So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Nam
ĐỀ TÀI
So sánh văn hóa Thái Lan –
Việt NamGiáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện : Vũ Thị Phương Dung
Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học
1
So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Nam
MỤC LỤC
Lời nói đầu 1
Nội dung chính 3
I. Thái Lan 3
II. Việt Nam 8
Kết luận 13
Tư liệu tham khảo 16
Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học
2
So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
Văn hóa theo như định nghĩa của chủ tịch Hồ Chí Minh “là sự tổng
hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người
đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi sinh
tồn”. Như vậy, văn hóa thể hiện những “nhu cầu đời sống”, “đòi hỏi sinh
tồn”, thể hiện những phương thức, cách thức sinh sống, làm việc của con
người. Hay nói cách khác, văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo ra, gắn liền với đời sống con người. Thông qua văn hóa,
ta có thể hiểu rõ hơn về mỗi nước, đó là những đặc trưng nổi bật, tạo nên sự
lũng phì nhiêu và tươi tốt ở vùng trung ương Thái Lan và các lưu vực sông
Chao Praya. Điều kiện khí hậu nhiệt đới cũng đóng góp không nhỏ cho sự
phát triển nông nghiệp của nước này. Hơn nữa từ rất sớm, người Thái đã có
một hệ thống trị thủy, đê điều tốt, cung cấp đủ nước tưới cho đồng ruộng
ngay cả khi mùa khô kéo dài. Do những điều kiện trên, nền nông nghiệp ở
Thái Lan phát triển từ rất sớm với 80% dân số Thái Lan làm nông nghiệp.
Thái Lan được coi là “bát gạo của Châu Á”. Đây cũng là nước đứng đầu trên
thế giới về xuất khẩu gạo. Hàng năm đất nước này xuất khẩu khoảng 7 đến 8
triệu tấn ra nước ngoài trên sản lượng hàng năm khoảng 26 triệu tấn gạo.
Năm 2010, ước tính sản lượng xuất khẩu gạo của Thái Lan lên tới 9 triệu
tấn.
Nông nghiệp phát triển từ rất sớm cùng với số lượng dân cư tham gia
làm nông nghiệp lớn (80%) nên đã hình thành nên những đặc trưng văn hóa
nổi bật ở người Thái Lan. Cụ thể như sau:
Phương thức canh tác lúa nước tạo cho người Thái Lan một lối sống
truyền thống đến nay vẫn khó phai. Ở nông thôn, người Thái sống trong
những gia đình hạt nhân mở rộng gồm ông bà, cha mẹ, cô dì, cháu chắt
Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học
5
So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Nam
Nhiều gia đình sống thành làng, xã. Một làng có khoảng 500 đến 700 gia
đình tập hợp lại. Đứng đầu mỗi làng bản là trưởng bản - người điều hành
mọi việc của bản trên cơ sở sự nhất trí cộng đồng. Trong một ngôi làng, ta
thường thấy có một nhà máy gạo và những kho, bể chứa gạo. Mỗi nhà
thường có một kho thóc được xây ở phía nam hoặc phía bắc của ngôi nhà.
Do đặc điểm sống như vậy, nên người Thái Lan có tính cố kết cộng đồng
cao. Điều này còn do người Thái Lan từ xưa đã hợp sức để đắp đê, trị thủy,
đào mương. Đắp đê, đào mương, canh tác lúa là những công việc không thể
làm một mình, đòi hỏi phải có sự góp sức tập thể nên đòi hỏi người dân phải
xích lại gần nhau hơn.
thường phải cũng lễ để tạ tội mẹ đất. Những lễ vật được đặt vào các miếu
thờ nhỏ trên bờ ruộng. Nếu không có miếu thờ thì có thể cắm một cái sào ở
bờ ruộng rồi treo lễ vật lên đó. Đến khi gieo hạt, người ta cũng dâng lễ vật
cho mẹ đất gồm trầu, cau, hoa quả và các thức ăn khác. Khi lúa chín người
ta làm lễ đưa mẹ lúa đi nơi khác trước khi gặt để mẹ lúa khỏi đau đớn khi
thấy con mình bị cắt. Ngoài ra, người Thái còn có lễ tạ mùa (xuất hiện từ thế
kỷ XVIII), lễ dâng vật cho mẹ lúa khi suốt lúa, lễ đưa mẹ lúa về kho, lễ
mừng cơm mới Những nghi lễ này đến thế kỷ XX vẫn còn tồn tại, được
làm trong các gia đình nông dân ở Thái Lan.
Ngoài những nghi lễ kể trên, ở Thái Lan còn tồn tại nhiều lễ hội xuất
phát từ nền nông nghiệp trồng lúa. Lúa gạo trở thành những hình ảnh biểu
tượng quan trong trong các lễ hội. Ta có thể kể đến:
Lễ Rekna, hay còn gọi là lễ hạ điền – một nghi lễ mở đầu cho một
mùa canh tác mới. Trong nghi lễ này, người ta tổ chức một đám rước để đưa
Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học
7
So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Nam
ông vua tượng trưng từ nhà ra ruộng thay mặt ông vua thật cày luống cày
đầu tiên mở đầu cho một vụ mới. Sau này, lễ Rekna được tổ chức trong một
ngôi đền dựng riêng trên một cánh đồng cạnh thành phố Băng Cốc. Bộ
trưởng bộ Nông nghiệp – vị vua tượng trưng – cùng những người phụ việc
vào giữa lễ đường bắt đầu cày những luống cày đầu tiên. Theo sau là những
thiếu phụ cắp những giỏ hạt giống bằng vàng, bằng bạc. Ông Bộ trưởng thì
quẩy mạ, còn các vị sư sãi thì tưới nước thiêng xuống đất. Những người
nông dân xô nhau cướp những hạt giống vì họ tin rằng những hạt giống đó
sẽ tạo những vụ mùa bội thu
Tiếp đến là lễ hội Songkran – đây là lễ hội té nước chào đón năm mới
của người Thái Lan. Lễ hội truyền thống này được kéo dài từ 13 đến 15/4
dương lịch hàng năm. Trong lễ hội, mọi người sẽ chúc nhau bằng những gáo
nước thân tình. Ai được ướt nhiều thì người đó có quyền được hãnh diện và
theo cách hiểu thứ hai tức là bạn không phải làm điều gì đó ngay bâg giờ.
Ngoài ra, văn hóa sản xuất còn tạo cho người Thái Lan những tính
cách rất phổ biến như: thích khất lần, không thích làm ngay những việc của
mai sau; thiếu kỷ luật, tùy tiện; không dám mạo hiểm, tránh rủi ro, do đó
thường thích làm công ăn lương chứ không thích buôn bán kinh doanh; thích
cầu may. muốn giàu có nhưng không muốn làm ăn nên hay cá cược, mua xổ
số, đánh đề, cờ bạc; mê tín dị đoan, thích xem giờ, xem ngày lành tháng tốt;
ưa mặc cả ( trong mua bán cũng như trong phân công lao động, cưới xin…);
có tính đố kỵ, cảm thấy khó chịu và đâm ra ghét khi thấy người ta có thể hơn
mình hoặc hơn mình
Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học
9
So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Nam
Ẩm thực Thái Lan cũng một phần bị ảnh hưởng bởi văn hóa sản xuất
của đất nước này. Thái Lan với 80% dân số làm nghề nông, cây trồng chủ
yếu là lúa nên thức ăn của các vùng chủ yếu là cơm tẻ và xôi. Tuy nhiên, do
cũng chịu ảnh hưởng từ các nước lân cận nên ẩm thực ở mỗi vùng, ngoài đặc
trưng cơ bản là cơm tẻ và xôi còn có nhiều món khác đi kèm và chế biến
khác nhau
II. Việt Nam
Cũng giống như Thái Lan, Việt Nam là một quốc gia có nền văn minh
nông nghiệp từ rất sớm. Việt Nam có nhiều điều kiện tự nhiên phù hợp cho
sự phát triển nông nghiệp, thậm chí Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi
hơn Thái Lan về phát triển nông nghiệp. Khí hậu Việt Nam có bốn mùa rõ
rệt, không có mùa khô kéo dài như ở Thái Lan. Hệ thống sông ngòi ở Việt
Nam dày đặc, nhiều hơn ở Thái Lan cung cấp đủ nước tưới cho cây trồng.
Việt Nam có hai đồng bằng phù sa màu mỡ là đồng bằng sông Hồng và
đồng bằng sông Cửu Long. Đây là hai vựa lúa chính của cả nước. Tuy vậy,
sản lượng nông nghiệp hàng năm của, sản lượng xuất khẩu hàng nông
nghiệp ra nước ngoài của Việt Nam vẫn thua Thái Lan. Nguyên nhân là do
đồng.
Tinh thần đoàn kết cố kết cộng đồng đã tạo nên sự hiền hoà, bao dung
trong phẩm chất tâm hồn của người Việt. Bản sắc hiền hòa và bao dung thể
hiện ở chỗ dân tộc ta không những chấp nhận sự khác biệt từ trong làng xã
mà còn đến quy mô rộng lớn hơn là trong xã hội. Chính tinh thần chấp nhận
khác biệt, chấp nhận đa nguyên này mà khi các tôn giáo, tín ngưỡng, triết lý
Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học
11
So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Nam
từ nước ngoài du nhập vào nước ta đã không bị kỳ thị; trái lại đã được dân
tộc ta dễ dàng tiếp nhận.
Như vậy, trong bảng giá trị truyền thống, đoàn kết (cố kết cộng đồng)
cùng với hiếu với cha mẹ (gia đình hạt nhân là tế bào xã hội) và trọng lão
(trọng kinh nghiệm) luôn là những chuẩn mực được đề cao. Những chuẩn
mực này đều xuất phát từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước.
Do truyền thống văn hoá nông nghiệp, cơ cấu bữa ăn của người Việt
thường thiên về thực vật mà lúa gạo là thức ăn hàng đầu, sau đó là rau quả.
Mặc dầu vậy, do sự đa dạng của môi trường sinh thái, mâm cơm của người
Việt thường có rất nhiều món, mỗi món lại là sản phẩm của sự pha chế từ
nhiều nguyên liệu đã tạo nên một khuôn khổ rộng rãi đến kì lạ trong cách
thức chọn lựa các món ăn của người Việt. Điều này thể hiện sự linh hoạt
trong lối ăn của người Việt.
Cách mặc của người Việt Nam cũng được điều chỉnh để phù hợp với
sản xuất, lao động. Ta thường thấy người nông dân Việt Nam hay mặc đồ
nâu, đen, màu chàm. Họ thường mặc những bộ quần áo đơn giản, không cầu
kỳ để tiện cho việc đồng áng. Dần dần, hình thành những đặc trưng trong
phong cách ăn mặc, hình thành nên những trang phục dần trở thành trang
phục truyền thống của người Việt Nam.
Cũng do nền văn minh nông nghiệp hình thành nên tính cách của
người Việt Nam với những đặc điểm khá giống tính cách của người Thái
vào ngày mùa khác ở Việt Nam ngày nay vẫn còn tồn tại nhiều ở nông thôn
nhưng không có tính phổ biến cao như ở Thái Lan. Ta cũng không có nhiều
Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học
13
So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Nam
lễ nghi như Thái Lan và các lễ hội diễn ra không cầu kỳ. Điều này là do
những nghi lễ, lễ hội này ở Thái Lan ngoài ảnh hưởng của nền văn minh
nông nghiệp còn bị ảnh hưởng bởi Phật Giáo.
Đặc trưng văn hóa sản xuất ra của cải vật chất ở Việt Nam ngoài trồng
lúa nước còn là đánh bắt cá. Ở Việt Nam có một hệ thống sông ngòi dầy đặc.
Trên lãnh thổ Việt Nam có tới 2860 sông ngòi lớn nhỏ nhưng chủ yếu là các
sông ngắn và dốc với tổng lượng dòng chảy khoảng 867 tỷ m3/năm. Sông
ngòi Việt Nam nhìn chung chảy xiết và do vậy thường làm xói mòn địa hình,
cuốn đi một lượng bùn cát khá lớn, ước tính khoảng 300 triệu tấn/năm. Tuy
dọc theo bờ biển có tới 112 cửa sông lớn, nhưng không phải tất cả bùn cát
các dòng sông mang theo đều đổ ra biển, mà một phần được giữ lại bồi đắp
nên các đồng bằng rất trẻ. Do có nhiều sông ngòi nên người Việt Nam rất
giỏi trong việc đi lại trên sông nước và đánh bắt cá trên những con sông này
(tuy nhiên không giỏi đánh bắt cá trên biển lớn). Do đó hình thành nên tính
cách linh hoạt, nhanh nhạy ứng phó với thiên nhiên và tính cố kết cộng đồng
cao.
Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học
14
So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Nam
KẾT LUẬN
Qua những phân tích và dẫn chứng được nêu ra ở trên, ta có thể nhận
thấy được rất nhiều điểm giống nhau của người Thái lan và người Việt Nam.
Cả hai dân tộc cùng có những điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp,
phát triển nông nghiệp từ rất sớm và từ đó hình thành những nét văn hóa
mang đặc trưng nông nghiệp có nhiều điểm tương đồng. Trước hết là những
Văn hóa sản
xuất
Văn hóa sản xuất chủ yếu là
trồng lúa nước và đánh bắt
cá. Yếu tố này chi phối
nhiều các mặt đời sống của
người Việt Nam. Do đó,
người Việt Nam đề cao tính
cộng động, có hiếu với cha
mẹ, trọng người già.
Văn hóa sản xuất ra của cải
vật chất chủ yếu là trồng
lúa. Đề cao tính cộng đồng,
có hiếu với vua, với cha
mẹ, trọng người già
Văn hóa đảm
bảo đời sống
- Ăn: Thanh nhẹ, đơn giản.
- Mặc: trang phục truyền
thống là áo tứ thân/ ngũ thân
(nữ); áo the (nam)
- Ở: tùy thuộc vào địa hình,
khí hậu mà xây nhà. Có
- Ăn: Cầu kỳ, có phối trộn
tinh tế giữa vị cay, chua,
ngọt và đắng
- Mặc: Trang phục truyền
thống là Phasin (nữ),
Sarong (nam)
Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học
TƯ LIỆU THAM KHẢO
1. Sách tham khảo
- Quế Lai (chủ biên) – Thái Lan – Truyền thống và hiện đại – NXB Thanh
Niên.
- Trần Ngọc Thêm (2006) - Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam - NXB Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Trần Quốc Vượng (2007) - Cơ sở văn hóa Việt Nam - NXB Giáo Dục.
2. Website
-
-
-
-
-
-
-
- />- />Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học
18