Thiết kế Baculovirus tái tổ hợp mang gen mã hóa protein M1 của virus cúm A H5N1 để tạo chủng sản xuất vaccine thế hệ mới bằng công nghệ virus like particle - Pdf 17


ĐẠI HỌC THÁI NGUN
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUN SINH VẬT Nguyễn Thị Phương THIẾT KẾ BACULOVIRUS TÁI TỔ HỢP MANG GEN MÃ HĨA
PROTEIN M1 CỦA VIRUS CÚM A/H5N1 ĐỂ TẠO CHỦNG SẢN
XUẤT VACCINE THẾ HỆ MỚI BẰNG CƠNG NGHỆ VIRUS-
LIKE PARTICLE LUẬN VĂN THẠC SĨ Hà Nội – 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
ĐẠI HỌC THÁI NGUN
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUN SINH VẬT Nguyễn Thị Phương THIẾT KẾ BACULOVIRUS TÁI TỔ HỢP MANG GEN MÃ

dạy tại Phòng đào tạo sau đại học, trường Đại học Thái Ngun – Viện Sinh
thái và Tài ngun Sinh vật đã giúp đỡ tơi rất nhiều trong q trình học tập.
Cuối cùng, tơi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và
động viên để tơi có thể hồn thành khóa học của mình.

Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2013
Học viên Nguyễn Thị Phương

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
MỤC LỤC
MỤC LỤC 4
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Khái qt về bệnh cúm gia cầm 3
1.1.1. Tình hình dịch bệnh trên thế giới 3
1.1.2. Tình hình dịch bệnh tại Việt Nam 4
1.1.3. Con đường lây nhiễm và triệu chứng bệnh 5
1.1.4. Chẩn đốn, phòng và điều trị bệnh do virus H5N1 7
1.2. Virus cúm A/H5N1 gây bệnh trên gia cầm 8
1.2.1. Đặc điểm cấu tạo 8
1.2.2. Cấu trúc hệ gen 9
1.2.3. Cơ chế gây bệnh của virus cúm A trong tế bào vật chủ 12
1.2.4. Các kháng ngun quan trọng của Virus cúm A/H5N1 14
1.3.1. Nguồn gốc, sự phát triển của vaccine 17
1.3.2. Vaccine VLP 20
1.3.2.1. Khái qt về VLP 20
3.2.2. Phương pháp tạo VLP 21

3.6. Kiểm tra sự biểu hiện của protein M1 ở tế bào Sf9 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
DANH SÁCH CÁC CƠNG TRÌNH CƠNG BỐ LIÊN QUAN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 65
LỜI CAM ĐOAN 68 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tên đầy đủ Nghĩa tiếng Việt
Amp Ampicillin Ampixilin
DNA Deoxyribonucleic acid Axit deoxyribonucleic
APS Amonium persulphate Amonium persunphat
ARN Ribonucleic Acid Axit ribonucleic
bp Base pair Cặp bazơ nitơ
BSA Bovine Serum Albumin Albumin huyết thanh bò
CPE Cytopathic effect Các tác động gây bệnh tế bào
CBB Comassie Brillant Blue Comassie Brillant Blue
dNTP 2’-deoxyribonucleoside 5’-
triphosphate
2’-deoxyribonucleozid 5’-
triphosphat
ĐC Lane Đường chạy
E.coli Escherichia coli Vi khuẩn Escherichia coli
EDTA Ethylen Diamin Tetraacetic
Acid
Axit ethylen diamin tetraaxetic
EtBr Ethidium Bromite Ethidium Bromit

Nguyễn Thị Phương – K15
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại dịch cúm gia cầm đã và đang là mối nguy hiểm đe dọa kinh tế
chăn ni và sức khỏe cộng đồng. Sự xuất hiện của chủng virus cúm độc lực
cao H5N1 tại Hồng Kơng vào năm 1997 và các biến chủng H5N1 khác trong
những năm gần đây cùng với sự lây lan nhanh chóng của chúng ở Đơng Nam
Á, châu Phi, Trung Đơng và châu Âu đã cảnh báo mối đe dạo của một đại
dịch cúm tồn cầu [30]. Điều đặc biệt nguy hiểm là các chủng virus cúm gia
cầm này đã biến đổi, dẫn đến tăng khả năng lây nhiễm sang người cũng như
độc lực của virus. Để ngăn chặn sự lan truyền của virus cúm và những thiệt
hại do virus cúm gây ra, biện pháp hiệu quả nhất hiện nay vẫn là tiêm chủng
vaccine [28] [10]. Theo thơng báo của Tổ chúc Y tế thế giới (WHO), nếu đại
dịch cúm xảy ra, số người mắc trên tồn cầu có thể lên tới 2 tỷ. Tuy nhiên,
cơng nghệ sản xuất vaccine hiện nay bằng ni cấy virus trên trứng gà có
phơi chỉ có thể tạo ra khoảng 300 triệu liều/năm, sẽ khơng thể đủ cung cấp
cho tồn thế giới. Chính vì vậy, việc phát triển các cơng nghệ mới để nhanh
chóng tạo ra các vaccine an tồn, hiệu quả cao đang rất được quan tâm. Cơng
nghệ tạo hạt giả virus (virus-like particle, VLP) hiện được xem là cơng nghệ
mới hứa hẹn bổ sung/thay thế các cơng nghệ truyền thống để tạo ra các
vaccine thế hệ mới với hiệu lực cao hơn, an tồn hơn [2], [13].
VLP hay hạt giả virus được tạo ra bởi các protein cấu trúc của virus.
Các protein này khi được đồng biểu hiện ở một hệ thống tái tổ hợp như tế bào
nấm men, tế bào động vật, tế bào thực vật hoặc tế bào cơn trùng…sẽ tự động
lắp ghép lại với nhau để hình thành lên các hạt có cấu trúc giống với cấu trúc
tự nhiên của virus. Vaccine VLP có độ an tồn cao do khơng chứa vật liệu di
truyền là DNA/RNA nên khơng có khả năng lây nhiễm, tuy nhiên lại tạo ra
đáp ứng miễn dịch mạnh [5]. Một ưu điểm quan trọng nữa của vaccine VLP
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Thị Phương – K15

ở virus cúm C là Hemagglutinin Esterase Fusion (HEF), và ở Thogotovirus là
Glycoprotein (GP).
Nhóm virus cúm A (Influenza A) có biên độ vật chủ rộng và được chia
thành nhiều phân type khác nhau dựa trên kháng ngun HA và NA có trên
bề mặt capsid của hạt virus [7], gồm có 16 phân type HA (từ H1 đến H6) và 9
phân type NA (từ N1 đến N9). Sự tái tổ hợp giữa các phân type HA và NA sẽ
tạo ra nhiều phân type khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh. Chủng
virus cúm H5N1 có độc lực cao (HPAI) là chủng có khả năng lây nhiễm và tỷ
lệ gây tử vong cao trên 50% số gia cầm bị nhiễm [10].
1.1.1. Tình hình dịch bệnh trên thế giới
Chủng virus cúm A/H5N1 cổ điển được phát hiện lần đầu tiên gây bệnh
dịch trên gà tại Scotland vào năm 1959. Từ đó cho đến nay, các tiểu phần H5
và N1 đã có thay đổi lớn xét về cấu trúc thành phần gen và kháng ngun
miễn dịch [14]. Sau gần 40 năm khơng phát hiện, cúm A/H5N1 xuất hiện tại
Quảng Đơng (1996) và Hồng Kơng (1997) với biến đổi di truyền khơng
những gây chết gia cầm mà còn thích ứng và gây chết trên người. Đặc biệt, từ
2003 đến nay, chủng virus H5N1 cơ bản về cấu trúc vẫn như trước đó, nhưng
xét về độc lực (tính gây bệnh), lồi vật chủ nhiễm bệnh, tính kháng ngun -
miễn dịch và mức độ truyền lây có nhiều nét đặc trưng hơn và khác với nhiều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Thị Phương – K15
4
biến chủng H5N1 trước đây [51], chúng chính là thủ phạm gây ra dịch cúm
trên gia cầm tại Hồng Kơng, Trung Quốc và lây lan sang hàng chục quốc gia
trên thế giới ở châu Á, châu Âu và châu Phi.
Những năm gần đây dịch cúm A/H5N1 vẫn hồnh hành ở nhiều nơi
trên thế giới gây thiệt hại về người và kinh tế, đặc biệt ở những nước nghèo
và nước đang phát triển như: Bangladesh, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ,
Indonesia, Iran, Israel, Nhật Bản, Mơng Cổ, Myanmar, Hàn Quốc, Hy Lạp,
và Việt Nam. Tính đến tháng 8/2012 theo số liệu thống kê của WHO, từ năm

Indonesia và Việt Nam, calde 2.3.4 tại Trung Quốc là chủng virus chưa có
vaccine phòng bệnh hiệu quả.
Tháng 1/2013 dịch cúm gia cầm xuất hiện tại hai hộ gia đình ở Tây
Ninh với tổng số gia cầm phải thiêu hủy là 3.438 con. Đến tháng 2-3/2013
dịch bệnh tiếp tục xuất hiện ở Khánh Hòa, Cà Mau và Bình Định khiến nhiều
gia cầm bị chết và thiêu hủy. Ngồi ra có một cháu bé đã tử vong do nhiễm
cúm virus cúm A/H5N1. Tháng 4/2013 virus cúm tiếp tục được phát hiện ở
chim yến một lồi động vật có giá trị kinh tế cao của Việt Nam. Tháng 7/2013
virus cúm tiếp tục tấn cơng chim cút ở Tiền Giang khiến 10 nghìn con chim
phải thiêu hủy. Như vậy, trong 7 tháng đầu năm 2013 tuy cúm gia cầm khơng
bùng phát thành đại dịch lớn nhưng nó vẫn diễn ra ở một số tỉnh thành phía
Nam và gây thiệt hại kinh tế khơng nhỏ cho các hộ chăn ni [53].
1.1.3. Con đường lây nhiễm và triệu chứng bệnh
Các vật chủ tự nhiên của virus cúm A là các lồi chim hoang dã (vịt
trời) và gia cầm (vịt, gà, ngan, ngỗng ), chúng thường khơng bị gây bệnh
hoặc chỉ nhiễm bệnh nhẹ bởi virus cúm A. Một số biến thể cường độc (H5,
H7) đã xuất hiện gần đây do tái tổ hợp nhiều gen khác nhau có thể gây dịch
cúm nguy hiểm làm chết hàng loạt ở chim và gia cầm [23]. Tuy nhiên, virus
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Thị Phương – K15
6
cúm A đặc biệt là chủng virus A/H5N1 hiện đang lưu hành có thể xâm nhiễm
gây bệnh ở các lồi động vật có vú khác như hổ, mèo, ngựa, lợn và người.
Khi gia cầm nhiễm virus cúm, virus được nhân lên trong đường hơ hấp và
đường tiêu hóa. Sự lây truyền bệnh được thực hiện theo hai phương thức [1]
[39].
+ Lây trực tiếp: do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh.
+ Lây gián tiếp: qua các hạt khí dung trong khơng khí với khoảng cách
gần hoặc những dụng cụ chăn ni, phân, thức ăn, nước uống quần áo, giầy
dép, phương tiện vận chuyển, lồng nhốt, chim, thú, cơn trùng có mang mầm

nhiễm và lây lan của dịch cúm. Trên thế giới có nhiều quốc gia tham gia vào
việc nghiên cứu sản xuất vaccine phòng cúm, chủ yếu tập trung ở những nước
phát triển như: Mỹ, Pháp, Đức, Hà Lan, …. Với mỗi loại vaccine, u cầu cơ
bản là phải có tính miễn dịch bảo hộ, tính kháng ngun, tính đặc hiệu và tính
khơng độc. Việt Nam đang trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm vaccine
phòng chống cúm A/H5N1. Các vaccine ngừa bệnh cúm mùa trước đây
khơng có hiệu quả đối với cúm A /H5N1 mới. Các vaccine phòng bệnh hiện
nay dựa trên cơ sở hai loại chính: vaccine truyền thống và vaccine thế hệ mới.
Mỗi khi dịch cúm bùng phát, các quốc gia thường có những biện pháp
kiểm sốt vệ sinh như đeo khẩu trang, rửa tay bằng xà phòng đặc biệt là sau
khi ho, hắt hơi. Virus cúm A/H5N1 có sức đề kháng yếu, dễ bị bất hoạt bởi
bức xạ mặt trời, tia cực tím và các chất tẩy rửa thơng thường (xà phòng, chất
tẩy natri hypochlorite 0,05%, Ethanol 70 %). Đồng thời tiến hành tiêu hủy
gia súc bị nhiễm bệnh hoặc nghi là bị nhiễm tại khu vực có dịch. Tuy nhiên,
việc làm này là chưa đủ để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, đặc biệt là
những khu đơng dân cư và có mật độ động vật ni cao vì virus cúm A/H5N1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Thị Phương – K15
8
có thể tồn tại hàng giờ ở bên ngồi, đặc biệt khi thời tiết lạnh. Trên thực tế,
thế giới đã sử dụng phổ biến một số loại thuốc dùng trong điều trị cúm A như:
+ Amantadine và Rimantadine - loại thuốc cản trở sự hoạt động của
kênh ion M2. Dẫn tới ức chế q trình cởi bỏ lớp vở ngồi của virus và vRNP
khơng được đưa vào nhân cài xen vào gemone của tế bào chủ.
+ Leptomycine B- loại thuốc ngăn cản sự vận chuyển vRNP ra khỏi
nhân tế bào.
+ Zanamivir ( Relenza) và Tamiflu (Oseltmavir)- thuốc này có cấu hình
khơng gian tương tự như NA. Do vậy, chúng ngăn cản sự liên kết của NA với
các thụ thể sialic acid, cản trở q trình giải phóng virus, ức chế sự lan nhiễm
virus.

tuy nhiên sự phân bố của chúng khơng đồng đều (tỉ lệ khoảng 1NA/4HA) [25]
[45], protein M2 nằm xun qua màng lipid kép và hoạt động như kênh vận
chuyển ion. Xen giữa hạt virus và vỏ là lớp protein nền M1 (matrix).
1.2.2. Cấu trúc hệ gen
Hệ gen virus cúm A có vật chất di truyền là RNA sợi đơn âm (-) ssRNA,
bao gồm 8 phân đoạn gen riêng biệt mã hóa cho 11 protein khác nhau của
virus gồm: HA, NA, M (M1 và M2), NP, NS (NS1 và NS2), PA, PB1, PB1-
F2 và PB2 [25] [35]. Mỗi phân đoạn RNA của virus cúm A có cấu trúc xoắn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Thị Phương – K15
10
bậc 2 α đối xứng dài 50 - 100 nm, đường kính 9 - 10 nm, được bao bọc bởi
nucleoprotein (NP) – có bản chất là lipoprotein để tạo thành cấu trúc
ribonucleoprotein (RNP). Mỗi RNP kết hợp với 3 protein enzyme polymerase
(PA, PB1 và PB2) chịu trách nhiệm trong q trình phiên mã và sao chép
RNA của virus. Các phân đoạn của hệ gen virus cúm A nối với nhau bằng các
cầu nối peptid tạo nên vòm (loop) tại giới hạn cuối của mỗi phân đoạn, và tạo
thành một sợi RNA duy nhất có tổng độ dài từ 10.000 - 15.000 bp (tuỳ theo
từng chủng virus cúm A), chứa đựng khoảng 13,5 kb thơng tin di truyền và có
cấu trúc xoắn α (α-helix) bên trong vỏ virus (hình 1.1). Hai đầu 5’- và 3’- sợi
RNA hệ gen virus có gắn thêm chuỗi nucleotide có tính bảo tồn cao giữa các
phân type là: 5’-AGUAGAACAAGG… và 3’- UCG(U/C)UUUCGU CC [12]
[47] [38].
- Phân đoạn 1 (gen PB2) có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp
protein enzyme PB2, là tiểu đơn vị thành phần trong phức hợp enzyme
polymerase của virus, chịu trách nhiệm khởi đầu phiên mã RNA virus.
Protein PB2 có khối lượng phân tử theo tính tốn khoảng 84 kDa có vai trò
thích nghi nhiệt độ cơ thể lồi vật chủ của virus cúm A/H5N1.
- Phân đoạn 2 (gen PB1) cũng có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp
enzyme PB1 - tiểu đơn vị xúc tác của phức hợp enzyme polymerase trong q

- Phân đoạn 6 (gen NA) là một gen kháng ngun của virus, có chiều
dài thay đổi theo từng chủng virus cúm A (ở A/H6N2 là 1413 bp, ở A/H5N1
thay đổi khoảng từ 1350 - 1410 bp). Đây là gen mã hóa tổng hợp protein NA,
kháng ngun bề mặt capsid của virus, có khối lượng phân tử khoảng 50 kDa.
Các nghiên cứu phân tử gen NA của virus cúm cho thấy phần đầu 5’- của gen
này (hay phần tận cùng N của polypeptide NA) có tính biến đổi cao và phức
tạp giữa các chủng virus cúm A, sự thay đổi này liên quan đến q trình thích
ứng và gây bệnh của virus cúm trên nhiều đối tượng vật chủ khác nhau.
- Phân đoạn 7 (gen M) có kích thước khoảng 1027 bp, mã hóa cho
protein M (matrix protein - M) của virus (gồm hai tiểu phần là M1 và M2
được tạo ra bởi những khung đọc mở khác nhau của cùng một phân đoạn
RNA), cùng với HA và NA có khoảng 3000 phân tử MP trên bề mặt capsid
của virus cúm A, có mối quan hệ tương tác bề mặt với hemagglutinin. Protein
M1 là một protein nền, là thành phần chính của virus có chức năng bao bọc
RNA tạo nên phức hợp RNP và tham gia vào q trình “nảy chồi” của virus.
Protein M2 là chuỗi polypeptide bé, có khối lượng phân tử khoảng 11 kDa, là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Thị Phương – K15
12
protein chuyển màng - kênh ion (ion channel) cần thiết cho khả năng lây
nhiễm của virus, chịu trách nhiệm “cởi áo” virus trình diện hệ gen ở bào
tương tế bào chủ trong q trình xâm nhiễm trên vật chủ.
- Phân đoạn 8 (gen NS) là gen mã hóa protein khơng cấu trúc (non
structural protein), kích thước khoảng 890 bp, mã hóa tổng hợp hai protein là
NS1 và NS2 (còn gọi là NEP, nuclear export protein). Độc tính của virus có
sự liên quan với gen khơng cấu trúc (non-structural gene) đã được tìm thấy ở
biến chủng A/H5N1/97, trong tự nhiên, việc đột biến xóa đi một phần gen có
liên quan đến giảm độc lực. NS1 có khối lượng phân tử là 27 kDa, chịu trách
nhiệm vận chuyển RNA thơng tin của virus từ nhân ra bào tương tế bào
nhiễm và tác động lên các RNA vận chuyển cũng như các q trình cắt và


Hình1. 2. Chu trình nhân lên của virus cúm A/H5N1 trong tế bào vật chủ
Sau khi được giải phóng vào trong bào tương tế bào nhiễm, hệ gen của
virus sử dụng bộ máy sinh học của tế bào tổng hợp các protein của virus và
các RNA vận chuyển phụ thuộc RNA (RNA-dependent RNA transcription).
Phức hợp protein – RNA của virus được vận chuyển vào trong nhân tế bào
[4].
- Trong nhân tế bào các RNA hệ gen của virus tổng hợp nên các sợi
dương từ khn là sợi âm của hệ gen virus, từ các sợi dương này chúng tổng
hợp nên RNA hệ gen của virus mới nhờ RNA-polymerase. Các sợi này khơng
được Adenine hóa (gắn thêm các Adenine - gắn mũ) ở đầu 5’- và 3’-, chúng
kết hợp với nucleoprotein (NP) tạo thành phức hợp ribonucleoprotein (RNP)
hồn chỉnh và được vận chuyển ra bào tương tế bào. Đồng thời, các RNA
thơng tin của virus cũng sao chép nhờ hệ thống enzyme ở từng phân đoạn gen
của virus, và được enzyme PB2 gắn thêm 10 - 12 nucleotide Adenin ở đầu 5’,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Thị Phương – K15
14
sau đó được vận chuyển ra bào tương và dịch mã tại lưới nội bào có hạt để
tổng hợp nên các protein của virus (Hình 1.2).
- Các phân tử NA và HA của virus sau khi tổng hợp được vận chuyển
gắn lên mặt ngồi của màng tế bào nhiễm nhờ bộ máy Golgi, gọi là hiện
tượng “nảy chồi” của virus. NP sau khi tổng hợp được vận chuyển trở lại
nhân tế bào để kết hợp với RNA thành RNP của virus. Sau cùng các RNP của
virus được hợp nhất với vùng “nảy chồi”, tạo thành các “chồi” virus gắn chặt
vào màng tế bào chủ bởi liên kết giữa HA với thụ thể chứa sialic acid. Các
NA phân cắt các liên kết này và giải phóng các hạt virus trưởng thành tiếp tục
xâm nhiễm các tế bào khác [26].
1.2.4. Các kháng ngun quan trọng của Virus cúm A/H5N1
2.4.1. Kháng ngun bề mặt HA

nhiễm dễ dàng của virus ở các lồi vật chủ khác nhau. Protein HA là kháng
ngun bề mặt quan trọng của virus cúm A, kích thích cơ thể sinh ra đáp ứng
miễn dịch dịch thể đặc hiệu với từng type HA, và tham gia vào phản ứng
trung hòa virus, được coi là protein vừa quyết định tính kháng ngun, vừa
quyết định độc lực của virus, là đích của bảo vệ miễn dịch học nhằm ngăn
chặn sự xâm nhiễm của virus ở cơ thể nhiễm, cơ sở điều chế các vaccine
phòng cúm hiện nay [18] [14].
2.4.2. Kháng ngun bề mặt NA (neuraminidase)
Protein neurominidase còn gọi là sialidase là một protein enzyme có
bản chất là glycoprotein được gắn trên bề mặt capsid của virus cúm A, mang
tính kháng ngun đặc trưng theo từng phân type NA [3]. Có 9 phân type (từ
N1 đến N9) được phát hiện chủ yếu ở virus cúm gia cầm, hai phân type N1 và
N2 được tìm thấy ở virus cúm người liên quan đến các đại dịch cúm trong lịch
sử [49]. Trên bề mặt capsid của hạt virus có khoảng 100 phân tử NA xen giữa
các phân tử HA và phân tử có dạng nút lồi hình nấm, đầu tự do (chứa vùng
hoạt động) gồm 4 dưới đơn vị giống như hình cầu nằm trên cùng một mặt
phẳng, và phần kị nước gắn vào lớp vỏ capsid.
Protein NA có vai trò là một enzyme cắt đứt liên kết giữa gốc sialic
acid của màng tế bào nhiễm với phân tử cacbonhydrate của protein HA, giải
phóng hạt virus ra khỏi màng tế bào nhiễm, đẩy nhanh sự lây nhiễm của virus
trong cơ thể vật chủ, và ngăn cản sự tập hợp của các hạt virus mới trên màng
tế bào. NA tham gia vào phân cắt liên kết này trong giai đoạn “hòa màng”,
đẩy nhanh q trình cởi áo “uncoating” giải phóng hệ gen của virus vào trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Thị Phương – K15
16
bào tương tế bào nhiễm, giúp cho q trình nhân lên của virus diễn ra nhanh
hơn. Ngồi ra, NA còn phân cắt các liên kết glycoside, giải phóng neuraminic
acid làm tan lỗng màng nhầy bề mặt biểu mơ đường hơ hấp, tạo điều kiện
cho virus nhanh chóng tiếp cận tế bào biểu mơ và thốt khỏi các chất ức chế

trí amino acid 101 tới 105).
ii, Điều hồ sao chép vRNP; vRNP chỉ được sao chép khi tách khỏi
M1.
iii, Tương tác với protein vỏ của virus: HA, NA, M2 trong q trình
nảy chồi.
iv, Huy động các thành phần của virus tới vị trí lắp ráp và khởi đầu nảy
chồi. M1 là yếu tố trung tâm trong việc lắp ráp các thành phần của virus. Phân
tử M1 liên kết với vRNP, màng tế bào qua các đi hướng tế bào chất của cả
hai glycoprotein bề mặt HA và NA, các phân tử M1 khác thì tạo thành một
lớp dưới lớp vỏ bọc của virus. Liên kết của M1 với màng dựa vào sự tổ hợp
của cả hai tương tác tĩnh điện và kị nước cũng như sự tương tác của protein
đặc hiệu với protein vỏ.
v, Huy động các thành phần tế bào chủ cho việc hồn thành nảy chổi và
giải phóng virus.
vi, Tỉ lệ M1/NP của phân tử virus ảnh hưởng đến hình thái của virion
và sự lan truyền của virus khi được giải phóng.
1.3. Vaccine phòng chống cúm
1.3.1. Nguồn gốc, sự phát triển của vaccine
Vaccine là chế phẩm có tính kháng ngun dùng để tạo miễn dịch đặc
hiệu chủ động, nhằm tăng sức đề kháng của cơ thể đối với một hoặc một số
tác nhân gây bệnh cụ thể [54]. Các nghiên cứu mới còn mở ra hướng dùng
vaccine để điều trị một số bệnh (vaccine liệu pháp, một hướng trong các miễn
dịch liệu pháp). Thuật ngữ vaccine xuất phát từ vaccinia, loại virus gây bệnh
đậu bò nhưng khi đem chủng tiêm cho người lại giúp ngừa được bệnh đậu
mùa (tiếng Latinh vacca nghĩa là "con bò cái").
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu /> Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Thị Phương – K15
18
Vaccine đầu tiên gắn với tên tuổi của Edward Jenner, một bác sĩ người
Anh [50]. Năm 1796, châu Âu đang có dịch đậu mùa, Jenner đã thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status