Giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh về xuất khẩu sản phẩm may mặc sang thị trường EU - Pdf 26



1
LỜI NÓI ĐẦU

Trong hơn 15 năm đổi mới chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và rút ra được những bài học thực tiễn
quý báu cho quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá. Kinh tế thị trường đòi
hỏi sự gắn bó mật thiết giữa sản xuất và tiêu dùng, cho nên đưa sản phẩm ra
thị trường và được khách hàng chấp nhận luôn là vấn đề quan trọng đối với
các doanh nghiệp.
Ngày nay, xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra nhanh chóng,
sâu rộng trên nhiều lĩnh vực trong khi Việt Nam đang bước đầu mở cửa, hội
nhập với khu vực và toàn cầu, thì vấn đề sản xuất, xuất khẩu ... có ý nghĩa rất
to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Đặc biệt, khi mà
các doanh nghiệp cùng ngành cạnh tranh ngày càng quyết liệt đòi hỏi mỗi
doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển một mặt phải củng cố thị trường
đã có, mặt khác phải tìm kiếm và xuất khẩu ra thị trường mới trên thế giới.
Marketing xuất khẩu sẽ đóng vai trò thiết yếu trong thành công hay thất bại
của các công ty trên thương trường quốc tế.
Có một thực tế là các doanh nghiệp Việt Nam chưa mạnh dạn xuất khẩu
sang các nước có mức sống cao như EU, Mỹ và Nhật Bản ... đây là các thị
trường lớn nhưng kỹ tính đòi hỏi sản phẩm phải có chất lượng cao mẫu mã
đẹp. Điều này có nhiều nguyên nhân, song một nguyên nhân quan trọng là các
doanh nghiệp chưa thích ứng được với thị trường quốc tế ngay mà đòi hỏi
phải có thời gian hoạt động dài mà vốn đầu tư cho quá trình nghiên cứu và
ứng dụng còn hạn chế. Là một doanh nghiệp nhà nước, công ty may Chiến
Thắng đã từng trải qua thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp. Bởi vậy, khi
chuyển sang cơ chế thị trường công ty may Chiến Thắng không khỏi bỡ ngỡ
trước những cơ hội và thách thức. Trong quá trình chuyển đổi, công ty đã


I. BẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1. Khái niệm:
Xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ cho nước ngoài
trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Cơ sở của hoạt động xuất
khẩu là hoạt động bán và trao đổi hàng hoá ( gồm cả trao đổi hàng hoá giữa
các quốc gia, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc
gia hoặc giữa các thị trường nội địa và khu chế xuất trong nước).
Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của ngoại thương xuất hiện từ lâu đời,
ngày càng phát triển mạnh mẽ cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Hình thức cơ bản
ban đầu của nó là hoạt động trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia, cho đến nay
nó đã phát triển rất mạnh dưới nhiều hình thức khác nhau. Ngày nay, hoạt
động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành, các lĩnh
vực của nền kinh tế bởi không ai có thể cho rằng tự cung tự cấp, không mở
rộng quan hệ đối ngoại là tồn tại được.
2. Cơ sở lý luận của hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động tất yếu của mỗi quốc gia trong quá
trình phát triển do khác nhau về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân
lực và các tài nguyên thiên nhiên ... dẫn đến sự khác biệt về thế mạnh trong
các lĩnh vực khác nhau của mỗi quốc gia. Để tạo sự cân bằng trong quá trình
sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia phải tiến hành trao đổi các loại hàng hoá
cho nhau.
Tuy nhiên xuất khẩu không phải chỉ diễn ra giữa các quốc gia có những
lợi thế về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác mà ngay cả khi quốc gia đó không
có lợi thế vẫn có thể thu được lợi ích không nhỏ khi tham gia vào hoạt động
xuất khẩu. 4
Cơ sở lợi ích của hoạt động xuất khẩu được chứng minh qua lý thuyết lợi

5
Ưu điểm của hình thức này là mức độ rủi ro thấp đặc biệt là không cần
bỏ vốn vào kinh doanh , tạo được việc làm cho người lao động đồng thời cũng
thu được một khoản lợi nhuận đáng kể. Ngoài ra, trách nhiệm trong việc tranh
chấp khiếu nại thuộc về người sản xuất.
3.3. Bán buôn đối lưu.
Là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu,
người bán đồng thời là người mua và lượng hàng hoá mang ra trao đổi thường
có giá trị tương đương. Mục đích của xuất khẩu ở đây không phải là nhằm thu
về một khoản ngoại tệ mà nhằm mục đích có được một lượng hàng hoá có giá
trị tương đương với giá trị lô hàng nhập khẩu.
Lợi ích của buôn bán đối lưu là nhằm tránh những rủi ro về sự biến động
của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối. Đồng thời còn có lợi khi các bên
không đủ ngoại tệ để thanh toán cho lô hàng nhập khẩu của mình. Thêm vào
đó, đối với một quốc gia buôn bán đối lưu có thể làm cân bằng hạng mục
thường xuyên trong cán cân thanh toán.
3.4. Giao dịch qua trung gian.
Đây là giao dịch mà mọi việc kiến lập quan hệ giữa người bán và người
mua đều phải thông qua một người thứ ba. Người thứ ba này gọi là người
trung gian hay đại lý, môi giới.
Đại lý thương nhân hay pháp nhân tiến hành một hay nhiều hành vi theo
sự uỷ thác của người uỷ thác, quan điểm này dưa trên cơ sở hợp đồng đại lý.
Có nhiều đại lý khác nhau như: Đại lý hoa hồng, đại lý toàn quyền, tổng đại
lý.
Môi giới là thương nhân trung gian giữa người mua và người bán khi
tiến hành các nghiệp vụ người môi giới không đứng tên mình mà đứng tên
người uỷ thác.
3.5.Tái xuất khẩu.
Tái xuất khẩu là xuất khẩu hàng hoá mà trước đây đã nhập khẩu và chưa
tiến hành các hoạt động chế biến. Ưu điểm của nó là các doanh nghiệp có thể

môi trường kinh tế, môi trường văn hoá, xã hội, môi trường chính trị luật
pháp, môi trường công nghệ và môi trường cạnh tranh, ở tầm vi mô, doanh 7
nghiệp phải xem xét các yếu tố như khách hàng, đối thủ cạnh tranh, kênh
phân phối và các nhà cung cấp. Sau khi xác định được những cơ hội và thách
thức do môi trường đem lại, cùng với việc hiểu rõ điểm mạnh, điểm yếu của
mình, doanh nghiệp đưa ra được một chiến lược phát triển.
Thứ hai: Xác định rõ các luật chơi của các thị trường nước ngoài.
Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá đều phải tham gia vào trò chơi mà
ở đó chính quyền không bao giờ giữ vai trò thụ động hay trung lập. Bất chấp
xu hướng chung là tự do hoá mậu dịch, chính quyền các nước luôn có xu
hướng khuyến khích xuất khẩu hạn chế nhập khẩu để cải thiện cán cân thanh
toán.
Các nhà xuất khẩu sẽ gặp những điều kiện thuận lợi nếu nước nhập khẩu
đang thiếu hụt một mặt hàng nào đó hoặc nhà xuất khẩu cung cấp hàng hoá và
dịch vụ có công nghệ cao. Tuy nhiên, hành vi thường thấy nhất ở các nước
nhập khẩu là phòng thủ bằng cách tạo ra các hàng rào cản trở. Do đó, người
xuất khẩu phải hết sức chú ý mà dự đoán được những biện pháp và các phản
ứng của nước ngoài.
Bên cạnh đó các nhà xuất khẩu sẽ phải vượt qua những giai đoạn hết sức
chặt chẽ của nước nhập khẩu về phương diện kỹ thuật, tiêu chuẩn và kiểm
soát chất lượng dưới sự theo dõi tỷ mỉ của chính quyền địa phương.
Thứ ba: Xác định rõ sự biến dạng của các điều kiện thị trường.
Với cùng một sản phẩm các điều kiện của thị trường còn khác nhau về
cơ bản giữa nước này với nước khác, đồng thời sự khác biệt về mặt tổ chức và
các động thái của thị trường dẫn đến thị hiếu tiêu dùng và tổ chức mạng lưới
phân phối khác nhau.
Sự khác biệt về hình thái thị trường và phản ứng của thị trường đòi hỏi

- Cần phải bán được bao nhiêu (trị giá, số lượng và cần thu lợi
nhuận là bao nhiêu)?
2. Thị trương xuất khẩu .
2.1. Nghiên cứu và lựa chọn thị trường xuất khẩu
2.1.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu 9
Nghiên cứu thi trường là một việc làm cần thiết đầu tiên với bất kỳ một
công ty nào muốn tham gia vào thị trường thế giới. Nghiên cứu thị trường
theo nghĩa rộng là qua trình điều tra để tìm triển vọng bán hàng cho một sản
phẩm cụ thể hay một nhóm sản phẩm, kể cả phương pháp thực hiện mục tiêu
đó.
Quá trình nghiên cứu thị trường không có gì khác là quá trình thu thập
thông tin số liệu về thị trường, so sánh phân tích những số liệu đó và rút ra kết
luận. Những kết luận này giúp nhà quản lý đưa ra những kết luận đúng đắn và
lập kế hoạch marketing. Công tác nghiên cứu thị trường phải góp phần chính
trong việc thực hiện phương châm hành động: “Chỉ bán cái thị trường cần chứ
không bán cái mình có”. Nói cách khác nghiên cứu thị trường là bài tập thực
tiễn đưa đến những quyết định và hành động cụ thể.
a. Các mục tiêu của nghiên cứu thị trường xuất khẩu .
- Hiểu biết chung về các thị trường mới.
- Hiểu biết chính xác, cụ thể về các yếu tố của kế hoạch marketing
tức là tối ưu hoá các hoạt động thương mại trên thị trường hiện tại. Đó là
việc xác định các đặc tính của sản phẩm xuất khẩu , xác định mức giá
thích ứng với thị trường, phân tích các kênh phân phối, tối ưu hoá công
việc giao tiếp truyền tin.
- Làm rõ tầm quan trọng của các thích ứng cần thực hiện.
b. Nội dung nghiên cứu.
- Nghiên cứu tiềm năng của thị trường: khả năng bán sản phẩm

- Mức tổng tiêu thụ trên thị trường (nội địa, xuất khẩu , nhập khẩu)
- Tăng tiêu thụ
- Tăng nhập khẩu
- Giá nhập khẩu
- Các biện pháp bảo hộ mậu dịch trên thị trường
- Hệ thống phân phối trên thị trường
- Những đặc điểm văn hoă, xã hội ... của thị trường.
Lựa chọn thị trường gồm hai bước:
Bước thứ nhất: Xác định giới hạn điều tra: 11
Cơ hội để phát triển thị trường cho mặt hàng trên thế giới có thể không
có giới hạn, nhưng nguồn vốn hiện có giành cho dự đoán và khai thác những
cơ hội đó lại có chừng mực vì vậy nên giới hạn điều tra vào những thị trường
được phép buôn bán để tránh lãng phí thời gian , tiền của vào các bước nghiên
cứu tiếp theo.
Bước thứ hai: So sánh các thị trường. Mục đích của bước này là đi đến
phân loại thị trường, tìm ra được những thị trường có triển vọng lớn cũng như
thị trường kém phát triển nhất, loại ra những thị trường có tiềm năng nhỏ
hoặc không hấp dẫn.
3. Môi trường marketing – xuất khẩu
3.1.Môi trường kinh tế
Khi xét đến các thị trường nước ngoài , nhà marketing quốc yế phải xem
xét nền kinh tế từng nước. Có hai đặc tính phản ảnh sức hấp dẫn của thị
trường xét như một thị trường xuất khẩu.
Thứ nhất:Mức độ phát triển thị trường.
Những thị trường xuất khẩu có thể có ở vào những giai đoạn có những
đặc trưng riêng biệt. Thông thưòng người ta phân nhóm thị trường theo nhóm
nước.

người.
Hiểu biết về văn hoá có thể quyết định thắng thua trong xuất khẩu .
Những nhà quản trị marketing – xuất khẩu cần phải nghiên cứu chi tiết hành
vi, thái độ, ngôn ngữ, tập quán, động cơ... ra sao để từ đó giúp cho họ lựa
chọn chiến lược marketing cụ thể là các yếu tố như nhãn hiệu, đóng gói, bao
bì, thiết kế thông điệp quảng cáo... phù hợp từng quốc gia có bản sắc văn hoá
khác nhau.
3.3 Môi trường pháp luật chính trị.
Môi trường pháp luật- chính trị có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt
động xuất khẩu- nhập khẩu. Những hành động của những cơ quan chính phủ
ở mọi cấp độ: trên quốc gia, quốc gia và trong phạm vi quốc gia sẽ chi phối
quyết định marketing của các công ty. 13
Vai trò và sự kiểm soát của chính phủ đối với các hoạt động xuất khẩu
nhập khẩu là cần thiết. Chính phủ có thể khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi
cho những quan hệ xuất khẩu trên cơ sở các hiệp định ký kết giữa các quốc
gia chẳng hạn hiệp định trao đổi hàng hoá quốc tế, hiệp định song phương...
Chính phủ cũng có thể ngăn cản các hoạt động xuất khẩu nhập khẩu bằng các
công cụ như cấm vận và trừng phạt kinh tế, hàng rào thuế quan, hạn ngạch...
3.4 Môi trường cạnh tranh.
Một trong những lực lượng năng động nhất ảnh hưởng tới chiến lược
marketing của từng nhà xuất khẩu là sự cạnh tranh. Mỗi công ty chiếm một vị
trí là làm một chức năng để có lý do tồn tại trên thị trường. Cạnh tranh diễn ra
vì mỗi công ty trong việc tìm kiếm cho riêng mình một vị trí đã cố gắng làm
cho mình trở thành “duy nhất”. Họ hy vọng sẽ tạo cho mình được một lợi thế
phân biệt, một ưu thế cạnh tranh giúp họ có khả năng đưa ra thị trường được
những thứ mà các công ty khác không có.
Việc lập kế hoạch marketing xuất khẩu đòi hỏi sự hiểu biết về cấu trúc

dựa trên sự thay đổi chuỗi giá trị. Căn cứ vào chuỗi giá trị, nếu công ty có lợi
thế trong việc thực hiện các hoạt động cơ bản hỗ trợ cuối nguồn (marketing
và bán hàng) chiến lược khác biệt hoá tỏ ra hữu hiệu nhất.
Khả năng khác biệt hoá mạnh mẽ cho phép doanh nghiệp thoát khỏi áp
lực cạnh tranh. Trên thị trường quốc tế nhiều doanh nghiệp đã thành công nhờ
vào khả năng khác biệt hoá mạnh mẽ so với đối thủ. Tuy nhiên, để chiến lược
này đem lại kết quả mong muốn sự khác biệt hoá về sản phẩm hay nhãn hiệu
của công ty phải được nhận thức bền vững. Để làm được điều này công ty cần
phải thực hiện những cố gắng to lớn về giao tiếp truyền tin.
4.3. Chiến lược trọng tâm hoá
Chiến lược trọng tâm hoá dựa trên lợi thế cạnh tranh là tập trung vào các
nguồn lực cho phép phát huy năng lực tối đa của công ty, chiến lược này được
thực hiện hoặc thông qua khả năng khác biệt hoá hoặc chi phí thấp hoặc cả
hai. 15
Về phương diện marketing, khi công ty tấn công vào thị trường nước
ngoài điều quan trọng trước tiên là phải phân đoạn thị trường để thực hiện
toàn cầu hoá. Công ty càng hoạt động trên thị trường hẹp bao nhiêu thì càng
phải phát triển mạnh mẽ thị trường về mặt địa lý. Như vậy phân đoạn thúc
đẩy quá trình toàn cầu hoá. Tình hình này rất điển hình cho một thế giới mà
công nghệ mới xuất hiện thường xuyên. Thực vậy, thị trường hẹp và mới phát
triển đòi hỏi chí phí nghiên cứu và phát triển rất lớn nên cần thiết phải thu hồi
vốn nhanh để giảm thiểu rủi ro: Công ty hoặc là phát triển quốc tế hoặc thất
bại. Về phương diện sản xuất chiến lược trọng tâm hoá vẫn theo đuổi lôgic
chi phí tối thiểu.
Chính vì vậy, việc dịch chuyển các cơ sở sản xuất sang những nước có
các yếu tố đầu vào phong phú và rẻ là sự lựa chọn thường thấy khi mà khối
lưọng các diều kiện kinh tế cho phép. Ràng buộc quan trọng nhất là phải đảm

các phương pháp kỹ thuật hoàn toàn mới mẻ để chi phối thị trường. Trong
giai đoạn này Công ty trở thành người điều khiển thị trường hoặc đẫn đầu
thị trường.
b. Cải tiến sản phẩm hiện tại
Nếu sản phẩm đã ở trong giai đoạn bão hoà hoặc suy thoái thì có thể kéo
dài chu kì sống của sản phẩm bằng những cải tiến thích hợp. Có các hướng
cải tiến sau:
- Cải tiến bản thân sản phẩm
- Cải tiến bao bì sản phẩm
- Cải tiên dịch vụ sản phẩm
c. Tìm kiếm các công dụng mới của sản phẩm hiện tại
Mục đích là để kéo dài chu kỳ sống sản phẩm, có thể căn cứ vào các yếu
tố sau:
- Các ứng dụng liên quan của sản phẩm .
- Phát hiện những công dụng mới khi kết hợp với sản phẩm khác.
- Lấy sản phẩm tiêu dùng áp dụng vào thị trường hàng công
nghiệp và ngược lại.
- Những thuộc tính của sản phẩm có thể gợi ý các công dụng mới. 17
d.Thải loại sản phẩm .
Duy trì những sản phẩm cũ và lỗi thời làm hao phí nguồn lực và giảm
lợi nhuận của công ty. Công ty cần thường xuyên đánh giá sản phẩm để xác
định sản phẩm cần thải loại và đi đến quyết định thải loại.
5.1.2 Quyết định cơ cấu tối ưu của chủng loại sản phẩm xuất khẩu.
Hai đặc trưng xác đáng nhất của cơ cấu sản phẩm là doanh thu dự kiến
và mức độ rủi ro của nó. Người quản lý tiến hành lựa chọn cơ cấu sản phẩm
có hiệu quả nhất theo hai cách:
- Với mức độ rủi ro nhất định, tìm cơ cấu sản phẩm mang lại

- Quy định giá cho chủng loại sản phẩm
- Quyết định về hình thức và mức độ kiểm soát về giá trên các thị
trường xuất khẩu khác nhau.
- Xác định giá chu chuyển nội bộ trong công ty.
- Xác định mức độ khác biệt giữa giá nội địa và giá xuất khẩu 19
5.2.2. Các phương pháp xác định giá
a. Theo phương pháp xác định giá, giá sẽ chênh lệch giữa các thị
trường xuất khẩu do chi phí vận chuyển và các chi phí khác nhau. Các
phương pháp tính gồm có:
- Giá tới hạn: mức giá bằng chi phí trực tiếp.
- Giá kỹ thuật: mức giá đảm bảo bù đắp chi phí
- Giá mục tiêu: mức giá đảm bảo có lãi theo mục tiêu.
Ưu điểm của phương pháp này là đảm bảo công bằng giữa người bán và
người mua, thích hợp trong trường hợp thiếu thông tin thị trường, phương
pháp tính đơn giản đảm bảo được giới hạn dưới của giá bán những nó có
nhược điểm lớn là không tính đến các yếu tố nhu cầu và cạnh tranh trên thị
trường.
b. Xác định giá theo nhu cầu trên thị trường.
Theo phương pháp này, công ty xác định đường cầu và độ đàn hồi của
cầu so với giá trên thị trường, làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhạy cảm
của người tiêu dùng so với giá, phân tích các điều kiện gắn với độ đàn hồi...để
đạt đến xác định một mức giá “chấp nhận” được.
c. Xác định giá theo cạnh tranh.
Phân tích cạnh tranh giúp cho việc xác định một mức giá giữa hai thái
cực là giá trần và giá sàn. Trên thị trường không tồn tại cạnh tranh thuần tuý
và hoàn hảo, do đó không tồn tại giá cân bằng. Sự độc quyền và cạnh tranh
không hoàn hảo làm mức giá thị trường thực tế giảm đi hoặc tăng lên.

nâng tỷ phần thị trường nhưng có hiệu quả là nhược điểm trong ngắn hạn
thấp và rất khó nâng giá về sau.
c. Chiến lược giảm giá theo đường cầu: Là chiến lược biến tướng
của chiến lược giá cao, song quá trình giảm giá diễn ra nhanh hơn để đối
phó với các đối thủ cạnh tranh. Nhịp độ giảm giá phụ thuộc vào mức độ
lợi nhuận thu được và tốc độ phản ứng của đối thủ cạnh tranh.
d. Chiến lược giá ưu đãi hay giá tiêu diệt: Định giá thấp bằng mức
giá sàn hoặc thậm chí thấp hơn để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh.
5.3. Chính sách phân phối. 21
Theo quan điểm của người xuất khẩu , tính chất đa dạng của các kênh
phân phối vừa là thời cơ vừa là trở ngại. Việc nghiên cứu các kênh phân phối
hiện có và việc lựa chọn một kênh hay nhiều kênh phù hợp với sản phẩm của
nhà xuất khẩu lại là vấn đề kế hoạch phân phối then chốt mà tất cả các nhà
xuất khẩu đều phải giải quyết.
5.3.1.Các chức năng của phân phối
Có rất nhiều cách để phân chia các kênh phân phối, xuất phát từ quan
điểm thực tế người ta phân chia như sau:
- Tiếp xúc với người mua hàng, thu thập thông tin bán hàng.
- Xử lý đơn đặt hàng, rhu thập chứng từ và lập hoá đơn.
- Vận tải và giao hàng
- Lưu kho.
- Phân chia lô hàng và tạo ra các mặt hàng.
- Cung cấp tài chính, tín dụng và thu tiền hàng.
5.3.2. Các kênh phân phối trong xuất khẩu
Thông thường trong kinh doanh xuất khẩu có các kênh phân phối cụ thể
như sau :

22
- Nhân tố cạnh tranh trên thị trường: Số lượng và mức độ phân bố
địa lý của khách hàng, cạnh tranh trên thị trường, kết cấu hạ tầng của thị
trường.
- Nhân tố phân phối: Cơ cấu của hệ thống phân phối đang tồn tại
trên thị trường, hệ thống quan hệ được xác lập giữa trung gian phân phối
đối với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu.
- Nhân tố cạnh tranh chủ quan của doanh nghiệp: Cường độ quan
hệ của doanh nghiệp với thị trường, năng lực tài chính, năng lực quản lý
bán hàng của doanh nghiệp.
- Nhân tố kiểm soát của chính phủ.
5.4. Chính sách xúc tiến hỗn hợp ( chính sách khuyếch trương)
Chính sách giao tiếp khuyếch trương là một công cụ quan trọng để thực
hiện chiến lược marketing – xuất khẩu của công ty. Hiệu quả của quá trình
kinh doanh tăng lên rõ rệt khi thực hiện các biện pháp giao tiếp khuyếch
trương, mặc dù các nhà xuất khẩu phải bỏ ra một lượng chi phí lớn cho bước
này.
5.4.1.Quảng cáo
Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện không gian và thời gian để
thông tin cho khách hàng tiềm năng về sản phẩm. Mặc dù có những hạn chế
khác nhau tại những thị trường khác nhau, song để hoạt động trên những thị
trường hầu hết các công ty đều phải quảng cáo. Quảng cáo cho xuất khẩu có
thể tiến hành trước khi sản phẩm có mặt tại thị trường hoặc sau khi sản phẩm
được phép bán trên thị trường. Mô hình quảng cáo thường thấy nất là mô hình
AIDA, thể hiện 4 chức năng của quảng cáo: Lôi cuốn sự chú ý, làm cho thích
thú, tạo sự ham muốn, dẫn đến quyết định mua hàng.
Quảng cáo chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như: Nhân tố
kinh tế, xã hội, văn hoá, nhân tố tâm lý khách hàng...các phương tiện quảng

- Quần áo may sẵn rất tiện dụng, những quần áo may sẵn có thể phục vụ
vào bất cứ lúc nào, có tiền là mua được ngay và có thể tuỳ ý lựa chọn. Nó giải
quyết được nhu cầu hiện tại cần may mặc trong thời gian ngắn phù hợp với
mốt thời trang. 24
- Quần áo may sẵn rất đa dạng, phong phú về màu sắc, kích cỡ, chủng
loại và chất liệu do các nhà sản xuất luôn cải tiến thay đổi mẫu mã làm cho
sản phẩm may phù hợp với nhu câù người tiêu dùng.
- Sản phẩm may mặc vừa là hàng đáp ứng nhu cần thiết nhưng đồng thời
lại là hàng hoá có nhu cầu xa xỉ.
- Sản phẩm may sẵn tiêu thụ được ít nhiều phụ thuộc vào giá cả
Người tiêu dùng sản phẩm may đã làm các phép tính so sánh khi mua
sản phẩm may đo và với phương án nào đem lại lợi ích hơn thì họ quyết định.
Rõ ràng rằng quần áo may sẵn thường rẻ hơn quần áo may đo, không những
tiết kiện thời gian mà còn cả nguyên vật liệu nhưng đảm bảo đúng quy cách.
Hơn nữa khi sản xuất với hàng loạt máy chuyên dùng làm cho chất lượng sản
phẩm may cao hơn hẳn so với may đo.
- Sản phẩm may mặc cũng có những tính chất và đặc điểm tiêu dùng rất
khác nhau, tuỳ thuộc vào hai nhân tố chính là thời tiết và khu vực địa lý
+ Mỗi mùa khác nhau trong năm người tiêu dùng đều sử dụng sản phẩm
khách nhau, tuỳ thuộc vào hai nhân tố chính là thời tiết và khu vực đại lý để
bảo đảm sức khoẻ và phù hợp với cộng đồng.
+ Mỗi khu vực địa lý khác nhau lại có những nhu cầu khác nhau trong
việc tiêu thụ sản phẩm của ngành này, do đó mà những nhà thiết kế luôn luôn
phải căn cứ vào thị hiếu, tính cách, đặc điểm của từng khu vực thị trường để
đưa ra những mẫu thời trang phù hợp.
2.Đặc điểm của thị trường và hoạt động xuất khẩu hàng may mặc.
a) Đặc điểm của thị trường :

vụ đều phải nghiên cứu kỹ lưỡng đặt trong mối quan hệ khác nhau, tranh thủ
nắm bắt thời cơ nhằm đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả cao
nhất. Do đó quy trình sản xuất may mặc ở các doanh nghiệp phải tuân thủ
theo những quy định tổ chức về quản lý nhà nước, về hoạt động xuất khẩu
được thực hiện bởi các cán bộ nhân viên chức năng của doanh nghiệp .
c. Marketing xuất khẩu hàng hoá may mặc
Sản phẩm may mặc là loại sản phẩm thiết yếu không những yêu cầu về
chất lượng mà còn đòi hỏi cao về chungr loại mẫu mã phong phú về màu sắc,
kích cỡ phù hợp với xu hướng mốt thời trang của người tiêu dùng. Do đó thị
trường sản phẩm may mặc luôn là thị trường tiềm năng rộng lớn cho các công
ty xuất khẩu hàng may mặc. Sự cạnh tranh gay gắt của các công ty sản xuất
hàng may mặc cũng phát sinh từ đó các công ty cố gắng nỗ lực khuyếch

Trích đoạn LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU. Giải pháp về sản phẩm. Giải pháp về giá cả. Giải pháp về hoàn thiện kênh phân phối. Đẩy mạnh truyền tin và xúc tiến hỗn hợp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status