năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản việt nam trên thị trường mỹ - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước
Việt Nam, là một trong những biện pháp quan trọng để tạo ra đột phá tăng
trưởng cao, chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa (CNH, HĐH). Xuất khẩu được đẩy mạnh sẽ góp phần giải quyết công ăn
việc làm cho xã hội, tạo nguồn dự trữ ngoại tệ, kích thích đầu tư, đáp ứng
được yêu cầu của CNH, HĐH đất nước. Muốn đẩy mạnh xuất khẩu thì việc
lựa chọn mặt hàng xuất khẩu chủ lực và thị trường nhập khẩu tiềm năng lớn là
hết sức quan trọng.
Thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt
Nam, trong hơn một thập kỷ qua kim ngạch xuất khẩu (KNXK) của mặt hàng
này đã gia tăng một mức đáng kể. Năm 1995, KNXK thủy sản mới ở mức
550,5 triệu USD thì đến năm 2005, KNXK thủy sản đã đạt 2,6 tỷ USD, tỷ lệ
bình quân mỗi năm tăng 14,5%. Hiện nay thị trường xuất khẩu thủy sản
(XKTS) của Việt Nam đã được mở rộng tới trên 105 nước và vùng lãnh thổ
trên thế giới. Thủy sản Việt Nam ngày càng có chỗ đứng vững chắc trên thị
trường thế giới và hàng thủy sản của Việt Nam đã thâm nhập được một số thị
trường lớn như Mỹ, Nhật, EU…
Quan hệ thương mại Việt Nam - Mỹ bắt đầu phát triển từ sau khi Mỹ
bỏ chính sách cấm vận đối với nước ta. Hiệp định thương mại Việt Nam - Mỹ
(BTA) được ký kết và có hiệu lực vào ngày 10/12/2001, đã đánh dấu bước đột
phá và cơ hội lớn để đẩy mạnh và mở rộng quan hệ thương mại giữa hai quốc
gia, đặc biệt tạo điều kiện cho việc mở rộng hoạt động xuất khẩu của Việt
Nam vào thị trường Mỹ. Thị trường Mỹ là một thị trường lớn và nhiều tiềm
năng, việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa nói chung và hàng thủy sản nói
1
riêng sang thị trường Mỹ là hết sức cần thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với
tiến trình CNH, HĐH của Việt Nam.
Trong bối cảnh khu vực hóa, toàn cầu hóa kinh tế đang tác động mạnh
mẽ đến mọi quốc gia, tính chất cạnh tranh về kinh tế giữa các quốc gia ngày

chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003); "Đổi mới chính sách nhằm
thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế" (TS. Lê Thị Vân Anh, Nxb Lao động, Hà Nội, 2003); "Chiến lược thâm
nhập thị trường Mỹ", (GS. Võ Thanh Thu, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003);
"Đánh giá tác động kinh tế của hiệp định thương mại song phương Việt Nam
- Hoa Kỳ" (Dự án STAR Việt Nam và Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003). "Một số biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hóa Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ" (Đề tài Bộ Thương mại, năm
2000) Các nghiên cứu này đã khái quát được khá đầy đủ thực trạng năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế nước ta hiện nay và nêu các giải pháp để nâng cao
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung, hàng xuất khẩu Việt Nam nói
riêng tới các thị trường trên thế giới, trong đó có thị trường Mỹ. Các nghiên
cứu này cũng đã nêu được các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của
quốc gia, công ty và sản phẩm. Một số tài liệu cũng đã nghiên cứu và đưa ra
các giải pháp tổng quát nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng Việt Nam vào thị
trường Mỹ. Tuy nhiên, những đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất
khẩu của Việt Nam nói chung và hàng thủy sản xuất khẩu vào Mỹ nói riêng, còn
khá mờ nhạt.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu đã nêu, cũng có khá nhiều các
nghiên cứu dưới dạng dự án (sản phẩm nghiên cứu chưa được xuất bản), có
nội dung liên quan đến đề tài, trong đó tiêu biểu như: "Nâng cao năng lực
cạnh tranh của hàng nông lâm thủy sản" (Dự án của Bộ Nông nghiệp và Phát
3
triển nông thôn, 4/2003); "Nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa và dịch vụ
Việt Nam" (Đề án của Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế phối hợp
với các Bộ/ngành, 10/2001), "Phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa
Kỳ" (Đề tài của Trung tâm tư vấn và đào tạo kinh tế thương mại); "Chương
trình phát triển xuất khẩu thủy sản đến năm 2010 và tầm nhìn 2020" (Dự thảo
lần 4 của Ban chỉ đạo chương trình phát triển XKTS của Bộ Thủy sản, năm
2006). Các nghiên cứu này đã phân tích khá kỹ và có tính hệ thống về lý

Nam trên thị trường Mỹ từ giai đoạn hai bên bình thường hóa quan hệ ngoại
giao đến nay và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu
hàng thủy sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ đến năm 2010. Do mục tiêu
và nhiệm vụ nghiên cứu đã nêu, luận văn không đi sâu nghiên cứu những vấn
đề thuộc về kỹ thuật, nghiệp vụ của ngành thủy sản mà định hướng nghiên
cứu vào các vấn đề có tính vĩ mô.
5. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp nghiên cứu truyền thống được sử dụng trong
nghiên cứu kinh tế, luận văn sẽ sử dụng thêm hai phương pháp phân tích cạnh
tranh hiện đại là SWOT, GAP.
Lợi thế cạnh tranh hàng thủy sản xuất khẩu được phân tích theo từng
phương pháp riêng biệt hoặc kết hợp giữa các phương pháp phân tích cạnh
tranh khác nhau. Phương pháp phân tích SWOT sẽ được áp dụng như là
phương pháp cơ bản nhất trong phân tích cạnh tranh của sản phẩm thủy sản
5
xuất khẩu sang Mỹ. Phương pháp phân tích này dựa vào thống kê các điểm
mạnh, yếu, cơ hội, thách thức trong tất cả các khía cạnh ảnh hưởng đến hoạt
động xuất khẩu của sản phẩm thủy sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ ở
từng thời điểm cụ thể. Các khía cạnh này thuộc về các yếu tố: điều kiện tự
nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân công, số lượng, chất lượng, chủng loại, giá cả,
công nghệ chế biến, bảo quản công tác xúc tiến thương mại, hệ thống phân
phối, quan hệ thương mại Việt - Mỹ, hệ thống cơ sở hạ tầng, hàng rào thuế
quan và kỹ thuật của Mỹ
Phương pháp phân tích GAP là so sánh mức độ cạnh tranh giữa các yếu
tố đã nêu của sản phẩm thủy sản tiêu thụ tại thị trường Mỹ (bao gồm tất cả các
nguồn gốc xuất xứ - trong và ngoài nước Mỹ)… So sánh tất cả các yếu tố cấu
thành năng lực cạnh tranh giữa các sản phẩm thủy sản ở Mỹ là việc làm rất khó,
do đó chỉ một số yếu tố cơ bản và nguồn cung cấp chủ yếu được lựa chọn để phân
tích so sánh. Các yếu tố này thường bao gồm các chỉ số quan trọng là thị phần
xuất khẩu, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu, điều kiện sản xuất chế biến, phân

 Khái niệm về cạnh tranh: Ở mỗi thời kỳ lịch sử có quan niệm khác
nhau về khái niệm, phạm vi và các cấp độ của cạnh tranh. Từ lâu, lý luận về
cạnh tranh đã được nhiều nhà kinh tế nổi tiếng trên thế giới nghiên cứu. Adam
Smith được coi là người có công đầu trong việc đưa ra lý luận cạnh tranh một
cách có hệ thống. Theo ông, thuộc tính cơ bản của kinh tế thị trường là tự do
cạnh tranh, không có cạnh tranh thì không có kinh tế thị trường đích thực.
Cạnh tranh được thực hiện thông qua thị trường và giá cả. Trong tự do cạnh
tranh các cá nhân phải ganh đua, thậm chí chèn ép nhau để đạt được mục đích
của mình và điều đó buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm việc của mình một
cách chính xác. Cạnh tranh khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người trong
sản xuất ra hàng hóa, tìm kiếm lợi nhuận, từ đó làm tăng của cải cho nền kinh
tế quốc dân.
Các Mác không xây dựng lý luận riêng về cạnh tranh trong các nghiên
cứu của ông, nhưng lý luận về cạnh tranh cũng được ông đề cập đến nhiều khi
nghiên cứu về lý luận giá trị, lý luận về tư bản và giá trị thặng dư. Theo C. Mác,
điều kiện dẫn đến sự ra đời và tồn tại của cạnh tranh là phân công lao động xã
hội và quyền sở hữu độc lập của chủ thể. Phân công lao động xã hội theo
nghĩa rộng tức là sự phân công lao động xã hội trong một đơn vị kinh tế, giữa
các doanh nghiệp, giữa các ngành trong một nền kinh tế quốc dân và giữa các
8
nền kinh tế trong khu vực hay phạm vi thế giới. Trong nền kinh tế thị trường,
các chủ thể có quyền sở hữu độc lập đều theo đuổi lợi ích kinh tế riêng và
chính điều đó tạo nên động lực của cạnh tranh. Cạnh tranh có khả năng điều
tiết sự phân phối tư bản và các nguồn lực xã hội giữa các ngành sản xuất khác
nhau. Cạnh tranh làm thúc đẩy sự phát triển của kỹ thuật sản xuất, làm thay
đổi kết cấu tổ chức kinh tế và thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế xã hội.
Cạnh tranh diễn ra dưới ba hình thức: Một là, cạnh tranh giữa các nhà tư bản
nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch, ở hình thức này các nhà tư bản cạnh
tranh trực tiếp với nhau thông qua hạ giá thành bằng cách đua nhau áp dụng
công nghệ tiến bộ, kỹ thuật mới để nâng cao năng suất lao động cá biệt và hạ

kinh tế là giành lợi thế để hạ thấp giá cả của các yếu tố "đầu vào" trong chu
trình sản xuất - kinh doanh và nâng cao giá "đầu ra", sao cho giành được mức
lợi nhuận cao nhất với mức chi phí hợp lý nhất. Như vậy, trên quy mô toàn xã
hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do
đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mặt khác,
đồng thời với tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh
cũng là yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung tư bản không đồng đều
ở các doanh nghiệp. Cạnh tranh còn là môi trường phát triển mạnh mẽ cho các
chủ thể kinh doanh thích nghi được với các điều kiện thị trường, đào thải các
doanh nghiệp ít khả năng thích ứng, dẫn đến quá trình tập trung hóa trong
từng ngành, vùng, quốc gia
Có thể khái quát định nghĩa về cạnh tranh như sau:
Cạnh tranh là một quá trình tranh đấu mà trong đó, các chủ
thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (kể cả nghệ thuật lẫn
thủ đoạn kinh doanh) để đạt được mục tiêu kinh tế chủ yếu của
mình) như: chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng, cũng như
đảm bảo tiêu thụ hàng hóa có lợi nhất, nhằm nâng cao vị thế của
10
mình. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình
cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích: đối với người kinh doanh là lợi
nhuận, còn đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng [44, tr. 7]
 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế: Trên bình diện nền kinh
tế quốc gia, cạnh tranh có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần phân
bổ nguồn lực hiệu quả nhất thông qua việc kích thích các doanh nghiệp sử
dụng các nguồn lực tối ưu, góp phần phân phối lại thu nhập một cách hiệu quả
hơn và đồng thời góp phần nâng cao phúc lợi xã hội.
Trên bình diện doanh nghiệp, bằng sự hấp dẫn của lợi nhuận từ việc đi
đầu về chất lượng, mẫu mã cũng như áp lực phá sản, cạnh tranh buộc các
doanh nghiệp phải luôn cải tiến, nâng cao công nghệ, phương pháp sản xuất,
quản lý nhằm nâng cao uy tín của mình. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp

với nhau, cạnh tranh giữa những người bán với nhau; cạnh tranh giữa những
người mua với nhau; cạnh tranh giữa người bán và người mua.
Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể thì có cạnh tranh trong nội
bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành mà các nhà kinh tế học chia thành hai
hình thức là: "cạnh tranh dọc" và "cạnh tranh ngang".
 Cạnh tranh dọc: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi
phí bình quân thấp nhất khác nhau. Cạnh tranh dọc làm cho thay đổi giá bán
và doanh nghiệp sẽ có "điểm dừng". Sau một thời gian nhất định sẽ hình
thành một giá thị trường thống nhất và doanh nghiệp nào có chi phí bình quân
cao sẽ bị phá sản, còn các doanh nghiệp có chi phí bình quân thấp nhất sẽ thu
được lợi nhuận cao và phát triển.
12
 Cạnh tranh ngang: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức
chi phí bình quân thấp nhất như nhau. Do đặc điểm này nên sẽ không có
doanh nghiệp nào bị loại ra khỏi thị trường song giá cả thấp ở mức tối đa, chỉ
có người mua hưởng lợi nhiều nhất còn lợi nhuận doanh nghiệp giảm dần.
Sau một thời gian nhất định sẽ xuất hiện khuynh hướng: hoặc liên minh với
nhau bán hàng giá cao, giảm lượng bán - tiến tới độc quyền, hoặc tìm cách
giảm chi phí bằng cách nâng cao năng lực quản lý, tổ chức và hiện đại hóa
công nghệ , tức là chuyển sang cạnh tranh dọc, như nêu trên.
Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh thì có cạnh tranh lành
mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Trong cạnh tranh, các chủ thể kinh tế
sẽ dùng tất cả các biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn, để đạt được mục
tiêu kinh tế của mình. Có những biện pháp cạnh tranh hợp pháp hay cạnh
tranh lành mạnh (Healthy Competition). Ngược lại, có những thủ đoạn phi
pháp, nhằm tiêu diệt đối phương chứ không phải bằng nỗ lực vươn lên của
mình, gọi là cạnh tranh bất hợp pháp hay cạnh tranh không lành mạnh
(Unfair Competition).
Xét theo hình thái cạnh tranh, thì có: cạnh tranh hoàn hảo và cạnh
tranh không hoàn hảo.

349].
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và
Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa về năng lực cạnh tranh trên cơ sở
kết hợp cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: Sức cạnh tranh là
khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra
việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
14
 Các cấp độ của năng lực cạnh tranh:
Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành ba cấp độ: Năng lực
cạnh tranh quốc gia; năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; năng lực cạnh
tranh của sản phẩm hàng hóa.
- Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia:
Năng lực cạnh tranh quốc gia là một chỉ tiêu tổng hợp, bao gồm nhiều
nhóm yếu tố khác nhau: chất lượng và trình độ phát triển của thể chế nhà
nước, vai trò quản lý của nhà nước, các thể chế của kinh tế thị trường, độ mở
của nền kinh tế, trình độ quản lý của doanh nghiệp, kết cấu hạ tầng kỹ thuật,
chất lượng và số lượng lao động và khoa học - công nghệ là những yếu tố
quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia.
Năng lực cạnh tranh của một quốc gia được quyết định bởi sự lành
mạnh của các môi trường kinh tế vĩ mô, vi mô, chất lượng chiến lược và hiệu
quả kinh doanh của các công ty (theo Goger H. Ford, 2003). Còn theo
A.Warner, năng lực cạnh tranh của quốc gia là khả năng đạt được tốc độ tăng
trưởng nhanh GDP/đầu người trong suốt thời gian dài.
Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF năm 1997 định nghĩa năng lực cạnh
tranh quốc gia là "năng lực của nền kinh tế quốc dân đạt và duy trì được mức
tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế và các đặc trưng kinh tế
khác tương đối vững chắc" [44, tr. 9].
Như vậy, tuy có sự khác nhau trong các khái niệm, định nghĩa nhưng tất
cả đều có điểm chung cơ bản là cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của một quốc
gia được quyết định bởi năng suất các thành tố, nhờ đó duy trì được tốc độ tăng

16
tương quan so sánh với các doanh nghiệp khác (về vốn, công nghệ, nguồn
nhân lực, thương hiệu, kinh nghiệm quản lý ).
Nhìn chung trong chiến lược phát triển của mình, các doanh nghiệp
đều phải tính toán đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Tùy thuộc vào điều
kiện cụ thể, doanh nghiệp tập trung đầu tư vào những yếu tố phù hợp và từng
bước nâng trình độ phát triển lên mức cao hơn. Năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp không chỉ được quyết định bởi quy mô sản xuất mà còn phụ
thuộc rất nhiều vào khâu tiêu thụ, khuyến mại, nghiên cứu thị trường.
- Năng lực cạnh tranh của hàng hóa:
Năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ là cơ sở tạo nên sức
cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành và thể hiện tập trung ở các yếu tố:
giá cả, chất lượng, hệ thống phân phối và thương hiệu của doanh nghiệp.
Một hàng hóa được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng được
nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc
đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì hơn hẳn so với những sản phẩm
hàng hóa cùng loại. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa lại được
quyết định bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Không thể có năng lực
cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa cao trong khi doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh sản phẩm đó có năng lực cạnh tranh thấp.
Cạnh tranh về giá cả là một công cụ quan trọng để nâng cao năng lực
cạnh tranh của hàng hóa. Nếu hai hàng hóa cùng loại và có chất lượng như
nhau, thì hàng hóa nào được bán với giá thấp hơn sẽ thu hút được nhiều khách
hàng hơn. Giá cả hàng hóa được quyết định bởi giá thành của nó. Muốn hạ
giá thành sản phẩm thì doanh nghiệp phải cải tiến tổ chức quản lý sản xuất,
đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, khai thác nguồn nguyên liệu
đầu vào với chi phí thấp
17
Cạnh tranh về chất lượng là nội dung thứ hai có tính then chốt trong
các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa. Hàng hóa có công

của doanh nghiệp là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ với
nhau. Năng lực cạnh tranh của hàng hóa có được do năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp tạo ra. Ngược lại, mặc dù năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
không chỉ do năng lực cạnh tranh của hàng hóa mà còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khác nữa, nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa có ảnh
hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tổng số năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp của một nước tạo
thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia đó. Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp bị hạn chế nếu năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực
cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa thấp. Năng lực cạnh tranh quốc gia thể
hiện qua môi trường kinh doanh, khả năng cạnh tranh quốc tế và trong nước.
Sự ổn định về hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội, việc mở rộng các quan hệ
kinh tế đối ngoại, các chính sách kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp có ảnh
hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của sản phẩm
hàng hóa trong quốc gia đó.
Các cấp độ cạnh tranh có mối liên hệ hữu cơ với nhau, trong đó năng
lực cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ là kết quả của năng lực cạnh tranh quốc
gia và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời năng lực cạnh tranh
của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường phản ánh một cách tổng quát nhất khả
năng cạnh tranh quốc gia và doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của một quốc
gia thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ở quốc gia đó và
năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa lại phản ánh năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của hàng hóa chịu tác động của các
19
yếu tố vĩ mô, được thể hiện ở năng lực cạnh tranh quốc gia và các yếu tố vi
mô là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Chính vì vậy các giải pháp
để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa bao gồm các giải pháp ở cả cấp độ
quốc gia và cấp độ doanh nghiệp. Để đánh giá được năng lực cạnh tranh của
hàng hóa trong một giai đoạn nhất định cần đánh giá năng lực cạnh tranh đó
trong bối cảnh vận động của nền kinh tế trong nước và quốc tế, so sánh nó với

hàng hóa đó.
Thủy sản là một ngành sản xuất nông nghiệp chuyên môn hóa hẹp, với
các sản phẩm chủ yếu phục vụ cho nhu cầu ăn - một nhu cầu thiết yếu của con
người, các sản phẩm của ngành thủy sản rất đa dạng như các loài tôm, cá,
nhuyễn thể và các loại thủy sản đặc biệt khác. Xuất khẩu thủy sản là việc bán
ra nước ngoài những hàng hóa thủy sản được khai thác, nuôi trồng, chế biến ở
trong nước. Cũng như việc xuất khẩu các hàng hóa khác, xuất khẩu thủy sản
có tác dụng thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, mang lại nguồn thu ngoại
tệ, góp phần tăng tích lũy vốn cho người sản xuất, người xuất khẩu và cho nền
kinh tế nói chung. Năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản xuất khẩu chịu ảnh
hưởng của các nhân tố tác động đến hàng hóa xuất khẩu nói chung và những
nhân tố riêng có, phù hợp với đặc thù của ngành thủy sản. Các yếu tố ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản xuất khẩu có thể được chia
thành hai nhóm chủ yếu đó là các yếu tố thuộc môi trường cạnh tranh và các
yếu tố thuộc về hàng hóa.
1.1.2.1. Các yếu tố thuộc môi trường cạnh tranh
- Điều kiện tự nhiên: Các yếu tố về điều kiện tự nhiên thuận lợi như vị
trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng
cao khả năng cạnh tranh.Vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúp doanh nghiệp giảm
21
được chi phí vận chuyển dẫn tới giảm giá bán hàng hóa. Hoặc tài nguyên
thiên nhiên phong phú giúp doanh nghiệp có được khối lượng hàng hóa đầu
vào ổn định với giá thấp. Đối với hàng thủy sản xuất khẩu, yếu tố về điều kiện
tự nhiên có tác động rất quan trọng đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh.
Một quốc gia có bờ biển dài, hệ thống sông hồ thuận lợi cho việc nuôi trồng,
đánh bắt thủy sản với những chủng loại sản phẩm đa dạng, phong phú, có
GTGT cao thì quốc gia đó có những lợi thế rất lớn để phát triển ngành thủy
sản nói chung, hàng thủy sản xuất khẩu nói riêng. Thủy sản là một ngành
kinh tế gắn chặt với điều kiện tự nhiên không chỉ trong khâu đánh bắt, chế
biến mà còn ở cả việc nuôi trồng, tạo nguồn giống và việc vận chuyển đến các

chính sách mở rộng tài chính và nới lỏng tiền tệ. Chính sách thương mại "mở"
hay "đóng" sẽ có tác dụng thúc đẩy hay hạn chế khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Để thực hiện chính sách thương mại
"mở cửa", Chính phủ cần thỏa thuận để ký các hiệp định thương mại song
phương và đa phương với các nước, tham gia hội nhập thương mại quốc tế.
Việc hội nhập thương mại quốc tế sẽ buộc các doanh nghiệp phải nâng cao
năng lực cạnh tranh của mình, bởi vì mức độ cạnh tranh trên thị trường quốc
tế gay gắt hơn rất nhiều so với cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước.
- Chính trị: Môi trường chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển
kinh tế đất nước nói chung, đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói
riêng. Sự ổn định về chính trị ở từng quốc gia cũng như mối quan hệ chính trị
tốt với các quốc gia khác sẽ tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các
doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu. Các quan điểm, chính sách của
Chính phủ tác động mạnh mẽ đến hoạt động của doanh nghiệp trong việc xác
định phạm vi, lĩnh vực, mặt hàng đối với từng thị trường và các đối tác khác
23
nhau. Sự hậu thuẫn của Chính phủ thông qua mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại là nhân tố không thể không tính đến trong chiến lược mở rộng thị
trường xuất khẩu của các doanh nghiệp. Mặt khác, doanh nghiệp muốn chiếm
lĩnh được thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh thì việc tìm hiểu về hệ
thống chính trị cũng như tình hình chính trị tại các thị trường mà doanh
nghiệp đó hướng tới, là rất cần thiết. Sự can thiệp của Chính phủ các nước sẽ
diễn ra với những mức độ khác nhau đối với doanh nghiệp của các quốc gia,
cho nên để thành công trong kinh doanh tại nước ngoài, các doanh nghiệp
phải tìm hiểu xem chính phủ nước đó được thành lập và hoạt động theo
nguyên tắc nào, chính sách ngoại thương, chính sách bảo hộ ngành kinh tế,
bảo vệ người tiêu dùng… sẽ ảnh hưởng như thế nào đến chiến lược xuất khẩu
tại thị trường đó?
- Luật pháp, văn hóa xã hội: Luật quốc tế và luật của từng quốc gia có
ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của các

khẩu. Do vậy, cạnh tranh về giá của sản phẩm thủy sản xuất khẩu phụ thuộc
vào việc hạ thấp chi phí ở các công đoạn trước đó. Trong hoạt động đánh bắt
thủy sản thì phải đầu tư đổi mới các phương tiện đánh bắt, các phương tiện
bảo quản hiện đại nhằm giảm thiểu tỷ lệ thối hỏng sau đánh bắt. Đối với hoạt
động nuôi trồng, phải chú trọng đến đầu tư thâm canh có trọng điểm, chọn
giống nuôi tốt, có năng suất cao. Đối với khâu chế biến phải đầu tư các dây
chuyền chế biến hiện đại, nâng cao năng suất lao động nhằm gia tăng hiệu
suất thu hồi, nâng cao tỷ lệ hữu ích của sản phẩm. Đối với lưu thông hàng hóa
phải có các phương án bảo quản, vận chuyển hợp lý nhằm giảm thiểu chi phí.
- Chất lượng hàng hóa: Với cùng một loại hàng hóa, nhưng hàng hóa
nào có chất lượng cao hơn, có thể là giá đắt hơn cũng sẽ được người tiêu dùng
ưu tiên mua. Vì vậy, chất lượng hàng hóa là yếu tố quan trọng hàng đầu để
các doanh nghiệp sử dụng để cạnh tranh với những doanh nghiệp khác. Chất
25

Trích đoạn Về cơ cấu hàng xuất khẩu chủ lực Về điều kiện sản xuất, chế biến, phân phối sản phẩm ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ Hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trong hiểu biết hệ thống luật pháp của Mỹ và trợ giúp pháp lý khi cần thiết
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status