ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VĂN THÔNG
SO SÁNH
TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ LÀO
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VN THÔNG
SO SNH
SO SÁNH
TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ LÀO
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 62 22 36 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS. Nguyễn Xuân Kính
2. PGS.TS. Lại Phi Hùng
HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 8
5. Cấu trúc luận án 8
Chương 1: Tổng quan văn hoá - xã hội Việt Nam - Lào 10
1.1 Mối quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào 10
1.1.1. Sơ lược lịch sử - xã hội nước Lào 10
1.1.2. Mối quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào 14
2.1.8. Hiện tượng trái nghĩa trong tục ngữ Việt
100
2.2. Giải thích sự giống nhau và khác nhau 107
2.2.1. Sự giống nhau 107
2.2.2. Sự khác nhau 112
Chương 3: So sánh nghệ thuật tục ngữ Việt và tục ngữ Lào
116
3.1. Trình bày sự giống nhau và khác nhau
116
3.1.1. Ngữ nghĩa
116
3.1.2. Kết cấu
125
3.1.3. Vần
150
3.1.4. Nhịp
161
3.1.5. Lối tỉnh lược
165
3.1.6. Lối nói
167
3.1.6.1. Các hình thức tu từ trong tục ngữ
167
3.1.6.2. Hiện tượng “nói ngược” trong tục ngữ Lào
178
3.1.7. Từ ngữ
181
3.1.7.1. Tục ngữ Việt sử dụng nhiều phương ngữ
181
3.1.7.2. Tục ngữ Việt ảnh hưởng của tiếng Hán và văn hoá Hán
Db Dị bản TCN Trước công nguyên
Sđd Sách đã dẫn ĐVTG Đơn vị trung gian
tr Trang xb Xuất bản
Tp Thành phố ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
TK Thế kỷ ĐHTHHN Đại học Tổng hợp Hà Nội
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Người Lào có câu xú pha xít
1
“Mạy huồm co po huồm xược” (Đay
chung dây, cây chung khóm). Quan hệ Việt Nam - Lào như tre chung một
bụi, như đay chung một dây. Hai nước liền kề nhau về địa lý và có quan hệ
bang giao thân thiết lâu đời vì cùng nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc
vùng Đông Nam Á.
Cho nên, bên cạnh những điểm khác nhau như là sự tất yếu xuất phát
từ bản sắc dân tộc, nền văn hoá hai nước nói chung, tục ngữ hai nước nói
riêng có những điểm tương đồng như là bản chất chung trong quá trình sáng
tạo folklore nhân loại cũng như sự giống nhau do những điều kiện lịch sử,
địa lý tự nhiên và những quan hệ giao lưu văn hoá mang lại. Nghiên cứu sự
giống nhau và khác nhau này, về chính trị, sẽ góp phần khẳng định tính độc
lập của mỗi dân tộc; đồng thời, những yếu tố về địa lý, lịch sử, xã hội giống
nhau giữa hai nước cũng tạo nên những nét giống nhau trong mối bang giao
thân thiết giữa hai dân tộc; về khoa học, không chỉ giúp cho những người
quan tâm hiểu biết thêm về tục ngữ mỗi nước, hiểu rõ hơn những nét đẹp
truyền thống trong tâm hồn và tính cách của chính mình và của người bạn
láng giềng mà còn góp phần làm sáng tỏ sự giống nhau kỳ lạ, đến từng chi
tiết của một bộ phận tục ngữ hai dân tộc. Qua đó, về lý luận, sẽ góp phần làm
rõ hơn bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc; về thực tiễn, cũng góp phần quảng
bá nền văn hoá của mỗi nước và thúc đẩy mối quan hệ láng giềng truyền
thống Việt Nam - Lào ngày càng phát triển.
đến nay còn rất mỏng và cha cú nhiu thành tựu. T nhng nm 1940, khi
Lo cũn b Phỏp xõm lc, Ma h Xi La V La Vụng v nhúm nhng ngi
bn trớ thc Tõy hc ca ụng ó su tm, biờn son, trớch ng thnh sỏch
2
Xem T in thnh ng v tc ng Vit - Lo v T in thnh ng v tc ng Lo -
Vit (Phn ph lc lun ỏn) do tỏc gi lun ỏn su tm, biờn son.
3
Xem Danh mc nhng cụng trỡnh khoa hc ca tỏc gi liờn quan n lun ỏn tr.
192.
2
ngoài một số truyện thơ có nguồn gốc Ấn Độ, còn có ca dao, tục ngữ (sau
này đã được tái bản nhiều lần). Đó là những công trình sưu tầm, biên soạn và
giới thiệu tục ngữ rất đáng quý. Năm 1987, cuốn Văn học Lào dày 527 trang,
một công trình hợp tác giữa Uỷ ban Khoa học Xã hội Lào với Viện Nghiên
cứu Đông Nam Á trực thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam in tại Nhà
xuất bản Quốc gia Lào (Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Viêng
Chăn in lại theo hình thức rônêô năm 1989), là một công trình đầu tiên ở Lào
nghiên cứu dài hơi, tương đối có hệ thống, có độ tin cậy khoa học về văn học
Lào từ trước đến nay. Do phải giới thiệu một cách khái quát về văn học Lào,
nên phần giới thiệu và nghiên cứu tục ngữ Lào còn quá sơ lược. Vài chục
năm nay, Chính phủ Lào đã dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác giữ gìn,
phát triển nền văn học truyền thống của dân tộc. Người Lào đã đưa văn học
dân gian Lào nói chung, tục ngữ Lào nói riêng vào chương trình giáo dục
phổ thông và đại học. Do vậy, đã có người sưu tầm, biên soạn tục ngữ Lào
thành những tập từ điển mini mỏng, gồm vài chục câu đến vài trăm câu.
Cuốn Văn học phổ thông [186] của nhiều tác giả Lào, giới thiệu một cách sơ
lược tình hình văn học Lào, trong đó có văn học dân gian dành cho học sinh
hệ phổ thông trung học Lào của Nxb Giáo dục Thể thao và Lễ nghi, xuất bản
năm 1982; cuốn Câu thơ dân gian Lào [189] của Bò Xẻng Khăm, Xúc Xạ
Vàng, Bun Khiển, được biên soạn chung, gồm nhiều phần, trong đó phần tục
thể Văn học Đông Nam Á [131], Lại Phi Hùng đã nhận diện một cách rất
khái lược tục ngữ trong mối tương quan thể loại của nền văn học Lào nói
chung, văn học dân gian Lào nói riêng. Những năm gần đây, một số tác giả
người Việt cũng góp thêm những tiếng nói nhằm giới thiệu tục ngữ Lào ở
Việt Nam. Trịnh Đức Hiển có bài “Sơ bộ tìm hiểu luật hiệp vần và vần trong
4
xú pha xít Lào” [55] và bài “Một số hình thức thể hiện tính hình tượng trong
xú pha xít Lào” [56]; tác giả luận án có bài: “Tìm hiểu tư tưởng Phật giáo ở
Lào qua mảng xú pha xít Lào về văn hoá ứng xử” [4] và bài “Phong cách ăn
uống của người Lào” [6]. Ngoài ra, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường
Tìm hiểu tục ngữ Việt và xú pha xít Lào [14] và hai đề tài cấp Đại học Quốc
gia Hà Nội: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt - Lào [16] và Từ điển thành
ngữ và tục ngữ Lào - Việt [17] của tác giả luận án không chỉ tìm hiểu, so
sánh một số khía cạnh của tục ngữ hai nước mà còn đối sánh nghĩa trong
quan hệ đối ứng của chúng. Luận văn thạc sĩ: Tìm hiểu tục ngữ Việt và xú
pha xít Lào về Văn hoá ứng xử [2] và các bài: “Tìm hiểu mảng tục ngữ Việt
và xú pha xít Lào về văn hoá ứng xử” [3], “Về hiện tượng “nói ngược” trong
tục ngữ Việt và xú pha xít Lào” [8], “Tìm hiểu lối nói của người Việt và
người Lào qua tục ngữ” [12] “Tìm hiểu một số kiểu hiệp vần trong tục ngữ
Việt và Lào” [13], “Tìm hiểu một số kiểu kết cấu so sánh của tục ngữ Việt
và tục ngữ Lào” [18] của tác giả luận án, đã góp thêm tiếng nói về một số
khía cạnh của tục ngữ, làm phong phú thêm mảng văn học so sánh ở Việt
Nam. Ngoài ra, còn nhiều tác giả biên soạn, nghiên cứu, so sánh, đối chiếu
tục ngữ Việt với tục ngữ một số nước trên thế giới để thấy được cái hay, cái
đẹp của tục ngữ Việt. Trước hết, phải kể đến các tập từ điển, luận văn, bài
viết so sánh, đối chiếu tục ngữ Việt với tục ngữ nước ngoài. Đó là các cuốn
từ điển đa ngữ như: Tục ngữ Nga - Anh- Pháp - Việt [7] của Lê Đình Bích,
Trần Quỳnh Dân; Tục ngữ, thành ngữ trên thế giới [23] của Lê Du, Lê Hải;
Tục ngữ các nước trên thế giới [57] của Vương Trung Hiếu; Tục ngữ Anh -
Pháp - Việt [99] của Nguyễn Gia Liên; Tục ngữ ta đối với tục ngữ Tàu và
ngữ Lào đang còn trong giai đoạn khởi đầu, kết quả thu được chưa nhiều.
6
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích của luận án
Theo tương đối luận, giữa các nền văn hoá không có sự hơn, kém mà
chỉ có sự giống và khác nhau. Do vậy, chúng tôi sẽ không đi tìm sự hơn kém
giữa tục ngữ Việt với tục ngữ Lào mà thống kê, phân tích, so sánh nội dung
và nghệ thuật của hai hệ thống tục ngữ Việt và Lào để phát hiện sự tương
đồng và khác biệt, chỉ ra nguyên nhân của sự giống nhau và khác nhau, qua
đó làm rõ bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc trong bối cảnh Đông Nam Á.
Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ còn góp phần để nhân dân hai
nước Việt Nam - Lào không chỉ hiểu nhau hơn mà còn góp phần quảng bá
nền văn hóa của mỗi nước và thúc đẩy mối quan hệ láng giềng truyền thống
Việt - Lào ngày càng phát triển.
3.2. Đối tượng nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là 16.098 câu tục ngữ của
người Việt trong bộ Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập) [90] do Nguyễn
Xuân Kính chủ biên;
- Phần tục ngữ Lào gồm 691 câu trong cuốn Xú pha xít và lời nói giao
duyên Lào [138] của Nguyễn Đình Phúc cũng là đối tượng nghiên cứu chủ
yếu của luận án;
Tuy nhiên, nếu lấy 16.098 câu tục ngữ Việt (một lượng câu quá lớn) để
so sánh với 691 câu tục ngữ Lào (một lượng câu còn rất hạn chế) thì sự
chênh lệch về tư liệu là rất lớn. Để khắc phục sự “khập khiễng” khó tránh
khỏi này, cách tốt nhất là, “khuôn” chúng lại ở những nội dung cơ bản và
hình thức chủ yếu, thông qua những tỷ lệ so sánh có tính chất tương đối.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
7
- Thuật ngữ “tục ngữ Việt” mà chúng tôi đề cập đến trong luận án
đồng nghĩa với “tục ngữ cổ truyền” của người Việt (người Kinh);
diện: môi trường tự nhiên và xã hội, quê hương xứ sở, kinh nghiệm sản xuất
và chăn nuôi, quan hệ gia đình xã hội, phê phán thống trị và các thói hư tật
xấu. Qua đó, chúng tôi chỉ ra sự giống nhau; đồng thời, tập trung phân tích
các bình diện có những nét khác nhau khá rõ ràng. Đó là tục ngữ Việt nói
đến văn hoá ẩm thực đậm đặc và sâu sắc, văn hoá đậm ảnh hưởng Nho giáo
của người Việt và văn hoá đậm ảnh hưởng Phật giáo của người Lào. Sau đó,
tác giả luận án tìm hiểu lý do dẫn đến sự giống và khác nhau đó.
Trong chương 3, NCS so sánh ngữ nghĩa, kết cấu, vần, nhịp, tỉnh lược,
lối nói, ngôn ngữ ; đồng thời, giải thích nguyên nhân sự giống nhau và khác
nhau ấy.
9
Chương 1
TỔNG QUAN VĂN HOÁ - XÃ HỘI VIỆT NAM - LÀO
1.1. Mối quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào
1.1.1. Sơ lược lịch sử - xã hội nước Lào
Thời phong kiến, xã hội Lào thuộc chế độ quân chủ tập quyền. Đây là
thời kỳ dài nhất trong lịch sử nước Lào và cũng là thời gian chủ yếu để ra đời
những câu tục ngữ cổ truyền. Lịch sử nước Lào còn thấp thoáng hình ảnh và
chiến tích của các vị vua, những người mà tên tuổi còn được lưu giữ qua các
truyền thuyết và kỳ tích. Nói một cách khác, các truyền thuyết Lào còn lại
đều thấy thấp thoáng hình ảnh những ông vua trong lịch sử nước Lào.
Ở Lào, có ba vị vua được ghi danh trong lịch sử nước Lào dưới hình
thức huyền thoại và truyền thuyết. Người thứ nhất là Khún Bu Lôm, người
mở đầu cho các dòng họ vua Lào được phản ánh trong truyền thuyết Khún
Bu Lôm, Khún Bu Lo. Theo dã sử, Khún Bu Lôm từ phía Bắc xuống giành
quyền làm chủ đầu tiên vùng Mường Xoa (Luông Pha Băng ngày nay), vốn
là nơi có cuộc gặp gỡ lịch sử tất yếu giữa người Khạ (Lào Thơng) và người
Lào - Thay (Lào Lùm) đến đây sinh sống. “Nị than” (truyền thuyết) Khún Bu
Lôm, Khún Bu Lo cũng tương tự như huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ
của người Việt. Người Lào coi Khún Bu Lôm là thánh Tổ của dân tộc Lào,
Khơme, Phù Nam hay Xiêm (Thái Lan) đến tu học. Từ đó đến nay, Viêng
Chăn luôn là thủ đô, một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của nước Lào.
Sự kiện thống nhất quốc gia Lạn Xạng của Phà Ngừm (1357) và sự kiện dời
đô của Sệt Tha Thi Rạt (1553) là hai biến cố lớn có ảnh hưởng sâu sắc không
chỉ về chính trị mà còn đến đời sống văn hoá, văn học Lào hơn cả. Giờ đây,
11
vương quyền đã gắn chặt với một biểu tượng mới bao trùm lên tất cả các
mường là ông Phật.
Trong số ba vị vua anh minh và có nhiều chiến tích nói trên thì Chậu
Phà Ngừm để lại nhiều dấu ấn sâu đậm nhất. Trong Historie du Laos
francais, Paul de Boulanger coi Phà Ngừm là một vị vua tài giỏi về quân sự,
luôn luôn ở trong hàng quân. Không lúc nào sợ hãi ( ) Phà Ngừm cũng đã
dùng sức mạnh hoặc chỉ bằng uy danh của mình đã khuất phục tất cả các dân
tộc ở bán đảo Đông Dương trừ hai nước Việt Nam và Campuchia. Vị hoàng
đế vĩ đại đó là người sáng lập thật sự nước Lạn Xạng thống nhất. Đó là một
nhân vật kỳ lạ và phi thường, không ngờ lại xuất hiện trong lịch sử một dân
tộc vốn yêu chuộng trật tự và yên ổn Bằng nhiều cách, Phà Ngừm đã quy
tụ được thủ lĩnh của các địa phương, các vùng miền, từ những đồng bằng
phía Tây, những thung lũng và núi non phía Bắc đến những cao nguyên phía
Nam gắn kết lại dưới một cái tên chung: nước Lạn Xạng. Đất nước Lào xuất
hiện theo bước chân chinh phạt của người anh hùng dân tộc Phà Ngừm để
bước vào một giai đoạn lịch sử mới đầy náo động mà trước đó là cả một thời
kỳ dài phát triển gần như âm thầm. Phà Ngừm yêu cầu vua Khơme cử hai
mươi ba nhà sư, ba nhà bác học mang theo tượng Phật, kinh sách, cây bồ đề
sang Lào. Cùng đi còn có các thợ lành nghề về rèn, nấu đồng, đúc tượng,
kim hoàn. Vua Khơme còn tặng vua Lào một số nhạc cụ. Như vậy, tuy là
gián tiếp nhưng Lào đã tiếp nhận mạnh mẽ văn hoá Ấn, gần gũi về văn hoá
với các nước láng giềng phía Tây và Đông Nam Á như Thái Lan, Miến Điện,
Khơme. Tuy nhiên, ảnh hưởng văn hoá của các nước này tới Lào hãy còn
hạn hẹp, bởi văn hoá Ấn - Phật lúc này vẫn còn do những nhà sư và những
thành chế độ bóc lột, xã hội phân chia thành đẳng cấp quý tộc và bình dân.
13
Trong mỗi bản gồm nhiều gia đình hạt nhân (từ gia đình lớn mẫu hệ trong
công xã thị tộc phân nhỏ thành gia đình nhỏ phụ hệ trong công xã nông
thôn). Mỗi bản đều có ma làng (phỉ bản) do thầy mo (thầy cúng) đảm nhiệm.
Thầy mo cũng là người nhưng vì được học hành, nắm được phép thuật nên
hiểu được tiếng nói của thế giới ma (phỉ).
Nhiều bản hợp lại thành một mường, do một người đứng đầu gọi là
“chậu mường” (chủ mường) hình thành những cơ cấu quyền lực của nhà
nước. Bản nơi ông chủ mường sống người Thái gọi là bản Chiềng (bản lớn
nhất mường) được đặt làm trụ sở ở trung tâm của mường để làm chức năng
hành chính và văn hoá. Trụ sở này được xây thành bao quanh gọi là viêng.
Trong quá trình tích hợp xã hội lớn hơn mường, người ta vẫn dùng từ
mường để chỉ các vương quốc, thậm chí một quốc gia như mường Lào,
mường Thái với cấu trúc ba cấp: bản, mường, mường luổng (mường lớn).
Người đứng đầu mường lớn được gọi là chậu xi vít (vua) dựa trên quan hệ
huyết thống đã lập bộ máy trung ương tập quyền cai quản từ trên xuống
dưới.
1.1.2. Mối quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào
Theo Nguyễn Hào Hùng [127, tr.97], quan hệ Việt Nam - Lào đã có từ
thời cổ trung đại. Nhưng mối quan hệ này được phản ánh trong các văn bản
là rất muộn so với sự thật lịch sử.
Cho đến ngày nay, cư dân sống hai bên dãy Trường Sơn còn lưu
truyền truyền thuyết Quả bầu mẹ xa xưa về nguồn cội của mình. Trời làm
nạn hồng thuỷ khủng khiếp, từ trong quả bầu có hàng loạt người chui ra.
Những ai sang phía Đông thì trở thành người Việt, sang phía Tây trở thành
người Miến, xuống phía Nam thành người Khơme, còn ở lại đó là người
Thái, người Lào, người Khạ (Lào Thơng).
14
Theo Truyện cổ Ba Na (Nxb Văn học, 1965, tr.2), chàng Léo (Lào) đã
Nguyễn Trãi và Lê Quý Đôn nói trên đã cho rằng, người Việt Nam sớm có
những nhận xét về người Lào như “người Lào thuần hậu chất phác”, trong
giao dịch buôn bán thì “họ vui lòng đổi chác”. Nguyễn Trãi đã từng nhận xét
“tiếng Lào là tiếng họng”, còn y phục thì người Lào lấy vải cuốn vào mình
như áo cà sa nhà Phật.
Những tư liệu lịch sử trên đây là một trong rất nhiều bằng chứng nói
lên mối quan hệ mật thiết hàng ngày giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân
Lào. Nhìn chung, “trong thời kỳ cổ trung đại, nhân dân Việt Nam và nhân
dân Lào đã có quan hệ đi lại và trao đổi hàng hoá vật phẩm với nhau. Người
Việt Nam đã biết đến nhiều mặt hàng nổi tiếng của Lào như các sản vật tự
nhiên, sừng voi, tê giác, lông chim, sáp trắng, quế, sâm…thường dùng vào
việc cống phẩm hoặc các vật dụng do người Lào sản xuất như vải, chiêng
đồng” dùng trong việc mua bán [127, tr.92 - 94].
Các tài liệu ghi chép về các sự kiện lịch sử đã qua đều cho rằng, mối
quan hệ Việt - Lào có từ thời cổ trung đại. Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô
Sĩ Liên (TK XV) ghi lại sự kiện “giao hiếu” đầu tiên (năm 1067) của những
bộ lạc Lào giáp Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh (Việt Nam) với nước Đại Việt dưới
thời Lý Thánh Tôn. Sau này, sách Đại Nam chính biên liệt truyện (quốc sử
triều Nguyễn) cũng cho sự kiện “thông hiếu” năm 1067 này là sự kiện mở
đầu.
Từ xa xưa, người Việt Nam đã gặp gỡ và liên hệ với các bộ tộc Lào ở
khu vực lân cận. Năm 1075 Lý Thường Kiệt đã đánh tan quân Tống, sau đó
kịp thời chấn chỉnh cương giới, trong đó có biên giới phía Tây. Nhờ đó,
người Việt Nam có sự cảm thông với các bộ tộc Lào. Cuộc kháng chiến
16
chống quân Nguyên dưới thời Trần của Việt Nam cũng dựa vào tuyến phòng
thủ phía Tây của Lào. Khi Hồ Quý Ly cướp ngôi vua Trần, đất nước bị nhà
Minh xâm lược, nhiều nhà yêu nước cũng chạy sang đất Lào lánh nạn.
Ngay sau khi lên ngôi (1353) và lập ra quốc gia Lạn Xạng (1357), vua
Phà Ngừm (1316- 1371) đã gửi tặng phẩm đến vua Đại Việt để mở đầu cho