Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu rau quả của Tổng công ty rau quả, nông sản - Pdf 17

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Cạnh tranh là một xu thế tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường, là
nhân tố thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường. Trong điều kiện toàn cầu hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, cạnh tranh không chỉ giới hạn trong phạm vi
quốc gia mà còn vươn ra ngoài thành
cạnh tranh quốc tế, gay gắt và dữ dội
hơn nhiều. Vì vậy cạnh tranh trở thành
mối quan tâm hàng đầu, là nhân tố quan
trọng thúc đẩy sự tồn tại và phát triển
của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một tế bào của
nền kinh tế quốc dân, do đó việc thành
công của quá trình này lại chủ yếu phụ
thuộc vào năng lực cạnh tranh (NLCT)
của các doanh nghiệp. Hiện nay, NLCT
của các doanh nghiệp Việt Nam đang ở mức thấp, xét trên tất cả các tiêu chí như: qui
mô kinh doanh nhỏ bé, vốn ít, công nghệ lạc hậu, năng suất thấp, kinh nghiệm quản
lý chưa cao…Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO được hơn
một năm, bên cạnh những kết quả đạt được đáng khích lệ thì các doanh nghiệp Việt
Nam cũng vấp phải không ít khó khăn và thách thức. Vì vậy để tồn tại và phát triển
tốt hơn các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tìm cách nâng cao NLCT của chính
mình, đây là phương cách hữu hiệu nhất đối với các doanh nghiệp hiện nay.
Tổng công ty rau quả, nông sản là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong
lĩnh vực sản xuất và kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp cũng không nằm ngoài xu
hướng biến động trên. Bước vào xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trước khi Việt Nam
gia nhập WTO, Tổng công ty cũng đã có kế hoạch và sự chuẩn bị để thích ứng với sự
biến đổi của môi trường kinh doanh sau khi gia nhập WTO. Thực tế đã chứng minh
sau hơn một năm gia nhập WTO hoạt động kinh doanh của Tổng công ty đã đạt được



Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Kết hợp giữa logic, lịch sử, phân tích và tổng hợp
- SWOT: phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức
- Kế thừa những nghiên cứu đã có cũng như khảo sát thực nghiệm thu thập
thông tin, tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu làm sáng tỏ chủ đề.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Lý luận chung về xuất khẩu và NLCT của doanh nghiệp nông nghiệp
Chương 2: Thực trạng NLCT trong xuất khẩu rau quả của Tổng công ty rau quả,
nông sản
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao NLCT trong xuất khẩu rau quả của Tổng công
ty rau quả, nông sản
Với kiến thức và trình độ còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót, em
rất mong nhận được sự giúp đỡ đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn đọc để luận văn
tốt nghiệp được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Phạm Văn Khôi, cùng toàn thể
các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các cán bộ
thuộc Tổng công ty rau quả, nông sản đã tạo điều kiện hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn
thành luận văn tốt nghiệp của mình.
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Huyền
CHƯƠNG I

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VÀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN
1.1.1. Xuất khẩu nông sản và vai trò của xuất khẩu nông sản

triển nông nghiệp nhưng lại có quốc gia không đủ điều kiện để phát triển nông
nghiệp. Do đó nảy sinh nhu cầu trao đổi nông sản giữa các quốc gia với nhau. Nước
ta được thiên nhiên rất ưu đãi để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, sản phẩm
phong phú, bên cạnh đó nguồn nhân lực dồi dào và giàu kinh nghiệm… do đó xuất
khẩu nông sản giúp nước ta tận dụng, khai thác được tối đa những nguồn lực sẵn có
để tạo ra được những sản phẩm có lợi thế so sánh cao.
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn ngoại tệ chủ yếu cho nhập khẩu
Nguồn vốn ngoại tệ có thể thu được từ các nguồn sau: xuất khẩu, đầu tư nước
ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch... nhưng xuất khẩu là nguồn vốn
quan trọng nhất để nhập khẩu. Các loại nông sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế
hơn so với các hàng hóa nông nghiệp. Vì thế xuất khẩu nông sản là giải pháp quan
trọng tạo nguồn ngoại tệ cho sự phát triển đất nước. Đặc biệt đối với những nước
đang phát triển rất cần ngoại tệ để trang bị máy móc thiết bị hiện đại được nhập từ
các nước phát triển về.
- Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển
Xuất khẩu cũng có nghĩa là bán hàng ra nước ngoài, xuất khẩu nông sản là bán
hàng nông sản ra nước ngoài. Điều đó cũng có nghĩa muốn bán được nhiều hàng thì
việc sản xuất hàng hóa nông sản phải theo nhu cầu của thị trường, của người tiêu
dùng. Hàng hóa sản xuất ra phải có tính cạnh tranh cao, chất lượng tốt, giá thành cạnh
tranh, mẫu mã sản phẩm đa dạng, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn
thực phẩm. Do đó khi hoạt động xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu hàng
nông sản nói riêng phát triển thì nó có tác động ngược trở lại đến sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

Website: Email : Tel : 0918.775.368
thị trường, hiện đại, chuyển từ sản xuất tự túc tự cấp sang sản xuất hàng hóa đáp ứng
nhu cầu thị trường.
- Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết các vấn đề công ăn việc làm
và cải thiện đời sống nhân dân, đặc biệt là ở nông thôn

nhuận chênh lệch từ giá mua đi với giá bán lại.
- Hình thức chuyển khẩu: Là hàng hóa được chuyển từ một nước sang một nước
thứ ba thông qua một nước khác.
- Hình thức xuất khẩu tại chỗ: Là hành vi bán hàng hóa cho người nước ngoài
trên phạm vi lãnh thổ của quốc gia mình. Hình thức này tiết kiệm được chi phí vận
chuyển nên lợi nhuận có thể lớn.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu
1.1.3.1. Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài
* Các yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động xuất
khẩu. Muốn xuất khẩu được thì phải có người tiêu dùng, cụ thể là nhu cầu và sức
mua của người tiêu dùng. Mà sức mua lại ảnh hưởng bởi các thông số kinh tế như thu
nhập, chi phí sinh hoạt, lãi suất, giá cả sản xuất… Một số yếu tố cơ bản để phản ánh
kích thước của thị trường tiềm năng đó là quy mô, cơ cấu và xu hướng phát triển của
dân số, xu hướng tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng GDP so với tốc độ tăng dân số để dự
đoán khả năng mở rộng thị trường của quốc gia đó.
*Các yếu tố tự nhiên
Đối với hoạt động sản xuất và kinh doanh sản phẩm nông nghiệp thì yếu tố tự
nhiên được coi là yếu tố quyết định đến việc phát triển hay không của lĩnh vực nông
nghiệp bởi nó quyết định đến số lượng, chất lượng, đến tính kịp thời của nông sản
hàng hóa… Điều này đặc biệt đúng với nền nông nghiệp của Việt Nam, bởi điều kiện
sản xuất kém, khoa học công nghệ hiện đại chậm được ứng dụng hoặc đã được ứng
dụng nhưng rất hạn chế, do đó việc sản xuất vẫn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên rất

Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhiều. Vì vậy nó ảnh hưởng lớn đến việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản của doanh
nghiệp.
*Môi trường văn hóa - xã hội
Môi trường văn hóa - xã hội là môi trường hình thành nên các giá trị, những tiêu
chuẩn, các niềm tin cơ bản, mỗi một môi trường văn hóa – xã hội khác nhau sẽ có các

doanh của doanh nghiệp.
- Con người: Là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh
nghiệp không có yếu tố này thì không tồn tại doanh nghiệp.
- Công nghệ: Là yếu tố trực tiếp nâng cao chất lượng và cải tiến mẫu mã sản
phẩm, tạo ra sức cạnh tranh của sản phẩm.
- Mô hình và trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp cũng là một trong
những yếu tố góp phần quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Ngoài các yếu tố trên còn có rất nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến hoạt động
một doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng như: nguồn hàng,
mức độ tin cậy của nguồn cung cấp, sự cạnh tranh về giá, sự am hiểu về thị trường và
khách hàng…
Các yếu tố trên có ảnh hưởng quyết định đến khả năng khai thác và tận dụng lợi
thế từ thị trường. Nếu phát huy tốt tiềm năng của doanh nghiệp sẽ cho phép tận dụng
tối đa thời cơ với chi phí thấp để mang lại hiệu quả trong kinh doanh.
1.1.4. Nội dung của hoạt động xuất khẩu
* Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là xem xét khả năng xâm nhập và mở rộng thị truờng, là
nghiên cứu về sức cung và cầu của thị trường hàng hóa nói. Việc nghiên cứu thị
trường được thực hiện theo hai bước: nghiên cứu khái quát và nghiên cứu chi tiết, tức
là đi sâu nghiên cứu cung cầu thị trường.
Nghiên cứu cung: Là nghiên cứu về khối lượng, chất lượng, chủng loại, giá cả
của hàng hóa đã đang bán trên thị trường của chính mình và của các đối thủ cạnh
tranh.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nghiên cứu cầu: Là nghiên cứu về nhu cầu tiêu dùng của thị trường, để trả lời
các câu hỏi: người tiêu dùng hàng hóa của mình là ai, chất lượng và yêu cầu của
người tiêu dùng về sản phẩm, khả năng thanh toán, quy mô của thị trường, đặc tính
của thị trường, lý do mua hàng, nhịp điệu mua hàng, ai đó có khả năng trở thành
người tiêu dùng hàng hoá của công ty, sản phẩm của công ty có kéo dài được chu kì

Ký kết hợp đồng xuất khẩu: Về thực chất, hợp đồng xuất khẩu là những thỏa
thuận và các điều kiện mua bán hàng hóa, khối lượng hàng, chất lượng hàng hóa, giá
cả, điều kiện giao nhận, các điều khoản thanh toán… Giữa doanh nghiệp tham gia
xuất khẩu và các doanh nghiệp, khách hàng cụ thể. Những thỏa thuận này được thể
hiện trong các văn bản hợp đồng nhất định. Về mặt pháp lý, hợp đồng xuất khẩu là
căn cứ pháp luật ràng buộc, buộc các bên phải thực hiện các nghĩa vụ của mình cũng
như được hưởng các quyền lợi nhất định. Chính vì vậy, khi ký kết hợp đồng xuất
khẩu, doanh nghiệp phải xem xét lại các khoản thỏa thuận trước khi ký kết hợp đồng
xuất khẩu.
Trước khi ký kết hợp đồng cần chú ý đến các khía cạnh: Tính hợp pháp của
hợp đồng xuất khẩu; phải chú ý đến các nội dung, các điều khoản của hợp đồng vì
điều này là quan trọng nhất đối với một hợp đồng.
* Thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Sau khi ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng hóa với khách hàng, mỗi một doanh
nghiệp phải xác định rõ trách nhiệm, nội dung và trình tự công việc phải làm cố gắng
không để xảy ra những sai sót, những thiệt hại đáng tiếc, hạn chế tối đa những rủi ro
có thể xảy ra.
* Phân tích đánh giá hoạt động xuất khẩu
Việc phân tích đánh giá hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp là hết sức
quan trọng và cần thiết. Nó cho phép doanh nghiệp xác định được hiệu quả thực hiện
của mỗi hợp đồng xuất khẩu cũng như mỗi giai đoạn hoạt động xuất khẩu của doanh
nghiệp. Nhờ cách đánh giá đó doanh nghiệp sẽ có những biện pháp ứng xử phù hợp
với việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩu tiếp theo. Để đánh giá hiệu quả hoạt động
xuất khẩu doanh nghiệp sử dụng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xuất khẩu cả về mặt
địmh tính và mặt định lượng.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP NÔNG NGHIỆP
1.2.1. Cạnh tranh

môi trường cạnh tranh (thị trường cạnh tranh).
* Chức năng của cạnh tranh:
Cạnh tranh có thể đưa đến lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác,
song xét dưới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực. Đối với nền
kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một số chức năng quan trọng sau:
+ Cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh cung-cầu và là động lực thúc đẩy đổi mới:
Khi cung hàng hóa nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người bán làm
cho giá cả thị trường giảm xuống, chỉ những cơ sở kinh doanh có đủ khả năng công
nghệ, trang bị kỹ thuật, phương thức quản lý và hạ được giá bán mới tồn tại. Do vậy
cạnh tranh là nhân tố quan trọng kích thích việc ứng dụng khoa học công nghệ tiên
tiến trong sản xuất.
Khi cung một hàng hóa nào đó thấp hơn cầu, hàng hóa đó trở nên khan hiếm
trên thị trường, giá cả tăng lên tạo ra lợi nhuận cao hơn mức bình quân. Khi đó người
kinh doanh sẽ đầu tư vốn xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặc nâng cao năng lực
sản xuất của những cơ sở sản xuất sẵn có. Đó là động lực làm tăng thêm lượng vốn
đầu tư cho sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất trong toàn xã hội.
+ Hướng việc sử dụng các nhân tố sản xuất vào những nơi hiệu quả nhất :
Mục đích của cạnh tranh trên thị trường của các chủ thể kinh tế là giành lợi thế
để hạ thấp giá các yếu tố “đầu vào” và nâng cao giá của “đầu ra” sao cho mức chi phí
thấp nhất, giành được lợi nhuận cao nhất. Như vậy trên phương diện toàn xã hội cạnh
tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành
động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trong cạnh tranh tất yếu sẽ có
doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh nhờ làm ăn hiệu quả, đồng thời có doanh nghiệp
bị phá sản do làm ăn không hiệu quả. Đối với xã hội, phá sản doanh nghiệp không
hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực vì các nguồn lực của xã hội được chuyển sang nhà
kinh doanh khác tiếp tục sử dụng một cách hiệu quả hơn.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Tạo môi trường thuận lợi để sản xuất thích ứng với sự biến động của cầu và
công nghệ sản xuất

Ngày nay các doanh nghiệp thường có một cơ cấu sản phẩm rất đa dạng, phong
phú để đáp ứng tốt nhất cho những nhu cầu khác nhau của những người tiêu dùng
khác nhau. Với mỗi sản phẩm khác nhau, mỗi nhóm khách hàng khác nhau thì sẽ có
tương ứng các hình thức và các kênh phân phối tương ứng. Việc định được kênh
phân phối chủ lực có ý nghĩa quyết định trong việc tối thiểu hóa chi phí dành cho tiêu
thụ sản phẩm.
Doanh nghiệp cần có hệ thống bán hàng phong phú, đặc biệt là hệ thống các
kho bãi, các trung tâm bán hàng và giới thiệu sản phẩm để cung cấp tốt nhất hàng hóa
đến tay người tiêu dùng. Bên cạnh đó cần phải có các dịch vụ bán hàng và sau bán
hàng hợp lý, hiệu quả hỗ trợ tốt nhất cho việc bán hàng, đồng thời cần kết hợp hợp lý
giữa phương thức bán hàng và phương thức thanh toán.
1.2.2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nông nghiệp
Trong cạnh tranh nảy sinh ra kẻ có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả
năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có khả
năng cạnh tranh yếu. Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh
tranh.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực cạnh tranh (NLCT) song khi nói đến
thường nhìn nhận dưới 4 cấp độ: NLCT quốc gia, NLCT của ngành, NLCT của
doanh nghiệp, NLCT của sản phẩm.
Khi nói đến NLCT của một quốc gia, người ta thường nói tới khả năng cải thiện
thu nhập, tạo việc làm cho dân cư hoặc khả năng tăng năng suất tổng hợp các yếu tố
của nền kinh tế quốc dân… thông qua các chỉ số lợi thế so sánh hữu hiệu, chi phí
nguồn lực trong nước, tỷ giá hối đoái hữu hiệu…
NLCT sản phẩm được nhận biết qua lợi thế cạnh tranh của sản phẩm đó với
các sản phẩm khác cùng loại. Một sản phẩm mà có chi phí trên một đơn vị thấp hơn,
sản phẩm có chất lượng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh sản xuất sản phẩm đó thì
doanh nghiệp đã tạo ra sản phẩm có NLCT. Lợi thế của sản phẩm bao gồm các yếu tố

Website: Email : Tel : 0918.775.368
bên trong và các yếu tố bên ngoài tác động đến. Đó là giá cả, chất lượng, hình thức,

nông nghiệp do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu, là
pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật, thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do
nhà nước giao. Do nông nghiệp có những đặc điểm đặc thù rất khác biệt so với những
ngành khác nên khi xét đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nông nghiệp cần
phải xét đến yếu tố này.
1.2.3. Mối quan hệ giữa NLCT của sản phẩm và NLCT của doanh nghiệp
Nói tới khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế của một quốc gia phải xem xét
trên 4 mặt: khả năng cạnh tranh của từng ngành, từng mặt hàng và loại hình dịch vụ,
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh của cả quốc gia. Giữa
các mặt trên gắn bó mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó NLCT
của doanh nghiệp và NLCT của sản phẩm có liên quan chặt chẽ với nhau nhất.
NLCT của sản phẩm thể hiện năng lực của sản phẩm đó thay thế một sản phẩm
khác đồng nhất hoặc khác biệt, có thể do đặc tính, chất lượng sản phẩm hoặc giá cả
sản phẩm. NLCT của doanh nghiệp là khả năng vượt qua các đối thủ cạnh tranh để
duy trì và phát triển chính bản thân họ. Thông thường người ta đánh giá khả năng này
thông qua các yếu tố nội tại của doanh nghiệp, trong đó các vấn đề về sản phẩm là
những vấn đề có tính chất quyết định đến NLCT của doanh nghiệp. Do vậy, nâng cao
NLCT của sản phẩm vừa là một trong những bộ phận cấu thành, vừa là một trong
những mục tiêu của nâng cao NLCT của doanh nghiệp.
Mặc dù thường phân biệt NLCT của sản phẩm và NLCT của doanh nghiệp,
nhưng nếu trên cùng một thị trường, có thể nói NLCT của sản phẩm và NLCT của
doanh nghiệp rất gần với nhau. Khi nói với NLCT của doanh nghiệp người ta thường
gắn nó với một số sản phẩm nhất định nào đó.
1.2.4. Các yếu tố cấu thành NLCT của doanh nghiệp
NLCT của doanh nghiệp được cấu thành bởi nhiều yếu tố như: Vốn, trình độ
công nghệ sản xuất, trình độ tổ chức quản lý, chất lượng nguồn nhân lực… Các yếu
tố trên có mối quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra năng lực cạnh
tranh cao nhất cho sản phẩm.
1.2.4.1. Trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp



Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Nguồn tài chính:
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, lao
động… phát sinh trong quá trình kinh doanh dưới hình thức giá trị. Hoạt động sản
xuất kinh doanh ảnh hưởng đến tình hình tài chính, ngược lại tình hình tài chính tốt
hay xấu sẽ có tác động thúc đẩy hay cản trở quá trình sản xuất kinh doanh.
Trước hết năng lực tài chính của một doanh nghiệp được thể hiện ở qui mô
nguồn vốn tự có, năng lực huy động các nguồn vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh
và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó. Một doanh nghiệp có NLCT là doanh nghiệp
có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trong những điều kiện cần
thiết, có nguồn vốn huy động hợp lý. Đồng thời doanh nghiệp phải có kế hoạch sử
dụng đồng vốn có hiệu quả để phát triển lợi nhuận, phải hạch toán các chi phí một
cách rõ ràng để xác định được hiệu quả một cách chính xác.
- Nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực là nhân tố cơ bản và đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh. Trình độ của nguồn nhân lực
thể hiện ở trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo, trình độ lành nghề của nhân viên,
công nhân; trình độ nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao.
Để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp cần có ban lãnh đạo giỏi. Song
như thế chưa đủ, mà còn cần có đội ngũ lao động với trình độ tay nghề chuyên sâu,
có năng lực sáng tạo, trung thực trong công việc. Họ chính là những người thực hiện
những ý tưởng, chiến lược và chiến thuật kinh doanh của đội ngũ lãnh đạo cấp trên,
những người tạo nên chất lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Trình độ công nghệ:
Để có NLCT doanh nghiệp tốt thì phải được trang bị bằng công nghệ sản xuất
tiên tiến hiện đại. Công nghệ hiện đại là công nghệ sử dụng ít nhân lực, thời gian tạo
ra sản phẩm ngắn, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu thấp, năng suất cao, chất lượng
sản phẩm tốt, không gây ô nhiễm môi trường. Sử dụng công nghệ hiện đại giúp cho

* Quản lý chất lượng sản phẩm

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mỗi doanh nghiệp cần nhận thức rõ đầy đủ bản chất và những yêu cầu đặt ra
trong quản lý chất lượng nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh đích thực từ chất lượng
sản phẩm. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hoạt động của doanh nghiệp không thể khép
kín nội bộ, tách rời mà phải luôn gắn với xu thế vận động của thị trường với tình hình
cạnh tranh và với thực tế quản lý kinh doanh của bản thân từng doanh nghiệp. Vì vậy
chất lượng không thể là sự đánh giá chủ quan của nhà quản lý hoặc của người sản
xuất mà chính là sự thỏa mãn và vượt mong đợi của khách hàng về một loại sản
phẩm hay dịch vụ nào đó.
Để đảm bảo NLCT của sản phẩm thì chất lượng của sản phẩm phải xuất phát từ
người tiêu dùng nhận thức về các yếu tố chất lượng như thế nào. Một sản phẩm được
đánh giá là tốt hơn sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh xét trên một số yếu tố cơ bản
sau: công dụng hay giá trị sử dụng, độ tin cậy, độ bền, tính an toàn và mức độ gây ô
nhiễm, thẩm mỹ…
Ngoài những thuộc tính hữu hình, có thể đánh giá cụ thể mức chất lượng sản
phẩm còn có các thuộc tính vô hình khác không biểu hiện một cách cụ thể dưới dạng
vật chất nhưng lại có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng khi đánh giá chất lượng
của một sản phẩm. Ngày nay những dịch vụ đi kèm sản phẩm, tên, nhãn hiệu, danh
tiếng, uy tín của sản phẩm cũng được coi là yếu tố chất lượng vô hình tác động lên
tâm lý lựa chọn sản phẩm của khách hàng, thu hút sự chú ý và kích thích ham muốn
mua hàng của họ.
* Chất lượng sản phẩm ảnh hưởng đến NLCT của sản phẩm :
Chất lượng sản phẩm là mức độ của một tập hợp các đặc tính của sản phẩm làm
thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Một sản phẩm có nhiều đặc tính, nhiều chỉ
tiêu chất lượng. Nếu tập hợp các đặc tính đó làm thỏa mãn được yêu cầu của khách
hàng thì sản phẩm mới gọi là có chất lượng. Trong các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm
có các chỉ tiêu đặc biệt quan trọng như chỉ tiêu về công dụng, về thẩm mỹ, về kinh tế,
an toàn vệ sinh. Mặc dù vậy, nếu có một chỉ tiêu nào đó không đảm bảo yêu cầu thì

các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Trên thị trường thì nhu cầu của người tiêu dùng rất
đa dạng và khác nhau, do đó yêu cầu của họ về các sản phẩm là khác nhau. Khi đó

Website: Email : Tel : 0918.775.368
một loại sản phẩm sẽ không thể đáp ứng hết nhu cầu của tất cả mọi người, mà với
từng thị trường, từng khách hàng khác nhau sẽ có loại sản phẩm tương ứng. Vì vậy
việc đa dạng hóa mẫu mã, chủng loại sản phẩm sẽ thỏa mãn tốt nhất nhu cầu tiêu
dùng của khách hàng và quyết định đến NLCT của sản phẩm trên thị trường.
d) Thời gian cung cấp hàng
Cung cấp hàng phải kịp thời, nhanh chóng và chính xác, đây là một trong các
yếu tố gốp phần bảo đảm tính cạnh tranh của sản phẩm. Khi đã có chất lượng tốt, giá
cả hợp lý thì thời gian cung cấp nhanh là yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng.
Cung cấp kịp thời làm cho đối tác không lỡ kế hoạch, không mất thời cơ do đó tạo
được uy tín đối với khách hàng.
Việc cung cấp sản phẩm đúng thời điểm cũng là yếu tố làm tăng NLCT của
doanh nghiệp. Việc bán hàng đúng vào lúc nhu cầu đang cao giúp doanh nghiệp bán
được nhiều hàng, đem lại lợi nhuận cao.
e) Các dịch vụ đi kèm
Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới
khách hàng, nhằm phục vụ khách hàng tốt nhất, bởi “ khách hàng là thượng đế”. Do
vậy khâu dịch vụ đi kèm cần được quan tâm đặc biệt, gắn liền với việc quản lý chất
lượng sản phẩm. Dịch vụ đi kèm là hoạt động rất cần thiết để thu hút khách hàng đến
với sản phẩm của doanh nghiệp, qua đó tạo ra mối quan hệ bền chặt giữa khách hàng
và doanh nghiệp, là một trong các yếu tố nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Nếu
dịch vụ đó không thuận tiện, chi phí cao thì sản phẩm của doanh nghiệp không có sức
cạnh tranh cao. Từ đó việc kết hợp tốt giữa quản trị chất lượng sản phẩm và nâng cao
chất lượng các dịch vụ đi kèm sản phẩm sẽ góp phần nâng cao NLCT của sản phẩm
trên thị trường.
1.2.4.4. Chiến lược marketing
Chiến lược marketing là một chiến lược bộ phận trong chiến lược kinh doanh

các ngành kinh tế, các doanh nghiệp với nhau. Trong nền kinh tế thị trường, trình độ
xã hội hóa sản xuất ngày càng cao, thị trường ngày càng phát triển cả chiều rộng và

Website: Email : Tel : 0918.775.368
chiều sâu thì hoạt động lưu thông phân phối càng trở nên sôi động với nhiều hình
thức, nhiều kênh phân phối phong phú.
Kênh phân phối giúp cho người tiêu dùng có được sản phẩm vào thời điểm, ở
nơi, ở dạng mà họ mong muốn. Kênh phân phối có một vai trò rất quan trọng trong
chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp. Kênh phân phối có thể so sánh với một
đường ống mà thông qua nó nước sẽ chảy từ nguồn đến điểm cuối cùng. Các kênh
phân phối làm cho hàng hóa chảy từ nhà sản xuất thông qua trung gian tới người mua
hàng. Trong nhiều trường hợp nó ảnh hưởng quyết định đến sự thành bại của doanh
nghiệp. Ngày nay người ta càng ý thức được vai trò của kênh phân phối trong việc
tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Sở dĩ có điều đó là do ngày nay chi phí
vận chuyển đang tăng lên nhất là sau những lần biến động của giá dầu. Một lý do
khác nữa là do các dòng sản phẩm ngày càng nhiều, điều này làm cho các doanh
nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc quản lý sản phẩm và đảm bảo giao cho khách
hàng đúng sản phẩm họ cần. Đồng thời để xây dựng hoặc thay đổi kênh phân phối
cần rất nhiều công sức và thời gian. Do vậy doanh nghiệp cần chọn các kênh phân
phối thích hợp với sản phẩm kinh doanh của mình và tổ chức sử dụng có hiệu quả các
kênh đó.
* Chương trình xúc tiến
Để mọi người tiêu dùng biết tới mình, biết tới sản phẩm của mình thì doanh
nghiệp phải chú ý tới hoạt động marketing và quảng cáo. Nếu sản phẩm thật sự tốt
mà không quảng cáo thì người tiêu dùng không biết đến để mua hoặc có biết thì rất
chậm, sản phẩm sẽ được tiêu thụ chậm. Bởi vậy doanh nghiệp cần quảng cáo và xây
dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình. Cùng với sự phát triển của khoa học công
nghệ, ngày nay các hình thức quảng cáo ngày càng phong phú và đa dạng như có thể
quảng cáo qua tivi, radio, báo và tạp chí, internet, palo, …
Để nâng cao NLCT các doanh nghiệp cần phải thường xuyên đánh bóng cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status