Nâng cao năng lực cạnh tranh hàng may mặc xuất khẩu Việt Nam trên thị trường Mỹ trước thềm hội nhập WTO - Pdf 29

LỜI MỞ ĐẦU
1/Lý do chọn đề tài.
Trong điều kiện kinh tế thị trường với xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra
mạnh mẽ, đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải có những chiến lược kinh doanh
hợp lý để đảm bảo sản phẩm sản xuất ra có sức cạnh tranh. Đối với Việt Nam,
ngành dệt may ( chủ yếu là sản phẩm may mặc) có một vai trò quan trọng,
phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân, là ngành đứng đầu về kim ngạch xuất
khẩu của nước ta hiện nay. Dệt may cũng là ngành thu hút một lượng lớn khối
lượng lao động, điều này góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế các vùng và
trong thời gian qua thu hút hấp dẫn vốn đầu tư nước ngoài. Khi đề ra các
chiến lược về phát triển kinh tế thì không thể bỏ qua các chiến lược để phát
triển ngành may mặc. Xu hướng hội nhập kinh tế và cạnh tranh gay gắt, đặc
biệt là sức ép từ khi Trung Quốc gia nhập WTO buộc các quốc gia phải nỗ lực
để nâng cao năng lực của mình trên thị trường, trong đó Việt Nam cũng
không phải là ngoại lệ.Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh là một đòi hỏi
cấp thiết trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.
Mỹ là một thị trường tương đối mới nhưng cũng rất tiềm năng của
ngành dệt may Việt Nam. Việc xuất khẩu sản phẩm dệt may, trong đó chủ yếu
là hàng may mặc đòi hỏi phải xây dựng những căn cứ khoa học cho việc chủ
động tìm kiếm cơ cấu mặt hàng sao cho phù hợp với thị trường và thích nghi
với trình độ lao động cũng như trang thiết bị hiện có của nước ta. Đây là một
vấn đề vô cùng khó khăn vì yêu cầu thị trường ngày càng cao.Tuy nhiên vẫn
còn tồn tại những vấn đề còn phải khắc phục để nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc
xuất khẩu hàng may mặc ra thị trường thế giới đặc biệt là thị trường Mỹ.
Chính vì sự nhận thức được tầm quan trọng của nâng cao khả năng
cạnh tranh của hàng may mặc sang thị trường Mỹ nên em đã chọn đề tài
‘‘Nâng cao năng lực cạnh tranh hàng may mặc xuất khẩu Việt Nam trên thị
trường Mỹ trước thềm hội nhập WTO”.
1
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do trình độ nghiên cứu còn hạn chế
nên đề tài nghiên cứu này có thể còn nhiều những thiếu sót và nhược điểm.

3/Kết cấu của đề tài.
Bố cục đề tài được chia làm 3 phần:
Chương I: Tổng quan về năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu.
Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng may mặc xuất
khẩu Việt Nam trên thị trường Mỹ trước thềm hội nhập WTO.
Chương III: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng may
mặc xuất khẩu Việt Nam trên thị trường Mỹ trước thềm hội nhập WTO.

3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
SẢN PHẨM XUẤT KHẨU.
I/Khái quát về năng lực cạnh tranh.
1/Khái niệm năng lực cạnh tranh.
1.1/Cạnh tranh trong nền kinh tế.
- Là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực,gắn liền với sự
ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hoá.
- Adam Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết tương đối hoàn chỉnh
về cạnh tranh. Luận thuyết của ông dựa trên ý tưởng về vai trò của ” Bàn tay
vô hình” qua sự điều chỉnh biến động của giá cả thị trường và được thể hiện
rõ qua mô hình cạnh tranh hoàn hảo.Trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo,
mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, của người tiêu dùng là tiện
ích của mình, thị trường sẽ phân bổ tối ưu các nguồn lực khan hiếm vốn có
theo nghĩa, không thể có cách phân bổ khác có lợi hơn cho ai đó trong xã hội
mà không làm hại đến người nào khác. Tuy nhiên trong thực tế, hầu như
không tồn tại tất cả những giả thuyết về nhân tố hoàn hảo của thị trường. Mô
hình cạnh tranh hoàn hảo là không lý tưởng.
- Đến những năm 20 của thế kỷ 20, các nhà kinh tế học người Anh và
Mỹ đã đưa ra những nghiên cứu đầy đủ hơn về cạnh tranh- mô hình cạnh
tranh mang tính độc quyền.

nghiệp và cạnh tranh giữa các nền kinh tế, không có cạnh tranh của hàng hoá.
Vì bản thân hàng hoá không phải là một chủ thể kinh doanh và do đó nó
không thể tự cạnh tranh được. Nói cạnh tranh ở đây là nói đến hành vi của
chủ thể và vì vậy có hành vi của doanh nghiệp kinh doanh, của cá nhân kinh
doanh và của nền kinh tế không có hành vi của chủ thể. Trong quá trình các
chủ thể cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải
5
áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình
trên thị trường. Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó hoặc một
năng lực nào đó của chủ thể được gọi là năng lực cạnh tranh của chủ thể đó
hoặc khả năng cạnh tranh của chủ thể đó.
Trong thực tế, tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnh
tranh được sử dụng phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng sách
báo chuyên môn, giao tiếp hàng ngày của các chuyên gia kinh tế, các chính
khách các nhà kinh doanh. Nhiều khi khái niệm về năng lực cạnh tranh vừa tỏ
ra phổ biến lại hết sức mơ hồ.
Những khái niệm về năng lực cạnh tranh từ các góc độ khác nhau cũng
có sự khác biệt. Nguyên nhân ở đây là: Một là do phạm vi quá lớn để có thể
tiếp cận từ nhiều khía cạnh, năng lực cạnh tranh có thể là của doanh nghiệp,
ngành, lĩnh vực hoặc quốc gia và bao gồm tất cả các nhân tố ảnh hưởng tới
hiệu quả thị trường như các chính sách, cơ cấu thị trường và nghiệp vụ kinh
doanh về thương mại, đầu tư và các quy định. Hai là, không có sự rõ ràng khi
trả lời câu hỏi ai là người cạnh tranh, các nước hay công ty. Do đó, việc nhận
biết và phân loại những khái niệm năng lực cạnh tranh khác nhau là rất cần
thiết khi nghiên cứu về cạnh tranh trong hội nhập quốc tế.
1.2.1/Khái niệm năng lực cạnh tranh từ phạm vi quốc gia.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh ở tầm quốc gia theo nghĩa rộng nhất,
sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô. Có nhiều khái niệm về năng
lực cạnh tranh của một quốc gia. Theo WEF, năng lực cạnh tranh quốc gia là
khả năng đạt được và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính

tranh ở tầm quốc gia.
1.2.2/Khái niệm về năng lực cạnh tranh từ phạm vi của ngành, doanh
nghiệp.
Phần chung nhất cho hầu hết các khái niệm cạnh tranh xét từ phạm vi
của ngành, doanh nghiệp là ý niệm sức mạnh cạnh tranh dựa trên cơ số chi
7
phí thấp, sản phẩm tốt, công nghệ cao hoặc là tổ hợp của các yếu tố này. Một
nhà sản xuất thường được gọi là nhà sản xuất cạnh tranh nếu có khả năng
cung ứng 1 sản phẩm có chất lượng cao với mức giá thấp hơn.
Đầu tiên, trong lý thuyết tổ chức công nghiệp, khái niệm năng lực cạnh
tranh được áp dụng ở phạm vi xí nghiệp. Một xí nghiệp được xem là có sức
mạnh khi xí nghiệp đó duy trì được vị thế của mình trên thị trường cùng với
các nhà sản xuất khác với các sản phẩm thay thế, hoặc đưa ra thị trường các
sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn, hoặc cung cấp các sản phẩm tương
tự với các đặc tính về chất lượng, dịch vụ ngang bằng hoặc cao hơn.
- Ưu thế cạnh tranh của một nhà sản xuất so với các đối thủ cạnh tranh
trong một ngành công nghiệp được thể hiện trên hai mặt: ưu thế cạnh tranh
bên trong (ưu thế về chi phí) về ưu thế cạnh tranh bên ngoài ( ưu thế về mức
độ khác biệt hóa).
- Ưu thế cạnh tranh bên trong là ưu thế được thể hiện trong việc làm
giảm các chi phí sản xuất, chi phí quản lý của nhà sản xuất và tạo ra sản
phẩm có giá thành thấp hơn so với giá thành của các đối thủ cạnh tranh
nguy hiểm nhất.
Ưu thế cạnh tranh bên trong của nhà sản xuất có được là do khả năng
hạ thấp chi phí và do đó, nhà sản xuất này có hiệu quả cao hơn và có khả năng
vững chắc để chống lại sự giảm giá trên thị trường do biến động của các yếu
tố thị trường hoặc do cạnh tranh.
+ Ưu thế cạnh tranh bên ngoài (ưu thế về khác biệt hoá) là ưu thế dựa
vào chất lượng khác biệt của sản phẩm mà nhà sản xuất tạo ra so với các sản
phẩm của các đối thủ cạnh tranh, chất lượng khác biệt của sản phẩm phụ

đang nghiên cứu so với sản phẩm cùng loại trên cùng một thị trường, một
khoảng thời gian xác định.
Hơn nữa, các đặc điểm của nhà sản xuất được thể hiện ra bên ngoài
thông qua sản phẩm được nhà sản xuất thực hiện khi đưa ra thị trường.
Vì vậy, các yếu tố xác định năng lực cạnh tranh của ngành, công ty hay
9
quốc gia được kết tinh trong sản phẩm, khi sản phẩm đó được đặt trong môi
trường cạnh tranh quốc tế. Nói cách khác, sức cạnh tranh các sản phẩm trong
thương mại quốc tế là kết quả tổng hoà sức cạnh tranh của doanh nghiệp, của
ngành và của quốc gia.
Ở đây, bản chất của năng lực cạnh tranh sản phẩm là quá trình chuyển
hoá lợi thế của sản phẩm thành hiện thực mà những lợi thế này có được một
mặt do lợi thế so sánh tạo nên mặt khác do các tác động của các chính sách
hay các quy định của chính phủ tạo ra. Những đặc điểm, ưu thế của sản phẩm
biểu hiện sức cạnh tranh bao gồm: chi phí, giá thành sản xuất, chất lượng, giá
bán sản phẩm, sự khác biệt hoá của sản phẩm của nhà sản xuất trong nước so
với các nhà cạnh tranh quốc tế.
Lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm
có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không phải là lợi thế so sánh nào cũng
trở thành lợi thế cạnh tranh và cũng không có nghĩa lợi thế cạnh tranh nào
cũng là lợi thế so sánh. Một sản phẩm có lợi thế so sánh nhưng không được
khai thác có hiệu quả sẽ không tạo nên năng lực cạnh tranh, trong khi đó một
sản phẩm khác tuy lợi thế so sánh kém hơn so với lợi thế cạnh tranh nhưng
nhờ có chính sách hỗ trợ hợp lý của chính phủ hoặc môi trường thương mại
thuận lợi nên vẫn có thể có lợi thế cạnh tranh. Và lợi thế này chuyển hoá
thành năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Vấn đề là ở chỗ để một sản phẩm có
năng lực cạnh tranh trên thị trường nhất là trong môi trường thương mại quốc
tế hiện nay, cả doanh nghiệp và chính phủ cần phải phát hiện, nuôi dưỡng và
phát huy các lợi thế so sánh, khai thác có hiệu quả và luôn tìm cách tạo ra các
lợi thế mới hơn là chỉ tác động vào những sai biệt những giá cả để có sức

1.1/ Các yếu tố thuộc về khả năng tăng trưởng kinh tế đất nước.
Có 3 yếu tố liên quan đến tăng trưởng kinh tế đất nước và tạo ra năng
lực cạnh tranh:
- Tài trợ và nợ nước ngoài có ảnh hưởng đến luồng vốn và chất lượng
của nền tài chính quốc gia.
11
- Tiết kiệm và đầu tư ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn đầu tư.Nếu
khả năng tiết kiệm bị hạn chế mà yêu cầu đầu tư quá lớn sẽ dẫn đến lạm phát
và lãi suất vay vốn cao.
- Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng trực tiếp đến các hàng hoá xuất nhập khẩu.
Nếu tỷ giá đồng nội tệ so với ngoại tệ quá thấp sẽ khuyến khích xuất
khẩu,nhưng làm tăng giá hàng nhập khẩu và gây khó khăn trong thanh toán
nợ nước ngoài.
1.2/ Các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế.
- Chính sách thương mại .
Mỗi quốc gia khi áp dụng sẽ gây nên những tác động ngược chiều nhau
đến thương mại quốc tế.
+ Với nhập khẩu: chính sách hạn chế nhập khẩu sẽ làm giảm bớt lợi
thế của hàng hóa nhập khẩu.
+ Với xuất khẩu: chính sách khuyến khích xuất khẩu, tăng lợi thế của
hàng hoá trong nước khi xuất khẩu.
- Môi trường đầu tư ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận các
nguồn vốn của các doanh nghiệp: các thủ tục, quy chế và hiệu lực trong việc
thực hiện vay vốn của doanh nghiệp, khả năng phát triển các nguồn vốn dài
hạn và trung hạn.
- Chế độ tài chính.
Thực trạng và hoạt động của thị trường tài chính là một trong những
nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh chung của đất nước. Bởi vì tăng
trưởng kinh tế nhanh phụ thuộc chủ yếu vào khả năng của nền tài chính trong
việc huy động và phân bổ có hiệu quả tín dụng vào các ngành kinh tế của đất

+ Các giải pháp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
- Chiến lược phát triển của doanh nghiệp.
Mang lại cho doanh nghiệp triển vọng cạnh tranh dài hạn và đa phương
tiện. Chiến lược là cách thức mà nhờ đó doanh nghiệp đạt được các mục tiêu
dài hạn, nhờ có chiến lược phát triển mà doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu của
13
mình, tận dụng những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu còn tồn tại
bên trong doanh nghiệp. Đó có thể là các chiến lược về giá, chất lượng, dịch
vụ trước và sau bán, phát triển khách hàng.
III/ Những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuất
khẩu trước thềm hội nhập WTO.
Ngày nay, cùng với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế,
việc xác định và đo lường năng lực cạnh tranh quốc tế đang ngày càng thu hút
được sự quan tâm của các nhà kinh tế, đặc biệt là trong phân tích kinh tế quốc
tế. Tuy nhiên, do tính phức tạp, đa phương diện, đa chiều của lĩnh vực nghiên
cứu cho nên khó có sự thống nhất ngay từ khái niệm năng lực cạnh tranh sản
phẩm trong xu thế hội nhập WTO. Vì vậy, có nhiều cách tiếp cận khi tiến
hành đo lường, phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm.
Chúng ta có thể đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm thông qua
nhiều chỉ tiêu định tính như: chất lượng sản phẩm, độ tiện ích, an toàn khi sử
dụng sản phẩm, mức độ đa dạng hoá về kiểu dáng, mẫu mốt, tính phù hợp với
thị hiếu, tập quán, thói quen người tiêu dùng…
Và các chỉ tiêu định lượng như: hệ số khả năng cạnh tranh sản phẩm từ
chất luợng và giá cả, hệ số lợi thế so sánh hiển thị, chỉ số cạnh tranh quốc tế
từ chi phí đơn vị sản phẩm, chỉ số lợi thế so sánh dựa trên chi phí đầu vào
(RFC)...
Việc xác định và đánh giá các chỉ tiêu về sản phẩm thực hiện trên cả 2
phương diện: Vi mô và vĩ mô. Tuy nhiên, đề tài Nghiên cứu Khoa học chỉ xét
phạm vi chủ yếu ở tầm doanh nghiệp. Do vậy, khi đánh giá năng lực cạnh
tranh sản phẩm xuất khẩu, đề tài đưa ra sáu tiêu chí:

Ddn là lượng hàng hoá doanh nghiệp tiêu thụ
Dtt là tổng lượng hàng hoá tiêu thụ trên thị trường.
Chỉ tiêu Kdn luôn là một đại lượng nhỏ hơn 1 (Kdn <1)
- Chỉ tiêu phần thị trường tương đối của doanh nghiệp
15
Hdn = Kdn
Kdt
Trong đó: Hdn là phần thị trường tương đối của doanh nghiệp.
Kdn và Kdt là phần thị trường tuyệt đối của doanh nghiệp và của
đối thủ cạnh tranh.
Chỉ tiêu này dùng để so sánh phần thị trường của doanh nghiệp với
phần thị trường của đối thủ cạnh tranh, từ đó xác định vị thế của doanh nghiệp
trên thị trường. Tuy nhiên, chỉ số này có thể lớn hơn 1, bằng hoặc nhỏ hơn 1.
Đối thủ cạnh tranh được đưa vào phân tích ở đây là đối thủ cạnh tranh gần
nhất hoặc đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trên thị trường đang xem xét.
3/ Mức độ hấp dẫn của sản phẩm về mẫu mã, kiểu cách so với các
đối thủ cạnh tranh.
Là một yếu tố quan trọng tác động lớn đến khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng phong phú và đa dạng, vì vậy tiêu chí
này cần phải được kiểm duyệt khắt khe trong từng khâu từ bước đầu đến khi
hoàn thiện sản phẩm. Một doanh nghiệp, một quốc gia có thể cạnh tranh trên
thị trường quốc tế thì tính độc đáo, sức hấp dẫn về mẫu mã, kiểu cách càng có
tính chất quyết định. Đây là một tiêu chí bổ sung cho quá trình cạnh tranh sản
phẩm hàng hoá.
Tiêu chí này có thể được đánh giá thông qua số lượng, chủng loại hàng
hoá của quốc gia so với đối thủ cạnh tranh. Từ đó có thể xác định sự đa dạng
trong mẫu mã, kiểu cách của các sản phẩm, mà cụ thể ở đây là hàng may mặc.
4/ Mức chênh lệch về giá của sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh .
Theo định nghĩa Marketing, giá cả là biểu tượng giá trị của sản phẩm
trong hoạt động trao đổi, mua bán. Vì thế, giá cả có ảnh hưởng đến quyết định

đến nhãn hiệu, thương hiệu của sản phẩm đó. Nhãn hiệu hàng hoá không chỉ
tạo ra cho người tiêu dùng khả năng phân biệt hàng hoá dịch vụ cùng loại của
các cơ sở sản xuất kinh doanh mà còn tạo ra giá trị cá nhân cho người sử
17
dụng, sự yên tâm về chất lượng sản phẩm. Còn đối với các doanh nghiệp là
hình ảnh, là uy tín, là lời cam kết giữa doanh nghiệp và khách hàng, là tài sản
vô hình rất có giá trị. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia khi thâm nhập
vào thị trường xuất khẩu cần chú ý đến nhãn hiệu, thương hiệu của sản phẩm.
IV/ Những thuận lợi và khó khăn của hàng may mặc xuất khẩu
trong xu thế hội nhập WTO.
1/ Yêu cầu đặt ra với hàng may mặc xuất khẩu khi tham gia vào
thị trường Mỹ.
Là một nền kinh tế lớn nhất thế giới với rất nhiều ngành nghề tham gia
vào hoạt động xuất nhập khẩu, Mỹ thực sự xứng đáng với cương vị thị trường
đầy tiềm năng đối với các nhà xuất khẩu. Nhưng đồng thời, với hệ thống luật
pháp và chính sách thương mại rất phức tạp, các doanh nghiệp muốn kinh
doanh tại thị trường này cần phải thật hiểu biết hệ thống luật của Mỹ, các
doanh nghiệp may mặc cũng không phải là ngoại lệ. Dưới đây là một số chính
sách thương mại, các đạo luật thương mại của Mỹ.
1.1/ Các chính sách thương mại
1.1.1/Luật thuế quan và hải quan.
- Biểu thuế nhập khẩu.
Biểu thuế nhập khẩu của Mỹ là nội dung quan trọng nhất trong luật
thuế của Mỹ. Biểu thuế này có hơn 1600 trang, liệt kê chi tiết các loại hàng
hoá và thuế suất nhập khẩu, trong đó cột thuế suất dành cho hàng hoá nhập
khẩu từ những nước không có quy chế quan hệ thương mại bình thường với
Mỹ (NTR) và cột thuế dành cho các nước có quy chế NTR. Các loại thuế
quan được phân loại là thuế quan theo giá hàng hoá nhập, theo lượng và thuế
quan hỗn hợp.
- Quy chế tối huệ quốc (MFN ).

- Đánh dấu xuất xứ hàng hoá.
Các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất cần biết rằng: theo phần 304 của
đạo luật thuế quan, trừ khi được miễn thuế cụ thể, hàng hóa được sản xuất tại
19
nước ngoài được nhập khẩu vào Mỹ, phải được đánh dấu tên của nước sản
xuất ra hàng hóa đó, ở chỗ đáng lưu ý để có thể đọc được dễ dàng, không thể
xóa được, và giữ được càng lâu càng tốt. Nếu hàng hóa không được đánh dấu
khi nhập khẩu thì thuế đánh dấu sẽ tương đương 10% giá trị thuế quan của
hàng hóa được định giá. Bên cạnh những yêu cầu về đánh dấu tên nước sản
xuất, một vài cơ quan trong Chính phủ Mỹ đòi hỏi dấu hiện hay nhãn đặc biệt
với hàng dệt. Cục Hải quan sẽ không tiếp nhận bất kỳ loại hàng sao chép hay
làm giả nhãn hiệu hàng hóa, hay tên hàng giống hệt.
- Quy định về nhãn hiệu hàng hoá .
Luật áp dụng chủ yếu về nhãn hàng hoá là Luật xác định sản phẩm sợi
dệt và Luật về nhãn hiệu sản phẩm bằng len. Trừ một vài trường hợp ngoại lệ,
tất cả các sản phẩm sợi dệt khi nhập khẩu vào Mỹ đều phải được đóng dấu,
niêm phong kín và ghi nhãn hoặc được ghi những thông tin khác.
1.1.2/ Một số luật khác.
-Luật về vải dễ cháy.
Hầu hết các sản phẩm hàng dệt may nhập khẩu vào Mỹ để tiêu thụ đều
phải tuân thủ các quy định của Luật về sản phẩm dễ cháy. Luật này quy định
về tính dễ bén lửa đối với hàng dệt may. Không ai có thể xuất khẩu hàng hoá
vào Mỹ nếu họ không tuân thủ các tiêu chuẩn về hàng dễ cháy. Một số sản
phẩm được phép nhập khẩu vào Mỹ rồi gia công lại để giảm tính chất dễ cháy
của chúng nhưng phải đáp ứng được tiêu chuẩn của luật trên và điều này phải
được ghi trong hoá đơn hay giấy tờ liên quan khác của lô hàng.
- Luật chống bán phá giá.
Luật thuế chống bán phá giá được sử dụng rất rộng rãi trên thị trường
Mỹ. Thuế chống phá giá được ấn định vào hàng hoá nhập khẩu khi người ta
xác định được là hàng hoá nước ngoài được bán phá giá hoặc sẽ bán phá giá ở

khẩu vào Mỹ phải ghi rõ tem mác theo quy định: các thành phần sợi được sử
dụng có tỷ trọng trên 5% sản phẩm phải ghi rõ họ tên, các loại nhỏ hơn 5%
phải ghi là ’’các loại sợi không”.
21
Bên cạnh đó là các quy định về dán nhãn sinh thái, đây là quy định bảo
vệ môi trường trong đó các sản phẩm may mặc và nguyên liệu khi nhập khẩu
phải chịu một giới hạn chất có hại cho môi trường.
1.2/ Các tiêu chuẩn cần đáp ứng.
Đáp ứng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng là nhiệm vụ quan trọng và
là yếu tố cần thiết để các doanh nghiệp có thể đưa sản phẩm của mình ra cạnh
tranh trên thị trường đầy biến động và phức tạp.
* Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO.
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 được tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế công bố
năm 1987. Sự ra đời của bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đã tạo bước ngoặt trong hoạt
động tiêu chuẩn và chất lượng trên thế giới nhờ nội dung thiết thực của nó và
ở sự hưởng ứng rộng rãi, nhanh chóng của nhiều nước, đặc biệt là trong các
ngành công nghiệp.
Cấu trúc của bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 được chia thành các tiêu
chuẩn sau:
ISO 9000: 2000 Hệ thống quản lý chất lượng- Cơ sở từ vựng.
ISO 9001: 2000 Hệ thống quản lý chất lượng- Các yêu cầu.
ISO 9000: 2000 Hệ thống quản lý chất lượng- Hướng dẫn cải tiến thực
hiện.
ISO 19011: 2000 Các hướng dẫn đánh giá hệ thống chất lượng và môi
truờng.
ISO 9004: 2000 được sử dụng với ISO 9001:2000 như là một cặp thống
nhất các tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng ở một phạm vi rộng lớn.
Cấu trúc của ISO 9001:2000 được phân làm 8 điều khoản, bao gồm các
yêu cầu của hệ thống (Mục 1,2,3 là giới thiệu, phạm vi, thuật ngữ- từ vựng).
Mục 4 Bao gồm các yêu cầu chung.

Liên hợp quốc về quyền trẻ em và Tuyên bố toàn cầu về nhân quyền. SA
23
8000 được khởi xướng bởi Hội đồng công nhận Quyền ưu tiên kinh tế.
Nội dung của SA 8000: Tuổi đời tối thiểu và các khuyến nghị, khuyến
nghị về sức khoẻ và an toàn nghề nghiệp, thoả ước lao động có hiệu lực;xoá
bỏ cưỡng bức lao động.
Hệ thống quản trị trách nhiệm xã hội theo tiêu chuẩn SA 8000 cũng
được thực hiện dựa trên chu trình P-D-C-A( lập kế hoạch- thực hiện- kiểm
tra- hành động khắc phục) .
Khi thực hiện SA 8000, các doanh nghiệp có lợi trong việc nâng cao
khả năng cạnh tranh, giảm chi phí các yêu cầu, tăng năng suất của tổ chức
với quan hệ khách hàng tốt hơn và trong thời gian dài người tiêu dùng tín
nhiệm hơn.
2/ Những thuận lợi và khó khăn của hàng may mặc xuất khẩu khi
gia nhập WTO.
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) chính thức ra đời vào ngày
1/1/1995 theo hiệp định thành lập tổ chức này ký tại Marakesh ( Marốc ) ngày
15/4/1994, và là kết quả của vòng đàm phán Uruguay, vòng thương thảo mậu
dịch toàn cầu. WTO là một tổ chức mang tính thể chế của hệ thống thương
mại đa phương. Nó đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế thế giới về cải
thiện môi trường đầu tư và tạo công ăn việc làm, cũng như góp phần thúc đẩy
tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trong đó, vai trò hàng đầu của WTO đối với
nền kinh tế thế giới là hoạch định chính sách thương mại toàn cầu theo hướng
ngày càng tự do hoá triệt để hơn.
Gia nhập WTO trong thời đại toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
là một xu thế khách quan. Đối với các nước đang phát triển, hội nhập kinh tế
quốc tế góp phần đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế, tạo những ý nghĩa
quan trọng đối với các vấn đề kinh tế- xã hội. Hàng may mặc là sản phẩm tạo
nên lợi thế cạnh tranh và sức bật kinh tế lớn, vì đây là sản phẩm có liên hệ với
di sản văn hoá truyền thống, đặc biệt là tại các nước đang phát triển. Tuy vậy,

25

Trích đoạn Thành tựu đạt được. Chiến lược phát triển ngành may mặc. Duy trì lợi thế về giá nhân công trong chi phí sản xuất Nâng cao kỹ năng đàm phán với các doanh nhân Mỹ và nên mua bảo hiểm rủi ro xuất khẩu hàng may mặc vào thị trường Mỹ.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status