DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Từ, cụm từ viết tắt Nghĩa của từ, cụm từ viết tắt
1 BTNMT Bộ Tài nguyên Môi trường
2 GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
3 HĐND Hội đồng nhân dân
4 NĐ – CP Nghị định – Chính phủ
4 NXB Nhà xuất bản
5 THCS Trung học cơ sở
6 QSDĐ Quyền sử dụng đất
7 SDĐ Sử dụng đất
8 UBND Ủy ban nhân dân
9 VPĐK Văn phòng đăng ký
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Phân tích đánh giá số dân gia tăng theo các năm từ 2010 đến
2013 28
Bảng 4.2. Tổng hợp điểm dân cư các xóm năm 2013 29
Bảng 4.3. Cơ cấu lao động năm 2013 30
Bảng 4.4. Hiện trạng sử dụng đất của Xã Hà Thượng năm 2013 31
Bảng 4.5. Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Xã
Hà Thượng (tính đến hết 31/12/2013) 33
Bảng 4.6. Những hiểu biết cơ bản của người dân xã Hà Thượng về
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 35
Bảng 4.7. Sự hiểu biết của người dân xã Hà Thượng về những trường
hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 36
Bảng 4.8. Sự hiểu biết của người dân xã Hà Thượng về những trường
hợp không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 37
Bảng 4.9. Sự hiểu biết của người dân xã Hà Thượng về thẩm quyền
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 38
Bảng 4.10. Sự hiểu biết của người dân xã Hà Thượng về quy trình, thủ
tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 39
Bảng 4.11. Hiểu biết của người dân xã Hà Thượng về những quyền
Việt Nam có diện tích 32.898.733 ha xếp thứ 59 trong tổng số hơn 200
nước trên thế giới, nhưng dân số lại đứng thứ 14 trên thế giới vì vậy bình
quân diện tích đất trên đầu người rất thấp: 0,36 ha/người, chỉ bằng 1/7 mức
bình quân trên thế giới. Trong khi đó 3/4 diện tích đất của nước ta là đất dốc,
vì vậy việc sử dụng đất đai hiệu quả, hợp lý kết hợp với các biện pháp cải tạo,
bảo vệ đất trở thành một trong nhiệm vụ hàng đầu của nhà nước ta. Cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất là một trong 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai
được quy định trong Luật Đất đai 2003, qua đó nhà nước có thể quản lý một
cách dễ dàng nguồn tài nguyên đất đai.
Hà Thượng là một xã miền núi, nằm ở phía Đông Nam của huyện Đại
Từ, cách trung tâm huyện khoảng 6km. Có tổng diện tích đất tự nhiên là
1522,01ha, trong đó đất nông nghiệp là 760,23ha chiếm 49,95%, đất phi nông
nghiệp là 761,78ha chiếm 50,05%. Là một xã thuần nông với thu nhập chính
của người dân chủ yếu từ sản xuất nông lâm nghiệp, trong sản xuất nông
nghiệp vẫn còn manh mún nhỏ lẻ chưa hình thành được các vùng sản xuất
hàng hóa tập trung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, công tác quy hoạch
phát triển sản xuất vẫn chưa được quan tâm. Vì vậy đời sống vật chất tình
thần của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, sự hiểu biết về các vấn đề xã hội
còn hạn chế, đặc biệt là các vấn đề về nội dung quản lý của nhà nước về đất
đai. Trong những năm qua, công tác cấp GCNQSDĐ tại địa phương đã đạt
được một số kết quả nhất định, song vẫn còn gặp những khó khăn, một phần
do sự hiểu biết của người dân về việc cấp GCNQSDĐ còn hạn chế. Đứng
2
trước yêu cầu cấp thiết đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá sự hiểu
biết của người dân Xã Hà Thượng huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên về
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ” dưới sự hướng dẫn của cô
giáo TS. Phan Thị Thu Hằng.
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Điều tra tình hình quản lí về đất đai của xã.
công bố ngày 08/01/1988 về những nội dung quản lý nhà nước về đất đai.
Luật Đất đai 14/07/1993, luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật đất
đai ngày 02/12/1998 và luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật đất đai
ngày 29/06/2001.
Nghị định số 38/2000/NĐ - CP ngày 20/08/2000 của Thủ Tướng Chính
Phủ về thu tiền sử dụng đất.
Thông tư 115/2000/TT - BTC hướng dẫn thi hành nghị định số
38/2000/NĐ - CP ngày 20/08/2000 của Chính Phủ về thu tiền sử dụng đất.
Nghị định số 60/CP ngày 05/07/1994 của Chính Phủ về quyền sở hữu
nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị.
Nghị định số 61CP ngày 05/07/1994 của Chính Phủ về mua bán và
kinh doanh nhà ở.
Nghị định số 88/CP ngày 17/08/1994 của Chính Phủ về quản lý và sử
dụng đất đô thị.
4
Thông tư số 70/CT - TCT ngày 18/08/1994 hướng dẫn thực hiện các
khoản thu ngân sách đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở,
quyền sử dụng đất ở tại đô thị theo nghị định số 60/CP và nghị định số 61/CP.
Chỉ thị số 346/TTg ngày 05/07/1994 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc
tổ chức thực hiện các nghị định của Chính Phủ về quyền sở hữu nhà ở và
quyền sử dụng đất ở tại đô thị và mua bán và kinh doanh nhà ở.
Công văn số 1427/CV - ĐC ngày 13/10/1995 của Tổng cục Địa chính
về việc hướng dẫn xử lý một số vấn đề về đất đai và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đai.
Công văn số 440/CV - ĐC ngày 12/04/1996 của Tổng cục Địa chính về việc
hướng dẫn một số vấn đề trong xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai.
Nghị định số 45/CP ngày 03/08/1996 của Chính Phủ việc bổ sung điều
10 của nghị định số 60/CP ngày 05/07/1994 của Chính Phủ về quyền sở hữu
nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị.
Thông tư số 57/ TT- TCT ngày 23/09/1996 của Bộ Tài chính hưỡng
hướng dẫn lập, điều chỉnh quy hoạch kế hoạch sử dụng đất).
Nghị định 181/2004/NĐ - CP về thi hành luật đất đai.
Quyết định 08/2006/ QĐ-BTNMT ngày 21/07/2006 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về GCNQSDĐ.
Thông tư 09 / 2007 /TT – BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 quy định về
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất.
Nghị định 88/2009/NĐ- CP ngày 19/10/2009 của Chính Phủ về
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà và ở và tài sản gắn liền với đất.
Điều 4 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến
đầu tư xây dựng cơ bản của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 số
38/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn:
GCNQSDĐ là một chứng từ pháp lý công nhận quyền sử dụng đất
(QSDĐ) hợp pháp của mỗi chủ sử dụng đất; giúp bảo hộ quyền và lợi ích hợp
pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu
tài sản khác gắn liền với đất; nó có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý
nhà nước về đất đai. Hiểu biết về việc cấp GCNQSDĐ sẽ giúp người dân thực
6
hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời cũng giúp cho công tác quản
lý nhà nước về đất đai dễ dàng hơn. Tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều
người dân còn chưa nắm bắt được những quy định về cấp GCNQSDĐ hoặc
nếu có thì còn rất nhiều hạn chế do việc tuyên truyền pháp luật về đất đai đến
người dân còn yếu kém, đặc biệt là sự quản lí chưa chặt chẽ của cơ quan chức
năng địa phương. Chính vì vậy việc điều tra, đánh giá sự hiểu biết của người
dân về việc cấp GCNQSDĐ cùng với tình hình quản lí của địa phương là hết
sức quan trọng, để từ đó đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao nhận thức
của người dân giúp đẩy nhanh công tác cấp GCNQSDĐ giúp công tác quản lý
nhà nước về đất đai được thuận lợi hơn.
1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành
chính, lập bản đồ hành chính.
3. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
6. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
7. Thống kê, kiểm kê đất đai.
8. Quản lý tài chính về đất đai.
9. Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị
trường bất động sản;
10. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
11. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về
đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
12. Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại tố cáo các vi
phạm trong viếc quản lý và sử dụng đất đai.
13. Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai. [7]
2.3. Một số vấn đề về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
2.3.1. Những vấn đề cơ bản về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Điều 48 - Luật Đất đai quy định:
1. GCNQSDĐ được cấp cho người sử dụng theo một mẫu thống nhất
trong cả nước đối với mọi loại đất.
8
Trường hợp có tài sản gắn liền với đất thì tài sản đó được ghi nhận trên
GCNQSDĐ.
2. GCNQSDĐ do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành.
3. GCNQSDĐ được cấp theo từng thửa đất.
hành.
6. Người trúng đấu giá QSDĐ, đấu thầu dự án có sử dụng đất.
7. Người sử dụng đất quy định tại điều 90, 91, và 92 của Luật này.
8. Người mua nhà ở gắn liền với đất ở.
9. Người được Nhà nước thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở.
10. Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ. [6]
2.3.3. Những trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Khoản 2, Điều 41 - Nghị định 181 /2004/NĐ-CP quy định những
trường hợp không được cấp GCNQSDĐ như sau:
1. Đất do nhà nước giao để quản lý quy định tại điều 3 Nghị định này.
2. Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích do UBND xã, phường, thị
trấn quản lý sử dụng.
3. Người sử dụng đất do thuê, thuê lại của người khác mà không phải là
đất thuê, thuê lại trong khu công nghiệp quy định tại điểm d khoản 5 điều này.
4. Người đang sử dụng đất mà không đủ điều kiện để được cấp
GCNQSDĐ theo quy định tại Điều 50 và Điều 51 Luật Đất đai.
5. Người nhận khoán đất trong các nông, lâm trường. [3]
2.3.4. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Điều 52, Luật Đất đai quy định về thẩm quyền cấp GCNQSDĐ, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như sau:
1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức,
cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được giao đất, cho thuê
đất để thực hiện dự án đầu tư; tổ chức, cá nhân nước ngoài.
2. UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp GCNQSDĐ,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân,
cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở gắn
liền với QSDĐ ở.
3. Cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất quy định tại khoản 1 Điều này được uỷ quyền cho
quyền sử dụng đất
1. Trường hợp hộ gia đình được nhà nước giao đất nông nghiệp hoặc
được công nhận QSDĐ nông nghiệp thì ghi “Hộ ông” (hoặc “Hộ bà”), sau đó
ghi họ tên của người đại diện hộ gia đình và của người vợ (hoặc chồng) người
11
đại diện; nếu hộ gia đình đề nghị chỉ ghi họ tên vợ hoặc chồng thì phải có
chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn nơi hộ đó đăng ký thường trú; nếu
người đại diện hộ gia đình không có vợ (hoặc chồng) hoặc có nhưng vợ (hoặc
chồng) của người đại diện hộ gia đình không có quyền sử dụng đối với diện
tích đất sử dụng chung của hộ gia đình thì chỉ ghi họ tên của người đại diện.
Trường hợp được nhà nước giao đất phi nông nghiệp có thu tiền sử
dụng đất thì ghi họ tên của người có tên trong quyết định giao đất, nếu như
trong quyết định ghi là giao cho hộ gia đình thì ghi như trường hợp giao đất
nông nghiệp cho hộ gia đình.
Tương tự với trường hợp được nhà nước cho thuê đất.
Trường hợp nhận chuyển quyền sử dụng đất thì ghi họ tên người có tên
trong hợp đồng, văn bản về việc nhận chuyển QSDĐ, nếu người nhận QSDĐ
có đề nghị ghi là hộ gia đình thì ghi như với trường hợp giao đất nông nghiệp
cho hộ gia đình.
2. Trường hợp QSDĐ là tài sản chung của cả vợ hoặc chồng thì ghi cả
họ tên vợ và chồng, nếu người SDĐ đề nghị chỉ ghi họ tên vợ hoặc chồng thì
phải có văn bản thoả thuận của 2 vợ chồng có chứng thực của UBND xã,
phường, thị trấn nơi cư trú hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước.
3. Người sử dụng đất là cộng đồng dân cư thì ghi tên cộng đồng dân cư.
4. Trường hợp thửa đất có nhiều cá nhân, hộ gia đình, tổ chức cùng sử
dụng (trừ trường hợp thửa đất có nhà chung cư) thì ghi họ tên của từng người
sử dụng đất đó. [7]
2.3.7. Thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp
Khoản 2, Điều 42 - Nghị định 181/2004/NĐ-CP quy định như sau
1. Thu hồi GCNQSDĐ trong trường hợp cấp đổi GCNQSDĐ sạt lở tự
ở được xác định theo quy định tại khoản 3, 4 và 5 Điều 87 của Luật Đất đai.
- Khoản 3, 4 và 5 Điều 87 của Luật Đất đai quy định như sau:
+ Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày
18/12/1980 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành và người đang sử
dụng có một trong các loại giấy tờ về QSDĐ quy định tại khoản 1,2 và 5 Điều
50 Luật Đất đai mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất
vườn, ao được xác định theo giấy tờ đó.
+ Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày
18/12/1980 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành và người đang sử
dụng có một trong các loại giấy tờ về QSDĐ quy định tại khoản 1,2 và 5 Điều
13
50 Luật Đất đai mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích
đất vườn, ao được xác định như sau:
+ UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào điều kiện,
tập quán địa phương quy định hạn mức công nhận đất ở theo số lượng nhân
khẩu trong hộ gia đình.
+ Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở tại
địa phương thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức đất ở tại địa phương.
+ Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở tại
địa phương thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.
+ Đối với trường hợp không có giấy tờ về QSDĐ quy định tại khoản 1,
2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì diện tích đất ở có vườn, ao được xác định
theo mức giao cho mỗi hộ gia đình cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 83 và
khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai.
2.4. Tình hình công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cả
nước và của tỉnh Thái Nguyên
2.4.1. Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cả nước
Việc cấp GCNQSDĐ được thực hiện từ năm 1990 theo quy định tại
Luật Đất đai 1988. Song trong những năm trước Luật Đất đai 1993, kết quả
cấp GCNQSDĐ đạt được chưa đáng kể, phần lớn các địa phương mới triển
- Về đất lâm nghiệp: Cả nước đã cấp được 1.709.900 giấy với diện tích
10.357.400 ha, đạt 86,1%. Có 20 tỉnh đạt trên 85%, có 41 tỉnh cấp đạt dưới
85%; trong đó có 25 tỉnh đạt dưới 70%.
Nhìn chung công tác cấp GCNQSDĐ còn chậm nhất là các loại đất
chuyên dùng, đất ở tại đô thị và đất lâm nghiệp. Một số địa phương chưa triển
khai đồng bộ cấp giấy chứng nhận cho tất cả các loại đất mà tập trung vào
một số loại chính như đất sản xuất nông nghiệp, đất ở nông thôn và đất ở đô
thị. Một số tỉnh, thành phố còn tồn đọng nhiều giấy chứng nhận do người sử
dụng đất chưa đến nhận hoặc do UBND cấp xã đã nhận được nhưng chưa
trao cho người sử dụng đất được cấp giấy.
Nhiều địa phương hiểu không đúng và không đầy đủ những quy định
của luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, dẫn tới những
vận dụng không đúng quy định khi cấp GCNQSDĐ (nhất là trong việc xác
định điều kiện được cấp GCNQSDĐ với những trường hợp không có giấy tờ
về quyền sử dụng đất, xác định diện tích đất ở đối với trường hợp thửa đất có
vườn, ao gắn liền, xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai) và khi lập hồ sơ địa
15
chính. Một số địa phương chưa ban hành đầy đủ các quy định cụ thể hoá pháp
luật về đất đai liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận, nhất là quy định về
thời gian giải quyết thủ tục hành chính ở các khâu công việc (thẩm định hồ
sơ, xác định nghĩa vụ tài chính). Nhiều địa phương vẫn chưa chú trọng việc
cải cách thủ tục hành chính khi giải quyết cấp GCNQSDĐ, vẫn còn tình trạng
gây phiền hà cho người sử dụng đất khi làm thủ tục cấp giấy như yêu cầu
người dân phải nộp thêm các loại giấy tờ ngoài quy định hoặc phải tự mang
hồ sơ đến từng cơ quan có thẩm quyền để giải quyết và không xem xét cấp
GCNQSDĐ cho các trường hợp phải thu hồi đất, thậm chí có nơi vẫn yêu cầu
người dân phải xin xác nhận của những người liền kề về ranh giới sử dụng
đất, nhận và trả kết quả hồ sơ không đúng địa chỉ quy định, nhận hồ sơ không
đảm bảo yêu cầu, gây phiền hà cho người dân hoặc phải giải quyết thủ tục
gượng ép thiếu chặt chẽ về pháp lý, cá biệt có nơi đòi hỏi phải có hộ khẩu
Ở tỉnh Thái Nguyên, trong những năm qua, mặc dù các Bộ, ngành
Trung ương, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh đã có nhiều văn bản chỉ đạo,
song kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt thấp ( Đạt 74,37%
diện tích cần cấp) và còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Đặc biệt là việc cấp
GCNQSDĐ cho các Nông, Lâm trường và Ban quản lý rừng đạt thấp và quản
lý chưa hiệu quả, tranh chấp giữa các hộ dân trong vùng với các Nông, lâm
trường, Ban quản lý rừng diễn ra phổ biến qua kết quả thanh tra, kiểm tra
cho thấy hầu hết các Nông, Lâm trường được Nhà nước giao đất từ trước
những năm 1990 với diện tích quản lý lớn, nhưng việc giao đất chỉ thể hiện
trên văn bản, tọa độ mà không có bản đồ, không cắm mốc ngoài thực địa,
được giao đất nhưng không xác định được ranh giới thực tế tại thực địa, việc
quản lý thiếu chặt chẽ dẫn tới tình trạng đất để hoang hóa, lấn chiếm và tranh
chấp với các hộ dân. Điển hình như: Ban quản lý rừng ATK Định Hóa được
giao đất từ năm 1986 với diện tích giao là 16.785,73ha, nhưng chỉ quản lý
được 6.4875,58ha; Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên
chè Phú Lương được giao đất từ năm 1976 với diện tích được giao là 1.177ha
nhưng chỉ quản lý và có nhu cầu giữ lại 620ha… vẫn còn có hiện tượng Công
ty giao đất cho các hộ dân sử dụng nhưng không có hợp đồng giao khoán theo
quy định hoặc nhiều trường hợp cấp đất sai mục đích sử dụng Bên cạnh việc
quản lý lỏng lẻo của các Nông, lâm trường, ý thức chấp hành của người dân
vẫn còn chưa tốt như tự ý làm nhà ở, sử dụng đất sai mục đích và chậm nộp
tiền thuê đất… Sở dĩ xảy ra những tình trạng trên chủ yếu vẫn là do sự quản
17
lý lỏng lẻo của các Nông lâm trường, cùng với việc nguồn kinh phí cho công
tác rà soát, đo đạc, lập hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận còn hạn chế, và sự
vào cuộc của các cấp ngành còn chưa quyết liệt.
Đối với diện tích đất ở chưa cấp là 1.111ha, chủ yếu còn vướng mắc
chưa cấp được là do các hộ gia đình, cá nhân đã làm nhà trên đất nông nghiệp
trước ngày 01/7/2004, mua nhà thanh lý hoặc được giao trái thẩm quyền;
nguồn gốc sử dụng đất phức tạp, không rõ ràng, tranh chấp giữa hộ gia đình,
đăng ký đất đai, phản ánh kịp thời, đầy đủ tình hình cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất trên địa bàn.
Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành Kế hoạch và 14 văn bản đôn
đốc, hướng dẫn triển khai công tác cấp Giấy chứng nhận trên địa bàn tỉnh. Chỉ
đạo các huyện, thành phố, thị xã rà soát, xây dựng và báo cáo kế hoạch thực
hiện cấp Giấy chứng nhận năm 2013 và các năm tiếp theo (2014-2015), tổng
hợp báo cáo UBND tỉnh và Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Chính phủ
xem xét hỗ trợ kinh phí; thực hiện ký Hợp đồng với các đơn vị tư vấn thi công
để hỗ trợ các huyện, thành phố, thị xã đo đạc địa chính, đo chỉnh lý bản đồ
địa chính và kê khai lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân
và các Nông lâm trường trên địa bàn tỉnh; Tổ chức làm việc với Tổng Công ty
Lâm nghiệp Việt Nam và Tổng Công ty Chè Việt Nam để thống nhất nhu cầu
sử dụng đất của Công ty Lâm nghiệp Thái Nguyên, Chi nhánh Lâm trường
Phúc Tân và Chi nhánh Chè Sông Cầu. Đồng thời phối hợp giải quyết những
khó khăn vướng mắc cho các đơn vị; tổ chức 09 hội nghị hướng dẫn các cơ
quan, đơn vị chưa được cấp Giấy chứng nhận lần đầu trên địa bàn 09 huyện,
thành phố, thị xã; phân công các đồng chí Lãnh đạo sở, cán bộ chuyên môn
đôn đốc, hướng dẫn, giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện
công tác cấp giấy tại các Huyện, thành phố, thị xã; tổ chức các Đoàn kiểm tra
công tác cấp Giấy chứng nhận lần đầu trên địa bàn các huyện, thành phố, thị
xã theo Quyết định số 790/QĐ-UBND ngày 26/4/2013 của UBND tỉnh.
Để giúp cho các địa phương và các Nông lâm trường, các tổ chức khác
thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận, Sở Tài nguyên và Môi trường đã huy
động 60 cán bộ thực tiếp theo dõi địa bàn và hướng dẫn các tổ chức, Nông
lâm trường rà soát, lập hồ sơ kê khai cấp Giấy chứng nhận. Ký hợp đồng với
15 đơn vị tư vấn thực hiện đo đạc bản đồ địa chính, đo chỉnh lý, lập hồ sơ cấp
giấy ở 79 xã, thị trấn, với trên 500 cán bộ kỹ thuật tham gia thực hiện.
19
Cùng với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND và UBND Tỉnh, sự
vào cuộc tích cực của các sở, ngành và các địa phương trong tỉnh, trong năm
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý sử dụng đất, kiên
quyết xử lý thu hồi diện những tích đất quản lý và sử dụng không hiệu quả, vi
phạm quy định về quản lý đất đai.
- Phối hợp với UBND các huyện, thành phố, thị xã tập trung thực hiện
cấp Giấy chứng nhận cho các hộ gia đình, cá nhân, tiếp tục kiểm tra, rà soát
việc quản lý và sử dụng đất đai của các Nông lâm trường, Ban quản lý rừng.
- Chỉ đạo các huyện, thành phố, thị xã tháo gỡ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng cho các đối tượng còn vướng mắc, như đất hộ gia đình cá nhân
làm nhà xuống ruộng; đất tranh chấp giữa tổ chức với hộ gia đình cá nhân
mượn đất làm nhà
- Tiếp tục tham mưu rà soát bổ sung, sửa đổi các thủ tục hành chính có
liên quan đến công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hướng
đơn giản, thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp, đảm bảo theo đúng quy
định của pháp luật đất đai [10].
21
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là các hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trên
địa bàn Xã Hà Thượng, Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi nghiên cứu: Sự hiểu biết của người dân về công tác cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai 2003.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành.
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Hà Thượng - Huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian tiến hành: từ ngày 20 tháng 01 năm 2014 đến ngày 30 tháng
04 năm 2014.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Điều tra tình hình cơ bản của Xã Hà Thượng
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Tình hình quản lý đất đai ở Xã Hà Thượng