimoan, các loại quặng sunfua, có thể rửa lũa hoà

mỏ kim loại và các khu mỏ đang khai thác hầu hết nằm ở vùng núi và trung du. Vì
vậy, việc khai thác khoáng sản trước hết tác động đến rừng và đất rừng xung quanh
vùng mỏ.
Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân làm giảm
độ che phủ do rừng cây bị chặt hạ, lớp phủ thực vật bị suy giảm. Hoạt động khai
thác khoáng sản cũng làm cho thực vật, động vật bị giảm số lượng hoặc tuyệt chủng
do các điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng cỏ và sông nước xấu đi. Một số loài
thực vật bị giảm số lượng, động vật phải di cư sang nơi khác. [11]
Khai thác khoáng sản đã làm thu hẹp đáng kể diện tích đất nông, lâm nghiệp
và ảnh hưởng đến sản xuất như: chiếm dụng đất nông, lâm nghiệp để làm khai
trường (Bảng 1.4)
Bảng 1.4: Diện tích rừng và đất rừng bị thu hẹp, thoái hoá ở một số mỏ

TT

Tên mỏ, khu khai thác
DT đất
lâm nghiệp
bị phá (ha)

Mức độ suy thoái
1
Khu khai thác antimoan
Mậu Duệ (Hà Giang)
25
Đất rừng bị đào phá và bỏ
hoang hóa

2
Khai thác vàng antimoan


7
Khu khai thác than ở
Thái Nguyên

671
Đất rừng bị thu hẹp để làm khai
trường và bãi thải
8
Các mỏ kim loại ở Bắc Kạn
– Thái Nguyên
960
Rừng tự nhiên bị thu hẹp, đất
đồi hoang bị đào phá

9

Khai thác vàng
114,5
Sử dụng đất rừng làm khai
trường và thải cát, đá bừa bãi.
10
Khai thác đá
91
Đất rừng bị thu hẹp do mở rộng
khai trường.

Trích đoạn Đánh giá về tài nguyên và môi trường trên địa bàn xã Hà Thượng Khả năng sinh trưởng của Dương xỉ Sự thay đổi thành phần dinh dưỡng trong đất qua quá trình cải tạo Biện pháp xử lý tro sau đốt Hàm lượng mùn và pH trong đất trước và sau thí nghiệm xử lý rễ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status