Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ - Pdf 30

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ICO :Tổ chức cà phê quốc tê.
NCA :Hiệp hội cà phê Mỹ.
VICOFA :Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam
WTO :Tổ chức thương mại thế giới.
MFN :Quy chế tối huệ quốc.
OECD :Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
USVTC :Hội đồng thương mại Việt Mỹ
WEF :Diễn đàn kinh tế thế giới
WB :Ngân hàng Thế giới
IMF :Quỹ Tiền tệ quốc tế
ABIC :Hiệp hội các nhà rang xay cà phê Brazil
APEX :Cục Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Brazil
VinaCafe :Tổng công ty cà phê Việt Nam
VGG :Vietnam Global Gateway
TNS : Trung tâm nghiên cứu thị trường Hoa Kỳ
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1 : Điều tra về mức độ quan tâm của người dân Hoa Kỳ đối với các
sản phẩm cà phê
Bảng 2.2 : Kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.3 : Cơ cấu các loại cà phê xuất khẩu của Việt Nam sang
thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.4 : Mức tiêu thụ cà phê của Hoa Kỳ giai đoạn 2003-2007
Bảng 2.5 : Tỉ lệ cà phê Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.6 : Chất lượng cà phê nhân Việt Nam.
Bảng 2.7 : Số lượng và cơ cấu lao động đang làm việc tại thời điểm
1 tháng 7 trong thành phần kinh tế nông lâm nghiệp
Bảng 2.8 : Trồng và thu hoạch cà phê ở Việt Nam
Bảng 2.9 : Giá một số loại cà phê uống liền ở Việt Nam
Bảng 2.10 : Giá cà phê uống liền Mulvadi Kona Gourmet của Hoa Kỳ
Bảng 3.1 :Kim ngạch thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ giai đoạn 2003-2007

1.1.4.7. Một số chỉ tiêu khác..................................................................19
1.1.5. Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm.........20
1.2. Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến xuất
khẩu của một số nước trên thế giới..............................................................21
1.2.1.Braxin ................................................................................................21
1.2.2. Indonexia ..........................................................................................23
1.2.3. Bài học đối với Việt Nam ................................................................24
CHƯƠNG 2.........................................................................................................26
THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÀ PHÊ CHẾ
BIẾN VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG HOA KỲ......................................26
2.1. Giới thiệu chung về cà phê chế biến của Việt Nam..............................26
2.1.1.Lịch sử hình thành ngành cà phê và cà phê chế biến của Việt Nam
......................................................................................................................26
2.1.2. Các loại cà phê chế biến của Việt Nam..........................................28
2.1.3. Thực trạng sản xuất và chế biến cà phê của Việt Nam.................31
2.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên
thị trường Hoa Kỳ..........................................................................................34
2.2.1.Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của cà phê chế
biến Việt Nam ở thị trường Hoa Kỳ ........................................................34
2.2.1.1. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô:........................................34
2.2.1.2. Các yếu tố bên trong của bản thân doanh nghiệp .................36
2.2.2. Tình hình tiêu thụ cà phê chế biến của Hoa Kỳ những năm gần
đây................................................................................................................38
2.2.3. Phân tích năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên
thị trường Hoa Kỳ .....................................................................................41
2.2.3.1. Doanh thu...................................................................................41
2.2.3.2. Thị phần.....................................................................................45
2.2.3.3. Chất lượng.................................................................................47
2.2.3.4. Chi phí sản xuất và giá cả của sản phẩm ...............................50
2.2.3.5. Mức độ hấp dẫn của sản phẩm................................................55

- Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, cà phê đã càng ngày càng trở nên quá đỗi quen thuộc với người
dân trên toàn thế giới và kinh doanh cà phê cũng đã dần chiếm một vị trí rất quan
trọng trong nền kinh tế. Đối với Việt nam cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu
chủ lực chỉ đứng sau gạo, với số lượng xuất khẩu ngày càng tăng và chiếm một
tỷ trọng lớn. Hàng năm xuất khẩu cà phê đem về cho nền kinh tế một lượng
ngoại tệ không nhỏ, đồng thời giải quyết hàng trăm nghìn công ăn việc làm cho
người lao động trong nước.
Tuy nhiên Việt Nam mới chủ yếu đơn thuần xuất khẩu cà phê nhân và chỉ
nổi tiếng về việc xuất khẩu cà phê nhân. Lượng cà phê bột, cà phê đã qua chế
biến xuất khẩu thấp và thương hiệu chưa cao khiến cho năng lực cạnh tranh yếu.
Các sản phẩm chế biến từ cà phê Việt Nam xuất khẩu vẫn quá ít ỏi, chưa tương
xứng với tiềm năng của đất nước. Mặt hàng cà phê chế biến vẫn chủ yếu mới chỉ
là tiêu thụ nội địa. Khác với các nước, họ trồng cà phê, tiêu thụ và xây dựng
thương hiệu ở trong nước sau đó mới xuất khẩu, còn ở Việt Nam thì ngược lại,
một thời gian dài chỉ xuất khẩu và bây giờ quay lại xây dựng thương hiệu ở trong
nước nên thừa cà phê nhân nhưng thiếu thương hiệu cà phê thành phẩm mà bản
thân năng lực cạnh tranh của cà phê thành phẩm lại chưa cao.
Trong khi đó xuất khẩu cà phê chế biến vào Hoa Kỳ lại là một cơ hội lớn.
Hoa Kỳ là nước tiêu thụ cà phê vào cỡ lớn nhất thế giới đồng thời hiện cũng
đang là nước nhập khẩu cà phê nhân lớn nhất của Việt Nam. Nhu cầu tiêu thụ cà
phê của Hoa Kỳ ngày càng tăng, cà phê trở thành thứ đồ uống quen thuộc thường
1
1
xuyên hàng ngày của đa số người dân Mỹ. Đây thực sự là một thị trường lớn,
đầy tiềm năng cho các sản phẩm cà phê chế biến của Việt Nam.
Chính vì vậy một yêu cầu cần thiết đặt ra cho cà phê Việt Nam trong
thời gian tới là cần mở rộng và phát triển mạnh hơn nữa các sản phẩm chế biến
của cà phê Việt Nam ra thị trường thế giới đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ, không
những chỉ đơn thuần tăng doanh thu mà còn cần tăng cả về chất lượng, thị phần,

- Lời cảm ơn:
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới cán bộ hướng dẫn, Phó Vụ trưởng
Hoàng Thị Tuyết Hoa cùng các chuyên viên tại Vụ kế hoạch- Bộ Công Thương đã
tạo điều kiện giúp đỡ để em có thể hoàn thành tốt đợt thực tập.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo hướng
dẫn Ths.Nguyễn Thị Hoa đã tận tình theo sát giúp đỡ em trong suốt thời gian qua.
Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên: Phạm Minh Đức
3
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
SẢN PHẨM VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÀ PHÊ CHẾ BIẾN
1.1. Một số vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1.1.1. Cạnh tranh
Ngày nay, cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị
trường, là động lực phát triển của nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường cạnh
tranh cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường
nhằm giành được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ,
về cùng một loại khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh. Nó được coi là sự
sống còn của doanh nghiệp, là cơ hội cho sự tồn tại và phát triển của các sản
phẩm hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp.
Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những cá
nhân, tập thể có chức năng như nhau nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình”.
Điều đó có nghĩa là nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của người
khác.
Trong khi đó tổ chức OECD lại định nghĩa : “Cạnh tranh là khả năng của
các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và các vùng trong việc tạo ra việc làm và thu

lãi”.
1.1.2. Các cấp độ năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh thường được nhìn nhận dưới 3 cấp độ đó là năng lực
cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành (doanh nghiệp) và năng
lực cạnh tranh của sản phẩm. Trong đó năng lực cạnh tranh sản phẩm là cốt lõi
tạo nên sức cạnh tranh của ngành (doanh nghiệp), và tổng hợp lại góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh của quốc gia.
1.1.2.1. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia
Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia được hiểu là khả năng cạnh tranh của
một nước để sản xuất hàng hóa dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường
quốc tế, đồng thời mở rộng được thu nhập thực tế của cư dân nước đó. Nó là
những lợi thế so sánh của quốc gia có được so với các quốc gia khác, đó là
những lợi thế về các nguồn lực như lao động, tài nguyên, trình độ công nghệ, lợi
thế về vị trí địa lý, lợi thế về quy mô…..
Theo Diễn đàn kinh tế thế giới WEF (1997): Năng lực cạnh tranh của
quốc gia được hiểu là “sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô. Đó là
năng lực của một nền kinh tế đạt được và duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu
hút đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ
sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác.”
1.1.2.2. Năng lực cạnh tranh cấp ngành (doanh nghiệp)
Sự tồn tại của mỗi quốc gia không thể thiếu sự hoạt động của các ngành,
doanh nghiệp lớn và nhỏ trong quốc gia đó. Và nâng cao năng lực cạnh tranh của
6
6
từng ngành (doanh nghiệp) sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc
gia. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là “khả năng một doanh
nghiệp tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới
dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực
của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường
mới”. Như vậy năng lực cạnh tranh cấp ngành (doanh nghiệp) đồng nghĩa với kết

1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố bao
gồm cả những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô cũng như các yếu tố thuộc bản
thân nội tại của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm.
1.1.3.1. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô:
Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô có ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnh
tranh của sản phẩm. Nó có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tạo ra những cơ
hội, tiềm năng cũng như những khó khăn thách thức cho các sản phẩm cạnh
tranh trên thị trường.
• Các yếu tố kinh tế:
Các yếu tố kinh tế thuộc môi trường vĩ mô như lãi suất ngân hàng, tỷ giá
hối đoái, cán cân thanh toán…có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của
sản phẩm. Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải nắm chắc và có dự báo về
xu hướng biến động của các yếu tố khi đưa ra các quyết định về chính sách sản
8
8
phẩm để từ đó có những biện pháp để hạn chế rủi ro cho khả năng cạnh tranh của
sản phẩm trên thị trường.
- Tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Nếu đồng nội tệ lên giá, giá cả của sản phẩm trong nước giảm dẫn đến khả năng
cạnh tranh của sản phẩm ở nước ngoài giảm, khi đó giá bán của hàng hoá tính
bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn các đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa, khi đồng nội tệ
lên giá khuyến khích nhập khẩu vì giá hàng nhập khẩu sẽ giảm và như vậy khả
năng cạnh tranh của các sản phẩm trong nước sẽ bị giảm ngay cả trên thị trường
trong nước. Ngược lại khi đồng nội tệ giảm giá, khả năng cạnh tranh của các sản
phẩm trên cả thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu sẽ tăng vì khi đó giá
bán hàng hoá giảm hơn so với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.
- Lãi suất ngân hàng:
Nhân tố này cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của sản

Bao gồm các hoạt động liên quan đến việc sản xuất tạo ra sản phẩm, hoạt
động marketing, và việc đưa sản phẩm hàng hóa đến tay người tiêu dùng, các
dịch vụ bán hàng và sau bán hàng. Các yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới
năng lực cạnh tranh của sản phẩm, bao gồm:
10
10
- Hoạt động hậu cần đầu vào: là các hoạt động chuẩn bị đầu vào cho quá
trình sản xuất, nó quyết định đến chi phí sản xuất và chất lượng của sản phẩm từ
đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm: quá trình vận chuyển, tiếp
nhận, kiểm tra, bảo quản nguyên nhiên vật liệu đầu vào cho việc sản xuất tạo ra
sản phẩm.
- Hoạt động sản xuất: là hoạt động để biến nguyên liệu đầu vào thành các
sản phẩm đầu ra như quyết định công nghệ sản xuất hay gia công, cân đối dây
chuyền sản xuất, quyết định mức sản lượng, kiểm tra chất lượng sản phẩm, đóng
gói…
- Hoạt động hậu cần đầu ra: các hoạt động cần thiết nhằm đưa sản phẩm
đến tay người tiêu dùng như bảo quản sản phẩm sau sản xuất, đóng kiện hàng
hóa, lựa chọn kênh phân phối, lựa chọn thị trường tiêu thụ và vận chuyển hàng
hóa…
- Hoạt động marketing và bán hàng: các hoạt động nhằm giới thiệu các sản
phẩm đến với người tiêu dùng, việc lựa chọn nhà phân phối, phương thức phân
phối, phương thức thanh toán, các hoạt động quảng cáo khuyến mại xúc tiến bán
hàng…
- Hoạt động sau bán hàng: các hoạt động nhằm duy trì nâng cao giá trị uy
tín cho sản phẩm, tạo niềm tin cho khách hàng về sản phẩm như các dịch vụ hỗ
trợ khách hàng về việc vận chuyển, sửa chưa, lắp đặt, bảo dưỡng…
• Nhóm các hoạt động hỗ trợ (ảnh hưởng gián tiếp)
Các yếu tố thuộc nhóm này sẽ ảnh hưởng gián tiếp tới năng lực cạnh tranh
của sản phẩm, bao gồm:
11

doanh trên thương trường, có khả năng đánh giá và quan hệ đối ngoại tốt thì
doanh nghiệp sản xuất sản phẩm sẽ có sức cạnh tranh cao các đối thủ cạnh tranh
và ngược lại.
+ Quản trị viên cấp trung gian: Đây là đội ngũ trực tiếp quản lý
phân xưởng sản xuất sản phẩm đòi hỏi phải có có kinh nghiệm công tác, khả
năng ra quyết định và diều hành công tác.
+ Đội ngũ quản trị viên cấp cơ sở: Khả năng cạnh tranh của sản
phẩm chịu sự chi phối của đội ngũ này thông qua các yếu tố như: năng suất lao
động, trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động và sự sáng tạo của
họ... bởi vì các yếu tố này chi phối việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá
thành sản phẩm cũng như tạo thêm tính ưu việt, độc đáo mới lạ của sản phẩm.
Đội ngũ này và yếu tố công nghệ có mối quan hệ mật thiết với nhau đóng vai trò
then chốt trong việc nâng cao năng suất sản xuất, số lượng cũng như chất lượng
sản phẩm từ đó góp phần nâng cao năng lực canh tranh của các sản phẩm của
doanh nghiệp.
- Cơ sở hạ tầng: là yếu tố hỗ trợ quan trọng cho việc tạo nên lợi thế cạnh
tranh của sản phẩm. Cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại giúp doanh nghiệp hoạt
động dễ dàng hơn, năng suất cao hơn, hiệu quả lớn hơn…Qua đó kéo theo những
ưu thế khác về chất lượng, chi phí, giá thành sản phẩm…Ngoài ra nó cũng thể
hiện ở quy mô và năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Nếu quy mô và năng lực
sản xuất lớn sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn, qui mô
13
13
sản xuất lớn sản xuất càng nhiều sản phẩm thì chi phí cận biên cho sản xuất đơn
vị sản phẩm tiếp theo nhỏ dần, và như vậy giá thành đơn vị sản phẩm càng hạ
nhờ đó sản phẩm cạnh tranh hơn các đối thủ cạnh tranh khác về giá thành, quy
mô lớn giúp doanh nghiệp hiểu rõ khách hàng từ đó sản phẩm có thể chiếm lĩnh
và khẳng định chỗ đứng trên nhiều thị trường khác nhau, giảm thiểu sự xâm
nhập của đối thủ cạnh tranh khác.
- Năng lực quản lý: Trình độ tổ chức quản lý được thể hiện thông qua cơ

thuỷ lợi, trình độ quản lý và cuối cùng là thị hiếu, nhu cầu tiêu thụ. Do đó, để
đánh giá được yếu tố chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh của sản phẩm đó như thế nào thông qua đánh giá định tính và định lượng
nhưng thông thường thì biện pháp định tính sẽ được áp dụng qua đánh giá về độ
thỏa mãn nà sản phẩm đem lại cho khách hàng.
1.1.4.2. Doanh thu
Doanh thu là số tiền thu được khi bán hàng hoá hoặc dịch vụ. Bởi vậy mà
doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá năng lực cạnh tranh.
Căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời kỳ hoặc qua các năm ta có thể đánh
giá được kết quả hoạt động kinh doanh là tăng hay giảm, theo chiều hướng tốt
hay xấu. Nhưng để đánh giá được hoạt động kinh doanh đó có mang lại được
hiệu quả hay không ta phải xét đến những chi phí đã hình thành nên doanh thu
15
15
đó. Nếu doanh thu và chi phí để sản xuất ra sản phẩm đều tăng lên qua các năm
nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí tức tồn tại khả
năng duy trì và tăng thêm về lợi nhuận thì hoạt động sản xuất và kinh doanh vẫn
được đánh giá là tốt, doanh nghiệp đã biết phân bổ và sử dụng hợp lý yếu tố chi
phí, bởi một phần chi phí tăng thêm đó được doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh
doanh, đầu tư mua sắm trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng…Một sản phẩm
có khả năng tăng cao và duy trì doanh thu, lợi nhuận thì đồng nghĩa năng lực
cạnh tranh của sản phẩm đó cao hơn và ngược lại.
1.1.4.3. Thị phần
Thể hiện ở khả năng chiếm lĩnh và ngày càng tăng thị phần của sản phẩm.
Nó chứng tỏ mức độ đáp ứng nhu cầu khách hàng của sản phẩm. Những sản
phẩm có thị phhần càng lớn và khả năng ngày càng tăng thị phần trong tương lai
thì khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó càng lớn và ngược lại. Thị phần càng
lớn cho thấy mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó, đồng
thời phản ánh được năng lực cạnh tranh cao của sản phẩm đó trên thị trường.
Thị phần có thể được hiểu là phần trăm thị trường tính theo doanh số mà

thiết bị và công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý...có như vậy mới hạ
được giá thành sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá.
17
17
Chi phí sản xuất thấp thì giá bán sản phẩm sẽ thấp hơn, sản phẩm có sức
cạnh tranh tốt hơn các sản phẩm khác khi phải cạnh tranh về giá. Khi đó, sản
phẩm được người tiêu dùng lựa chọn nhiều hơn, chỗ đứng của sản phẩm một
phần được khẳng định. Điều này đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thị trường
có sự cạnh tranh lớn như hiện nay thì khách hàng có quyền lựa chọn cho mình
những sản phẩm tốt nhất và nếu cùng một mặt hàng sản phẩm, cùng chất lượng,
kiểu dáng mẫu mã thì tất nhiên sản phẩm nào được bán với giá thấp hơn thì sẽ
được khách hàng lựa chọn. Vì vậy giá cả là công cụ cạnh tranh hữu hiệu trên thị
trường.
Để chiếm ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sụ lựa chọn
các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm ở từng giai đoạn trong chu
kỳ sống của sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường. Có
thể đó là chiến lược của từng doanh nghiệp để thu hút khách hàng và tất nhiên
khả năng cạnh tranh của sản phẩm nhờ đó sẽ cao hơn.
1.1.4.5. Thương hiệu của sản phẩm
Đây là yếu tố quan trọng mà các sản phẩm cần hướng tới. Chỉ tiêu này khó
định lượng tuy nhiên là yếu tố quan trọng để tạo nên sự khác nhau về khả năng
cạnh tranh của sản phẩm. Thương hiệu, uy tín của sản phẩm được hình thành dựa
trên chất lượng, giá trị sử dụng của sản phẩm, các dịch vụ bán hàng và sau bán
hàng, thời gian giao hàng, quy mô của doanh nghiệp...
Hiện nay vấn đề thương hiệu đã được chú trọng hơn trước rất nhiều, có
nhiều ý kiến cho rằng thương hiệu là nhân tố quan trọng thứ 2 chỉ sau chất
lượng, xếp trước yếu tố giá trong việc tạo nên thành công trong khả năng cạnh
tranh của sản phẩm. Những sản phẩm nổi tiếng có thương hiệu mạnh sẽ có chiếm
18
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status