LỜI MỞ ĐẦU
Khu vực hoá và toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của quá trình phát triển
kinh tế thế giới. Lịch sử đã chứng minh rằng, không một quốc gia nào
bằng chính sách “đóng cửa” với nước ngoài lại phát triển có hiệu quả nền
kinh tế trong nước. Muốn phát triển nhanh, mỗi nước không thể đơn độc
dựa vào nguồn lực của mình mà phải biết tận dụng có hiệu quả tất cả
những thành tựu kinh tế, khoa học kỹ thuật của loài người đã đạt được.
Nền kinh tế “mở cửa” sẽ mở ra những tiềm năng sẵn có của một nước
nhằm sử dụng sự phân công lao động một cách có lợi nhất. Ngay cả một
nước như Trung Quốc tự coi mình là “một quốc gia xã hội chủ nghĩa vĩ
đại,... với nguồn lao động to lớn, với nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có
và một thị trường trong nước khổng lồ, có mọi phương tiện trong tay để
xây dựng đất nước và phát triển kinh tế từ bên trong” coi “nguyên tắc độc
lập và tự lực cánh sinh là nguyên tắc cơ bản cho xây dựng kinh tế” mà
cuối cùng đã phải thốt lên rằng: “chính vì sự biệt lập kéo dài đó với thế
giới bên ngoài, Trung Quốc đã lỡ mất nhiều cơ hội có lợi trong bối cảnh
quốc tế thuận lợi. Hố ngăn cách về công nghệ giữa Trung Quốc và các
nước ngày càng tăng. Do thiếu sự cạnh tranh trên thị trường quốc tế nên
sản phẩm nội địa của Trung Quốc ngày càng giảm sức cạnh tranh. Một số
sản phẩm công nghiệp không thể nâng cao được chất lượng và số lượng
vì những hạn chế của thị trường trong nước”.
Tình trạng cấm chợ ngăn sông, hạn chế cạnh tranh kinh tế quốc tế,
thực hiện chế độ bảo hộ dưới mọi hình thức khác nhau gây thiệt hai to
lớn, lãng phí cho nền kinh tế thế giới ở phương diện tổng thể. Thật vô lý
khi người ta phải mua những hàng hoá đắt hơn hoặc chất lượng thấp hơn,
xấu hơn trong khi vẫn có người sẵn sàng bán những hàng hoá đó với giá
rẻ hơn chất lượng tốt hơn. Điều đó cũng có nghĩa rằng tham gia vào thị
trường thế giới, các nước phải chấp nhận sự cạnh tranh quyết liệt.
Với chính sách đổi mới mở cửa, Việt Nam sẽ trở thành thị trường
cạnh tranh của các công ty đa quốc gia và Việt Nam sẽ phải cạnh tranh
1
sót. Em mong rằng sẽ nhận được nhiều sự đóng góp ý kiến của thầy cô
cùng toàn thể các bạn để Đề án được hoàn thiện hơn.
2
Em xin chân thành cảm ơn !
3
PHẦN I
TÍNH TẤT YẾU VÀ VAI TRÒ CỦA CẠNH TRANH
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1-/ TÍNH TẤT YẾU CỦA CẠNH TRANH TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ:
Kinh tế thị trường là nền kinh tế chủ yếu được điều tiết bởi thị trường. Nền
kinh tế thị trường đòi hỏi phải giải quyết các vấn đề cơ bản: sản xuất cái gì, sản
xuất như thế nào, sản xuất cho ai, và nó đều chịu sự tác động của các quan hệ cung
cầu, quan hệ cạnh tranh và giá cả thị trường.
Một điều tất yếu và là đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường đó là:
bất kỳ một chủ thể nào tham gia vào thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh. Khi
nói tới cạnh tranh là nói tới thị trường và ngược lại, nói tới thị trường là nói tới
cạnh tranh. Ngược lại, thị trường mà không có cạnh tranh thì không còn là thị
trường nữa. Mặt tích cực của thị trường cũng là mặt tích cực của cạnh tranh. Mặt
tiêu cực của thị trường, tồn tại theo quan niệm của nhiều người; cũng là mặt tiêu
cực của cạnh tranh. Ý đồ tạo thị trường không có cạnh tranh, “thị trường có tổ
chức” đã sụp đổ hoàn toàn vì nó không tạo ra được cơ chế phân phối tối ưu các
nguồn lực của xã hội. Triệt tiêu cạnh tranh là làm mất tính năng động, sáng tạo của
mỗi con người cũng như của toàn xã hội, nền sản xuất xã hội sẽ không còn hiệu
quả - nguồn gốc của việc nâng cao đời sống nhân dân.
Cạnh tranh phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá tư bản
chủ nghĩa. Vậy cạnh tranh là gì?
Theo Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư
bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Còn theo cuốn từ điển kinh doanh (xuất bản 1992 ở Anh), cạnh tranh trong cơ
2-/ VAI TRÒ CỦA CẠNH TRANH:
- Cạnh tranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Cội nguồn của sự cạnh
tranh là sự tự do trong sản xuất kinh doanh, đa dạng kiểu dáng, nhiều chủ thể tham
gia. Cạnh tranh thực chất là một cuộc chạy đua không có đích. Ai cảm nhận thấy
đích thì người đó trở thành nhịp cầu cho các đối thủ vượt lên phía trước. Chạy đua
về mặt kinh tế phải luôn luôn ở phía trước để tránh những trận đòn của người chạy
phía sau, và không phải chỉ để thắng một trần tuyết giữa các đối thủ mà là để thắng
trên hai trận tuyến. Đó là cạnh tranh giữa những nước mua với nước bán và cạnh
tranh giữa những người bán với nhau.
- Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh giữ vai trò làm cho giá cả hàng hoá dịch
vụ giảm xuống, nhưng chất lượng hàng hoá dịch vụ ngày càng cao, phù hợp với
mong muốn của người tiêu dùng.
- Cạnh tranh sẽ loại bỏ các nước có chi phí cao trong sản xuất kinh doanh
hàng hoá và khuyến khích các nước có chi phí thấp. Điều này đã tạo áp lực buộc
các nước phải giảm chi phí đầu vào trong sản xuất kinh doanh.
5
Mặc dù điều này là phù hợp với lợi ích lâu dài của xã hội, song cũng làm cho
một số nước thất bại đau đớn, nạn thất nghiệp, nghèo đói gia tăng.
- Cạnh tranh là công cụ để tước quyền thống trị về kinh tế trong lịch sử.
- Cạnh tranh buộc các nước phải không ngừng đầu tư, nghiên cứu khoa học,
công nghệ để đưa vào ứng dụng sản xuất. Đồng thời cạnh tranh cũng buộc các
nước phải nghiên cứu thị trường thế giới, nắm bắt được thông tin, bắt được những
thời cơ hấp dẫn, chú trọng công tác khuyếch trương, quảng cáo sản phẩm và thanh
thế nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu vươn tới những thị trường đầy triển vọng.
Phải tham gia các hoạt động trong hiệp hội ngành hàng để cập nhật thông tin mới
về tình hình giá cả, cung cầu trên thị trường cạnh tranh.
Tóm lại, cạnh tranh không phải là huỷ diệt mà là sự thay thế, thay thế những
nước làm ăn thua lỗ, không có hiệu quả, sử dụng lãng phí những nguồn lực của xã
hội bằng các nước hoạt động có hiệu quả, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã
hội, thúc đẩy sự phát triển của nhân loại. Có thể nói rằng cạnh tranh lành mạnh là
mở rộng thị trường.
+ Chất lượng sản phẩm cao làm tăng khả năng sinh lời, thu được nhiều ngoại
tệ về cho đất nước.
3-/ CÁC HÌNH THÁI CẠNH TRANH TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI:
(Phân loại thị trường theo mức độ cạnh tranh)
Đây là dạng phân loại thị trường gắn liền với phương thức hình thành và vận
động giá cả thị trường. Theo cách phân loại này có các dạng thị trường sau:
3.1. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo:
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà ở đó có rất nhiều người bán mà
không có người nào có ưu thế để cung ứng một số lượng sản phẩm lớn ảnh hưởng đến
giá cả. Các sản phẩm mua bán trên thị trường này là sự đồng nhất, tức là nó rất ít khác
nhau về quy cách, mẫu mã, phẩm chất. Điều kiện tham gia và rút khỏi thị trường rất dễ
dàng. Những người bán tham gia trên thị trường chỉ có cách thích ứng với giá thị
trường. Họ không có khả năng định giá. Do đó, các doanh nghiệp tham gia kinh doanh
trên thị trường này chủ yếu tìm biện pháp giảm thấp chỉ phí tới mức thấp nhất.
3.2. Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo:
Đây là một thị trường mà phần lớn sức mạnh thị trường thuộc về một số doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh lớn. Các doanh nghiệp trên thị trường này kinh doanh hàng
hoá và dịch vụ khác nhau. Sự khác nhau giữa hàng hoá và dịch vụ này là ở nhãn hiệu.
Mặc dù sự khác biệt giữa các sản phẩm chỉ là sự khác biệt trong tâm trí của người tiêu
dùng, nhưng mỗi nhãn hiệu hàng hoá đều mang hình ảnh với những uy tín khác nhau.
Có hai hình thái thị trường cạnh tranh không hoàn hảo sau:
a-/ Độc quyền tập đoàn:
Đây là một thị trường mà ở đó có một vài doanh nghiệp đáp ứng hầu hết nhu
cầu về một loại hàng hoá dịch vụ cụ thể nào đó. Những doanh nghiệp này rất nhạy
cảm với các hoạt động kinh doanh của nhau. Thế nhưng, một điều cần chú ý ở đây
7
là các doanh nghiệp phụ thuộc lẫn nhau trong mức định giá, và lượng hàng bán ra.
Bởi vì, khi một doanh nghiệp trong nhóm độc quyền giảm giá hàng hoá bán ra thì
họ không bao giờ cảm thấy tin tưởng rằng có thể đạt được kết quả lâu dài vì sẽ có
độc quyền. Tuy nhiên, độc quyền cũng có mặt tích cực của nó, đó là độc quyền
đem lại lợi ích cho xã hội nhờ đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và phát triển.
Doanh nghiệp độc quyền thường có trình độ tập trung hoá sản xuất cao, mở rộng
được quy mô sản xuất nên giảm được chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm.
9
PHẦN II
VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU GẠO, THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO
VÀ SỨC CẠNH TRANH CỦA GẠO VIỆT NAM
TRÊN THỊ TRƯỜNG GẠO THẾ GIỚI
1-/ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU GẠO TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM:
Việt Nam là một nước nông nghiệp dựa vào sản xuất lúa gạo là chính. Nông
nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó đóng góp khoảng 42%
tổng sản phẩm quốc nội (GDP). 71,9% lượng lao động của cả nước hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp.
Đối với Việt Nam, sản xuất các sản phẩm nông nghiệp nói chung, sản xuất lúa
gạo nói riêng là một lợi thế. Xuất khẩu nông sản là một trong những biện pháp nhằm
khai thác lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh để thu hút nguồn lợi trong thương mại quốc
tế.
Thương mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp giữ một vị trí vô cùng to lớn đối
với sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Nó là bộ phận hết sức quan trọng trong
lĩnh vực kinh tế đối ngoại và chương trình xuất khẩu của đất nước. Trong suốt thời gian
qua, khoảng trên dưới 50% sản phẩm quốc dân hàng năm được thực hiện thông qua
con đường xuất khẩu. Xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng cao
từ 30-40% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành. Trong đó xuất khẩu gạo chiếm tỷ
trọng từ 40-50% tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Sản lượng gạo
xuất khẩu bình quân hàng năm kể từ năm 1990 đến nay là trên 2 triệu tấn và xuất khẩu
gạo vươn lên chiếm một vị trí quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Gạo xuất khẩu của Việt Nam không ngừng tăng lên cả về chất lượng lẫn số
lượng. Do đó kim ngạch xuất khẩu gạo không ngừng tăng lên từ 274,6 triệu USD
Theo phạm vi từng đại lục thì Châu Á trong thời gian gần đây xuất khẩu lớn
nhất, chiếm tỷ trọng trung bình khoảng 75% so với tỷ trọng nhập khẩu trung bình
56%, thứ đến Châu Mỹ, xuất khẩu gạo chiếm trung bình trên 20% so với tỷ trọng
nhập khẩu trung bình trên 17%. Cả ba châu còn lại là Châu Âu, Châu Đại Dương,
Châu Phi chỉ chiếm khoảng 5% tổng xuất khẩu gạo thế giới. Ngoài phần trao đổi
nội bộ Châu Á xuất siêu lớn nhất, trung bình 3,5-4 triệu tấn hàng năm, Châu Mỹ có
xuất siêu nhưng rất không ổn định. Châu Đại Dương không đáng kể. Như vậy hàng
năm, dòng gạo thế giới lớn nhất chảy từ Châu Á sang Châu Phi, trung bình từ 2,5-3
triệu tấn, sau đó là dòng gạo từ Châu Á chảy sang Châu Âu, khoảng gần 1 triệu tấn.
Nếu xét chung tình hình xuất khẩu trong suốt giai đoạn 1989-1994, có thể xếp
đội ngũ các nước xuất khẩu gạo theo trật tự sau: Thái Lan, Mỹ, Việt Nam,
Pakistan, Trung Quốc, Ấn Độ. Từ năm 1995-1996 tương quan lực lượng giữa các
nước xuất khẩu gạo có sự thay đổi theo trật tự mới: Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam,
Mỹ, Pakistan. Năm 1996 đến 1997 Việt Nam đã vượt lên ở vị trí thứ hai sau Thái
Lan và giữ vị trí đó cho đến nay.
Thái Lan: với vị trí đứng đầu xuất khẩu gạo. Thái Lan hàng năm luôn luôn chi
phối sâu sắc tình hình biến động cung cầu và giá cả trên thị trường gạo thế giới.
11
Giá chuẩn quốc tế thường căn cứ vào giá gạo xuất khẩu của Thái Lan. Chất lượng
gạo cũng được khách hàng ưa chuộng tin cậy với nhiều cấp, loại, hạng: Gạo trắng
100% hạng A,B,C nhưng chủ yếu là hạng B, gạo trắng 5% tấm, 10%, 15%,... gạo
tấm A1 super, gạo đồ, gạo nức, gạo nếp, gạo thơm, đặc sản. Thái Lan rất quan tâm
phát triển xuất khẩu gạo đặc sản, loại “Jasmine” hay “Dawk Mali”. Gạo Thái Lan
đã được xuất khẩu đi hầu khắp các Đại lục Á, Phi, Mỹ, Châu Đại Dương trong đó
Châu Á vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 60-70%, thứ đến là Châu Phi. Qua nhiều
thập kỷ xuất khẩu gạo, Thái Lan có nhiều khách hàng truyền thống gồm những
nước phát triển Tây Âu, Nhật Bản,... cũng như những nước đang phát triển Châu Á,
Phi, Mỹ Latinh. Để đẩy mạnh sản xuất trong nước và không ngừng nâng cao khả
năng cạnh tranh xuất khẩu gạo ở nước ngoài. Thái Lan đã chú trọng nhiều chính
sách như bảo hộ nông phẩm cho người sản xuất, điều hoà cung cầu khi giá cả gạo
quan hệ cung cầu), chính sách trợ giá xuất khẩu, chính sách cấp tín dụng dài hạn
ưu đãi xuất khẩu gạo, chính sách viện trợ gạo nhằm thao túng các nước tiêu thụ
gạo của Mỹ,... Với chiến lược toàn cầu, Mỹ dùng ngân sách trợ cấp để có thể xuất
khẩu gạo với giá chỉ bằng 60% giá thành vì chi phí sản xuất gạo của Mỹ rất cao.
Bình quân năm 1984-1986 khoản ngân sách dành cho “cơ chế bảo hộ” lên tới 66 tỷ
USD. Tỷ lệ trợ cấp của Chính phủ trong giá thành thường rất cao đặc biệt đối với
gạo. Năm 1988, tỷ lệ trợ cấp này đối với gạo là 86%, còn đối với lúa mỳ và đậu
tương chỉ là 40% và 23%. Chính phủ Mỹ thực hiện chính sách can thiệp mạnh vào
giá cả gạo, từ giá bán của các trang trại đến giá của các nhà kinh doanh trong nước
và giá xuất khẩu. Riêng nông dân Mỹ đã được hưởng mức trợ cấp tối thiểu trên
100 USD/tấn gạo. Tóm lại xuất khẩu gạo của Mỹ thường không tách rời mục đích
chính trị: nó không phải là hoạt động kinh tế thương mại thuần tuý.
Ấ n Độ : xuất khẩu gạo phần lớn sang các nước thuộc khu vực Châu Á, Châu
Phi, thứ đến Châu Âu và Mỹ latinh, mức xuất khẩu gạo tăng vọt của Ấn Độ năm
1995 là 4,2 triệu tấn đã góp phần quyết định đưa tổng sản lượng xuất khẩu gạo thế
giới từ 16,7 triệu tấn năm 1994 lên mức kỷ lục 21 triệu tấn vào năm 1995.
Xuất khẩu gạo của Ấn Độ đã giảm khoảng 0,6 triệu tấn trong năm 1996 và
giảm tiếp 1 triệu tấn vào năm 1997. Năm 1998 xuất khẩu gạo của Ấn Độ là 2,2
triệu tấn. Cùng với gạo đại trà, Ấn Độ còn xuất khẩu gạo thơm đặc sản “Basmati”.
Tuy nhiên theo FAO, chủng loại gạo thơm “Basmati” xuất khẩu của Ấn Độ không
bằng chất lượng gạo thơm đặc sản của Thái Lan.
Pakistan: Trước chiến tranh thế giới thứ hai, Pakistan đã có mặt trên thị
trường gạo thế giới. Từ đó đến nay, Pakistan vẫn là nước xuất khẩu gạo truyền
thống mặc dù lượng xuất khẩu hàng năm không lớn, trung bình trên 1 triệu tấn gạo.
Kể từ năm 1989 xuất khẩu gạo của nước này vẫn duy trì tương đối ổn định. Riêng
năm 1991, Pakistan đã vượt lên đứng vị trí thứ ba thế giới trong xuất khẩu gạo, sau
Thái Lan và Mỹ. Suốt nhiều năm qua, nước này vẫn giữ được vị trí thứ năm của
mình về xuất khẩu gạo. Năm 1998 xuất khẩu gạo của nước này đạt mức 2 triệu tấn
và dự đoán sẽ giảm xuống 1,75 triệu tấn năm 1999. Với diện tích lúa trong nước
2,2 triệu ha, sản lượng hàng năm 6 triệu tấn, trong khi đó dân số là 141 triệu người
khẩu gạo.
Trung Quốc: suốt nhiều năm qua, Trung Quốc vừa xuất khẩu đồng thời vừa
nhập khẩu gạo. Riêng năm 1995, buôn bán gạo của nước này có biến động lớn: Trung
Quốc mất vị trí xuất khẩu thứ tư sau Thái Lan, Mỹ, Việt Nam và trở thành nước nhập
khẩu thứ hai sau Inđonexia. Đó cũng là mức nhập khẩu gạo kỷ lục (2 triệu tấn) của
Trung Quốc kể từ năm 1989 đến nay. Nguyên nhân chính của tình hình này là:
14
Thứ nhất: Trung Quốc tăng cường dự trữ lương thực do quan hệ cung cầu
lương thực thế giới căng thẳng, an ninh lương thực toàn cầu bị đe doạ.
Thứ hai: Dân số Trung Quốc tăng. Năm 1994 dân số Trung Quốc là 1.209
triệu người, năm 1995:1.222 triệu người, năm 1996 là 1.232 triệu người.
Trên thực tế Trung Quốc đã huy động mọi khả năng có thể của mình trong sản
xuất. Do vậy năng xuất lúa năm 1995 đến năm 1999 đều đạt trên 60 tạ/ha. Tuy nhiên
diện tích lúa không tăng mà còn bị giảm. Sản lượng lúa tuy đứng đầu trên thế giới
nhưng vấn chưa đáp ứng được nhu cầu lương thực ở quốc gia không lỗ về dân số. Về
lâu dài Trung Quốc vẫn phải duy trì nhập khẩu gạo nói riêng và lương thực nói chung.
Iran: khác với 2 nước trên, Iran nhập khẩu gạo khá ổn định trong nhiều năm
nay, trung bình đạt gần 1 triệu tấn/năm. Lượng nhập khẩu 1,1 và 1,3 triệu tấn năm
1993 và 1995 là những mức cao điển hình của nước này. Từ năm 1990 - 1993, Iran
thường xuyên đứng đầu thế giới trong nhập khẩu gạo. Ngoài hai năm 1994, 1995
nhập khẩu gạo của Iran gần đây (1996, 1997, 1998) lại tiếp tục duy trì ở mức cao.
Trong tương lai xét về sản xuất lương thực và dân số trong nước với gần 70 triệu
người, Iran vẫn là nước nhập khẩu chủ yếu, tương đối ổn định, khả năng thanh toán
khá cao.
Bangladesh: Suốt 6 năm liên tục từ 1989 - 1994 do có những cố gắng trong sản
xuất, nước này chỉ nhập khẩu trung bình từ 0,2 - 0,3 triệu tấn gạo mỗi năm. Do sản
lượng lúa trong nước giảm trên 2 triệu tấn trước đó nên năm 1995 nhập khẩu gạo
của Bangladesh tăng vọt lên mức 1,3 triệu tấn. Sang năm 1996 nhập khẩu gạo của
nước này lại giảm nhiều chỉ còn 0,5 triệu tấn. Cho đến năm 1998 thì nhập khẩu lại
tăng lên 1,8 triệu tấn và dự đoán sẽ giảm xuống còn 0,5 triệu tấn trong năm 1999.
hình này được thể hiện qua biểu số liệu sau:
BIỂU 1 - SẢN LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1989 - 1999
Năm 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
9 tháng
1999
Sản lượng
gạo XK (1000
tấn)
1.372 1.478 1.061 1.954 1.649 1.962 2.020 3.050 3.680 3.800 3.750
Tốc độ tăng
sản lượng liên
hoàn (%)
100 107,73 71,79 184,17 84,39 118,98 102,96 150,99 120,66 103,26
Nguồn: Tổng cục thống kê.
Từ năm 1989 - 1994 xuất khẩu gạo của Việt Nam luôn đứng vào hàng thứ ba
trong các nước xuất khẩu gạo, sau Thái Lan và Mỹ. Đến năm 1995, Việt Nam vấn
đứng thứ 3 nhưng đã vượt Mỹ chỉ sau Thái Lan và Ấn Độ. Năm 1996, Việt Nam đã
đuổi sát Ấn Độ và năm 1997 Việt Nam xuất khẩu 3680 nghìn tấn và vươn lên đứng
thứ hai sau Thái Lan. Tỷ trọng gạo xuất khẩu của Việt Nam chiếm từ 10 - 19%
lượng gạo xuất khẩu của toàn thế giới. Dự đoán năm 1999, Việt Nam sẽ xuất khẩu
được 4,4 triệu tấn gạo, đạt kỷ lục từ trước tới nay.
16
Nhìn vào biểu 1 có thể đánh giá một cách tổng quan rằng sản xuất lúa gạo của
Việt Nam từ năm 1989 đến nay đã chuyển từ một ngành sản xuất tự cấp tự túc sang
sản xuất hàng hoá, sản lượng xuất khẩu ngày một tăng. Sản lượng lúa gạo của ta
không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu trên dưới 2 triệu tấn
gạo. Tuy nhiên sản lượng lúa gạo dư thừa chủ yếu là ở Đồng bằng sông Cửu Long,
chỉ một phần nhỏ ở đồng bằng sông Hồng. Các vùng khác sản lượng tuy có tăng
nhưng vẫn thiếu lương thực vì sản xuất ở các vùng này có nhiều khó khăn.
3.2. Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.