Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải của nhà máy Núi Pháo- Công ty TNHH khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo trên địa bàn xã Hà Thượng – huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐÀM HỒNG HÒA Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC THẢI CỦA
NHÀ MÁY NÚI PHÁO- CÔNG TY TNHH KHAI THÁC CHẾ BIẾN
KHOÁNG SẢN NÚI PHÁO TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HÀ THƯỢNG
HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : TS. Lê Văn Thơ
Thái Nguyên, năm 2014


Đàm Hồng Hòa
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1. Tổng hợp nhu cầu sử dụng nước của Mỏ Núi Pháo 28
Bảng 4.2. Chất lượng nước thải tại điểm xả DP1 ra suối Thủy Tinh 37
Bảng 4.3. Chất lượng nước thải tại điểm xả DP2 (hồ lắng khu chứa quặng
đuôi) ra suối Thủy Tinh 38
Bảng 4.4. Chất lượng nước thải tại điểm xả DP3 (hồ lắng khu bãi thải) ra suối
Cát 40
Bảng 4.5. Kết quả phân tích nước thải tháng 3 năm 2014 42
Bảng 4.6. Kết quả phân tích nước thải tháng 4 năm 2014 44
Bảng 4.7. Tổng hợp kết quả điều tra ý kiến người dân 46
về ảnh hưởng của nước thải sản xuất của nhà máy đến môi trường 46

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1. Khai thác vàng, chì kẽm ở Bắc Kạn 13
Hình 2.2. Khai thác khoáng sản bừa bãi là nguyên nhân gây 15
ô nhiễm nguồn nước 15
Hình 2.3. Khai thác quặng ti – tan tại tỉnh Bình Thuận 16
Hình 4.1. Vị trí Khu vực Dự án Khai thác, chế biến Vonfram, Flourit,
Bismuth, đồng và vàng Núi Pháo 20
Hình 4.2. Tổng quan vị trí các khu vực chính của dự án Núi Pháo 21
Hình 4.3. Quy trình công nghệ khai thác và sản xuất tại Mỏ Núi Pháp 24
Hình 4.4. Sơ đồ nhu cầu sử dụng nước và xả nước thải trong quá trình khai
thác, chế biến sản xuất tại Mỏ Núi Pháo 25
Hình 4.5. Dự báo lượng nước chảy vào moong trong quá trình khai thác tại
Mỏ Núi Pháo 30
Hình 4.6. Hình ảnh cửa xả DP1 34

kháng sản Núi Pháo 17
3.2.2. Thời gian nghiên cứu: Từ 20/01/2014 đến 30/04/2014. 17
3.3. Nội dung nghiên cứu 17
3.3.1. Đặc điểm cơ bản của nhà máy Núi Pháo 17
3.3.2. Hiện trạng sử dụng nước, nước thải và quy trình xử lý nước thải
của nhà máy 17
3.3.3. Đánh giá chất lượng môi trường nước thải của nhà máy Núi Pháo 17
3.3.4. Ý kiến của người dân về ảnh hưởng của nước thải nhà máy đến
môi trường 17
3.4. Phương pháp nghiên cứu 17
3.4.1. Phương pháp điều tra thu thập thông tin thứ cấp 17
3.4.2. Phương pháp lấy mẫu nước thải 18
3.4.3. Phương pháp phân tích 18
3.4.4. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 18
3.4.5. Phương pháp điều tra phỏng vấn 19
3.4.6. Tổng hợp viết báo cáo 19
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1. Đặc điểm cơ bản của nhà máy Núi Pháo 20
4.1.1. Vị trí khu vực dự án 20
4.1.2. Cơ cấu tổ chức của công ty 20
4.1.3. Hiện trạng công nghệ sản xuất 23
4.1.4. Quy mô, công nghệ khai thác 25
4.2. Hiện trạng sử dụng nước, nước thải và quy trình sử lý nước thải
của nhà máy 25
4.2.1. Nhu cầu sử dụng nước 26
4.2.2. Nguồn xả nước thải của nhà máy Núi Pháo 29
4.3. Đánh giá chất lượng nước thải của nhà máy Núi Pháo 37
4.3.1. Chất lượng nước thải qua các kết quả phân tích của nhà máy 37
4.4. Ý kiến của người dân về ảnh hưởng của nước thải nhà máy đến môi trường 46
4.5. Một số định hướng và giải pháp khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi

lớn có ý nghĩa về kinh tế, chính trị, xã hội và khối lượng công việc đồ sộ. Dự
án khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo được Chính phủ cấp phép đầu tư
từ tháng 3-2004 với tổng vốn hơn 500 triệu USD. Đây là Dự án khai thác
quặng đa kim công nghệ cao chủ yếu là Vonfram lớn nhất Việt Nam và đứng
thứ hai trên thế giới. Dự án có tổng diện tích hơn 670 ha nằm trên địa bàn các
xã Hà Thượng, Hùng Sơn, Tân Linh, Cát Nê và Tiên Hội của huyện Đại Từ.
Trải qua hơn 9 năm tồn tại và hoạt động của dự án đã góp phần rất lớn
vào sự phát triển của nhà máy khai thác chế biến kháng sản núi pháo tại xã Hà
Thượng – huyện Đại từ nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thái
Nguyên nói chung. Nhưng sự hoạt động của nhà máy Núi Pháo cũng có
những ảnh hưởng xấu đến môi trường và trong đó có môi trường nước.

2
Xuất phát từ thực tế đó, được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại
học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Môi trường, dưới sự hướng dẫn của thầy
giáo TS.Lê Văn Thơ, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện
trạng môi trường nước thải của nhà máy Núi Pháo- Công ty TNHH khai
thác chế biến khoáng sản Núi Pháo trên địa bàn xã Hà Thượng – huyện
Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích của đề tài
- Thông qua nghiên cứu đề tài nắm được hiện trạng chất lượng nước
thải của nhà máy Núi Pháo
- Xác định mức độ ô nhiễm và nguồn gây ô nhiễm nguồn nước thải.
- Đề xuất một số biện pháp xử lý nhằm, giảm thiểu ô nhiễm đối với môi
trường nước.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp bản thân em có
cơ hội tiếp cận với cách thức thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, giúp
em vận dụng kiến thức đã học vào thực tế và rèn luyện về kỹ năng tổng hợp
và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế.

các dòng sông lớn - Văn minh Lưỡng Hà ở Tây Á, văn minh Ai Cập ở hạ lưu
sông Nil, văn minh sông Hằng ở Ấn Độ, văn minh Hoàng Hà ở Trung Quốc,
văn minh sông Hồng ở Việt Nam vv…Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng
nhất của loài người và sinh vật trên trái đất. Con người mỗi ngày cần 250 lít
nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho
hoạt động nông nghiệp. Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi
trường nước và khoảng 70% trọng lượng cơ thể con người. Lượng nước con
người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km
3
, trong đó 8% cho sinh hoạt,
23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp[11].
Đối với sự sống của con người và thiên nhiên, nước tham gia thường
xuyên vào các quá trình sinh hóa trong cơ thể sống. Phần lớn của các phản
ứng hóa học liên quan đến sự trao đổi chất trong cơ thể đều có dung môi là
nước. Nhờ có tính chất này mà nước đã trở thành tác nhân mang sự sống đến
cho trái đất. Đối với cơ thể sống, thì thiếu nước là một hiểm họa, thiếu ăn con
người có thể sống được vài tuần, còn thiếu nước thì con người không thể sống
nổi trong vài ngày. Nhu cầu sinh lý của con người 1 ngày cần ít nhất 1,83 lít
nước vào cơ thể và có thể nhiều hơn tùy theo cường độ lao động và tính chất
của môi trường xung quanh.
Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn. Ðể sản xuất 1 tấn giấy
cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1.000 tấn
nước. Nước dùng để làm nguội các động cơ, làm quay các tubin, là dung môi

4
làm tan các hóa chất màu và các phản ứng hóa học. Mỗi ngành công nghiêp,
mỗi loại hình sản xuất và mỗi công nghệ yêu cầu một lượng nước, loại nước
khác nhau. Nước góp phần làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Nếu
không có nước thì chắc chắn toàn bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông
nghiệp…trên hành tinh này đều ngừng hoạt động và không tồn tại.

Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số
gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ.
Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô
nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. Ở các thành phố lớn, đông dân
chất thải do sinh hoạt cũng là một nguyên nhân quan trọng đang gây ô nhiễm
môi trường nước. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví như
ở các ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước
thải thường có độ pH trung bình từ 9-11, chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD),
nhu cầu ôxy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1, hàm
lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép. Hàm lượng
nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S
vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô
nhiễm nặng nề các nguồn nước bề mặt trong vùng dân cư.
Đã có những khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì,
giấy, dệt nhuộm ở một số địa phương cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn
m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu
vực. Không chỉ ở các thành phố lớn mà ở hầu hết các đô thị khác, nước thải
do các cơ sở công nghiệp cũng không được xử lý, độ ô nhiễm nguồn nước nơi
tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số
chất lơ lửng (SS), ôxy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần
TCCP. Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực
vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến
môi trường nước và sức khoẻ con người. Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu
quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu
cực tới môi trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách
các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy
ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm
phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị, nước thải, rác thải sinh hoạt
không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông,

asen trước khi dùng cho sinh hoạt và ăn uống. Người nhiễm chì lâu ngày có
thể mắc bệnh thận, thần kinh, nhiễm Amoni, Nitrat, Nitrit gây mắc bệnh xanh
da, thiếu máu, có thể gây ung thư. Metyl tert-butyl ete (MTBE) là chất phụ
gia phổ biến trong khai thác dầu lửa có khả năng gây ung thư rất cao. Nhiễm

7
Natri (Na) gây bệnh cao huyết áp, bệnh tim mạch, lưu huỳnh gây bệnh về
đường tiêu hoá, Kali, Cadimi gây bệnh thoái hoá cột sống, đau lưng. Hợp chất
hữu cơ, thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng, diệt cỏ, thuốc kích thích tăng
trưởng, thuốc bảo quản thực phẩm, phốt pho gây ngộ độc, viêm gan, nôn
mửa. Tiếp xúc lâu dài sẽ gây ung thư nghiêm trọng các cơ quan nội tạng. Chất
tẩy trắng Xenon peroxide, sodium percarbonate gây viêm đường hô hấp,
oxalate kết hợp với calcium tạo ra calcium oxalate gây đau thận, sỏi mật. Vi
khuẩn, ký sinh trùng các loại là nguyên nhân gây các bệnh đường tiêu hóa,
nhiễm giun, sán. Kim loại nặng các loại: Titan, Sắt, chì, cadimi, asen, thuỷ
ngân, kẽm gây đau thần kinh, thận, hệ bài tiết, viêm xương, thiếu máu.
2.1.1.3. Một số khái niện cơ bản
- Khái niệm môi trường
+ Với tính chất là một thuật ngữ pháp lý. Môi trường được định nghĩa
trong Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam: “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự
nhiên và yếu tố nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người có
ảnh hưởng tới đời sống sản xuất , sự tồn tại phát triển của con người và thiên
nhiên” [8 ]
- Khái niệm ô nhiễm môi trường
“Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không
phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh
vật”( Nguyễn Thị Lợi, 2006)[7].
- Khái niệm ô nhiễm nước
“ Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng
nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công

lượng nhỏ nhất định chúng cần cho sự phát triển và sinh trưởng của động,
thực vật như khi hàm lượng tăng thì chúng sẽ trở thành độc hại đối với sinh
vật và con người thông qua chuỗi mắt xích thức ăn.
- Các thông số sinh học:
+ Colifom: Là nhóm vi sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trường,
xác định mức độ ô nhiễm bẩn về mặt sinh học của nguồn nước.
2.1.2. Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006.
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH 13 ngày 21 tháng 6 năm 2012
của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội Việt Nam;

9
- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP Quy định việc cấp phép thăm dò, khai
thác, sử dụng, tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước.
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính
phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo
vệ môi trường;
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 về sửa đổi ,
bổ sung một số điều của nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm
2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 01/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính
Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước;

- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT về việc áp dụng Tiêu chuẩn Việt

uống, tắm giặt mà còn không thể dùng cho sản xuất nông nghiệp. Các nghiên
cứu cũng phát hiện tỷ lệ các kim loại độc trong nước song khá cao như thủy
ngân ( nồng độ từ 65-520ppb), chì (10-800ppm), crom (10-200ppm) và nickel
(10-130ppm). Sông Buriganga là một trong những sông lớn chạy qua thủ đô
Dhaka của Bangladesh, tuy nhiên từ năm 1995-1999, mức ô nhiễm của sông
rất cao, sông bị ô nhiễm bởi các hóa chất từ các nhà máy ximăng, xà phòng,
nhuộm, da và giấy. Hầu hết những loại hóa chất được xác định có trong nước
sông đều thuộc nhóm 12 chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), rất độc
hại đối với con người. Sông Sarno, Italy, chảy qua Pompeii tới phía Nam của
vịnh Naples. Sông Ling nằm ở Tây Australia. Sông chảy có độ phèn rất cao
do chịu tác động của hơn 1,5 triệu tấn rác thải sunfit từ hoạt động khai khoáng
được đổ xuống mỗi năm. Lượng rác thải hiện là hơn 100 triệu tấn, gây ô
nhiễm nghiêm trọng cho con sông này. Ở Trung Quốc lượng chất thải và nước
thải công nghiệp thải ra từ các thành phố và thị trấn tăng từ 23,9 tỷ m3 trong
năm 1980 lên 73,1 tỷ m3 trong năm 2006. Một lượng lớn nước thải chưa qua
xử lý được thải vào môi trường hậu quả là làm ô nhiễm nặng các sông hồ.
Dựa trên việc đánh giá 140.000 km dọc Trung Quốc năm 2006 có 42,7%
chiều dài sông chất lượng nước xếp loại 4, 21,8% xếp loại 5( Moitruong.net) [1].
Mới đây ngày 13/1/2005, vụ nổ nhà máy hóa dầu ở thành phố Cát Lâm
(Trung Quốc) gây ô nhiễm sông Tùng Hoa với chất benzene, mức dộ ô nhiễm
dầu gấp 50 lần mức độ cho phép.(Thu Trang, 2006). Ở Zimbabwe các công ty
khai thác mỏ kim cương được đổ chất thải đặc biệt là chất độc vào sông Odzi
do đó làm ô nhiễm ảnh hưởng tới hơn 5.000 gia đình sống cạnh sông Odzi
(Lordham Moyo, 2012)[12].

11
Nguồn nước ngầm cũng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng trong đó nổi bật
là vấn đề ô nhiễm asen. Ngộ độc asen, gây ra tổn thương da và có nhiều khả
năng gây bệnh ung thư. Ở nhiều nước vùng Nam Á bao gồm: Bangladesh, Ấn
Độ và Nepal, hàng ngàn giếng nươc đã bị ô nhiễm nặng do có nồng độ asen

không có công trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất
công nghiệp là rất nặng. Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công
nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số
nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến
700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới
hạn cho phép.
Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt
đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho
phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân
cư. Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công
nghiệp tập trung là rất lớn.
Bên cạnh những nguồn thải nêu trên, nước thải từ hoạt động nông
nghiệp có chứa hóa chất bảo vệ thực vật, hay thuốc trừ sâu, là thành phần độc
hại cho môi trường và sức khỏe con người. Đặc biệt, các khu vực này, đời
sống dân cư vẫn gắn với nguồn nước sông, dùng làm nước sinh hoạt hay sử
dụng để nuôi trồng thủy sản. Nước thải y tế được xem là nguồn thải độc hại
nếu không được xử lý trước khi thải ra môi trường. Do thành phần nước thải y
tế chứa nhiều hóa chất độc hại với nồng độ cao và chứa nhiều vi trùng, vi
khuẩn lây lan bệnh truyền nhiễm. Mức độ gia tăng lượng nước thải y tế năm
2011 so với năm 2000 là hơn 20%. Hầu hết các bệnh viện do Bộ Y tế quản lý
đã được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tuy nhiên, tại các bệnh
viện thuộc Sở y tế địa phương quản lý hay các bệnh viện thuộc ngành khác
quản lý, cũng như các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân nằm rải rác, phần lớn
chưa có hệ thống xử lý nước thải. Theo Cục Quản lý môi trường y tế thuộc Bộ
Y tế, năm 2011, nước ta có hơn 13.640 cơ sở y tế, khám chữa bệnh. Mỗi
ngày, các đơn vị này thải ra khoảng 120.000 m3 nước thải Y tế, trong khi đó,
chỉ có 53,4% trong tổng số bệnh viện có hệ thống xử lư nước thải y tế. Trong
đó, một số lượng lớn các chất độc hại trong nước thải y tế không thể xử lý
được bằng phương pháp xử lý nước thải thông thường.
(Quantracmoitruong.gov.vn)[10].

nhiễm chất rắn lơ lửng, suối Nghinh Tường – Sảng Mộc (huyện Võ Nhai)
cũng bị ô nhiễm chất rắn lơ lửng và ô nhiễm các yếu tố kim loại; suối Cốc
(thành phố Thái Nguyên) ngoài ô nhiễm chất rắn còn bị ô nhiễm dầu mỡ.
Tại khu vực mỏ than Khánh Hòa (Phú Lương), Núi Hồng (Đại Từ), mỏ
đá Tân Long, Quang Sơn (Đồng Hỷ), 20% số mẫu khí có hàm lượng bụi vượt
quy chuẩn. Ở các mỏ sắt Trại Cau (Đồng Hỷ), An Khánh (Đại Từ), mỏ than
Phấn Mễ (Phú Lương)…ngoài những tác động xấu đến môi trường còn gây ra
tình trạng sụt lún đất, mất nước, sạt lở bãi đổ thải, hư hỏng đường giao thông
do vận chuyển quá tải trọng, ô nhiễm bụi do rơi vãi đất đá, bùn thải xuống
đường trong quá trình vận chuyển.

Một số điểm mỏ, nhất là các điểm mỏ
vàng không quản lý tốt để xảy ra khai thác trái phép thường có tình trạng sử
dụng một số loại hóa chất độc hại, xả trực tiếp ra môi trường, vượt quá mức
cho phép(m.nguoiduatin.vn) [9].
Tại xã Ngọc Minh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang có 9 công ty khai
thác khoáng sản tại 9 điểm mỏ được ủy ban nhân dân tỉnh cấp phép. Trong đó
có 4 điểm mỏ đã được đầu tư xây dựng cơ bản và đi vào khai thác, chế biến
khoáng sản, gồm: Công ty TNHH Tường Phong khai thác mỏ Mangan Bản
Sám; Công ty Cổ phần Cao nguyên đá – mỏ Mangan Bản Sám 2; Công ty Cổ
phần Việt Bắc mỏ Mangan thôn Tân Bình; Công ty Cổ phần Thiên Hàm mỏ
Mangan thôn Tân Bình. Hiện còn 5 doanh nghiệp chưa hoàn thiện thủ tục để
được hoạt động tại đây. Hầu hết các công ty chưa thực hiện xử lý nguồn nước
thải, chất thải khiến ô nhiễm môi trường nước bùn thải làm ảnh hưởng đến đất
sản xuất, thay đổi dòng chảy các con suối gây tác hại không nhỏ đến sinh hoạt
và đời sống của người dân

15

Hình 2.2. Khai thác khoáng sản bừa bãi là nguyên nhân gây
17
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng nước thải của nhà máy Núi Pháo – Công ty TNHH khai
thác chế biến kháng sản Núi Pháo trên địa bàn xã Hà thượng – huyện Đại từ -
tỉnh Thái Nguyên.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Các vấn đề hiện trạng chất lượng môi trường nước thải tại Nhà máy
Núi Pháo – Công ty TNHH khai thác chế biến kháng sản Núi Pháo trên địa
bàn xã Hà Thượng – huyện Đại từ - tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

• Loại mẫu: Nước thải
• Phương pháp:
+ Vị trí lấy mẫu là: nước thải tại cống thải ra nguồn tiếp nhận
+ Thời gian lấy mẫu: vào 7h sang ngày 13/03/2014
+ Dụng cụ lấy mẫu: Sử dụng can nhựa và can thủy tinh sạch cổ hẹp, tối
màu, đảm bảo các tiêu chuẩn về lấy mẫu. Việc vệ sinh dụng cụ lấy mẫu là rất
cần thiết dảm bảo độ chính xác của kết quả. Can được rửa sạch không chứa
tạp chất. Trước khi lấy mẫu dùng nước ở ngay chỗ lấy mẫu để tráng dụng cu.
3.4.3. Phương pháp phân tích
3.4.3.1. Chỉ tiêu phân tích
- Phân tích các chỉ tiêu nước thải tại nhà máy Núi Pháo gồm một số chỉ
tiêu như: pH, As, Pb, Fe, Cu, Zn, F, Mn, COD, BOD
5.
- Các chỉ tiêu được phân tích tại phòng phân tích (Công ty TNHH SGS
Việt Nam) tại Núi Pháo.
Các chỉ số phân tích được so sánh với QCVN hiện hành.
3.4.3.2. Phương pháp phân tích
- Phương pháp thử
3.4.4. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
- Áp dụng phương pháp điều tra phỏng vấn bằng phiếu câu hỏi trên thực địa
- Tiến hành phỏng vấn trên địa bàn khu dân cư quanh nhà máy.

19
+ Phương pháp này giúp thu thập them những thông tin chưa có tài liệu
thống kê, hoặc lấy ý kiến từ cộng đồng. Tiến hŕnh phỏng vấn các hộ ở quanh
khu vực nhà máy với đối tượng không tham gia làm việc trong nhà máy.
- Phương pháp thực địa
+ Tiến hành quan trắc thực địa ở nhà máy Núi Pháo để thăm quan quy
trình sản xuất, ghi chép, chụp ảnh và thu thập thông tin cần thiết về làng nghề
từ đó đưa ra nhận xét đúng đắn về hiện trạng môi trường nghiên cứu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status