Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
Tiểu luận Xã hội học nông
thôn
1
Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
MỤC LỤC
Phần 1: Hương ước
I.Khái niệm
II.Nội dung
1.Lịch sử hình thành của hương ước
2.Sự khác nhau giữa hương ước và pháp luật ngày xưa
3.Những chính sách của nhà nước
4.Hiện trạng
5.Những giá trị của hương ước
Bản hương ước xã Duyên Trường, huyện Thanh Trì, Hà Nội
Phần 2: Luật tục
I. Khái niệm
II. Đặc điểm
III. Nội dung
IV.Giá trị xã hội
V.Luật tục trong xây dựng hương ước
2
Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
PHẦN I: HƯƠNG ƯỚC
I.Khái niệm
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của văn hoá pháp lý Việt Nam
qua các giai đoạn lịch sử đều dễ dàng nhận thấy là bên cạnh luật nước, luật làng
luôn giữ một vị trí quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội ở các làng
xã Việt Nam. Luật nước và lệ làng (hương ước) dường như luôn là những hành
đến bất thành văn. Và trong hương ước nhiều làng còn ghi chép lại những tập quán
từ thời công xã nguyên thủy xa xưa
Ví Dụ :Tục uống khoán trong hương ước của làng Hạ Bằng ở Thạch Thất( Hà
Nội) quy định ngày mùng 1 tháng giêng hàng năn có lệ uống khoán, uống máu ăn
thề, thề không an gian nói dối, thề không lấy cắp của nhau…
Theo Đinh Gia Khánh-Văn hóa dân gian Việt Nam-NXB chính Trị Quốc Gia Hà
Nội, 1995: ”Hương ước là bản ghi chép các điều lệ liên quan đến tổ chức xã hội
,cũng như đến đời sống xã hội, cũng như đến đời sống xã hội trong làng, các điều
lệ hình thành dần trong lịch sử được điều chỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết.”
Theo Lời giới thiệu của cuốn “Hương ước cổ Hà Tây” của Nguyễn Tá Nhí dịch:
“Hương ước là những điều lệ của một cộng đồng người chung sống trong cùng
một khu vực, để điều hòa quan hệ giữa cá nhân với cá nhân,cá nhân với tổ chức,
giữa tập thể này với tập thể khác.”
Như vậy, Hương ước vừa là kết quả vừa là yêu cầu của quá trình phát triển nội tại
của đời sống làng xã. Nó kế tục và hoàn thiện những quy ước cổ sơ của mỗi nhóm
dân cư trong từng lũy tre xanh
II.Nội dung
Hương ước bao gồm các nội dung chính sau:
• Liên quan đến tổ chức nông nghiệp và môi trường sinh thái
• Cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội trong làng xã
• Giữ gin an ninh trật tự xã hội trong cộng đồng
• Văn hóa, giáo dục, tổ chức thờ cúng
• Đảo đảm các nghĩa vụ sưu thuế, binh dịch của làng xã với nhà nước
4
Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
• Khen thưởng và xử phạt trong việc tuân thủ các quy ước của làng xã
- Đề ra các biện pháp, phương thức thích hợp giúp dân cư trên địa bàn tham gia
quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, bảo đảm phát huy quyền tự do, dân chủ của
nhân dân; động viên và tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa
vụ công dân;
các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, rượu chè bê tha, trộm cắp, mại dâm và các
hành vi khác vi phạm pháp luật nhằm xây dựng địa bàn trong sạch. Phát động
trong nhân dân ý thức phòng gian, bảo mật, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về
tạm trú, tạm vắng; tham gia quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người lầm lỗi tại
cộng đồng dân cư. Đề ra các biện pháp cần thiết hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền phát
hiện, xử lý vi phạm pháp luật trên địa bàn; bảo đảm triển khai thực hiện các quy
định của pháp luật về tổ chức tự quản ở cơ sở như Tổ hòa giải, Ban an ninh, Tổ bảo
vệ sản xuất, Ban kiến thiết và các tổ chức tự quản khác;
-Đề ra các biện pháp thưởng, phạt phù hợp để bảo đảm thực hiện hương ước:
Hương ước quy định các hình thức và biện pháp khen thưởng đối với cá nhân, hộ
gia đình có thành tích trong việc xây dựng và thực hiện hương ước như: lập sổ
vàng truyền thống, nêu gương người tốt việc tốt, ghi nhận công lao, thành tích của
tập thể, cá nhân; bình xét, công nhận gia đình văn hóa và các hình thức khen
thưởng khác do cộng đồng tự thỏa thuận hoặc đề nghị các cấp chính quyền khen
thưởng theo quy định chung của Nhà nước.
Đối với những người có hành vi vi phạm các quy định của hương ước thì chủ yếu
áp dụng các hình thức giáo dục, phê bình của gia đình, tập thể cộng đồng, thông
báo trên các phương tiện thông tin đại chúng ở cơ sở. Trường hợp vi phạm nghiêm
trọng các quy định của hương ước thì trên cơ sở thảo luận thống nhất trong tập thể
cộng đồng, có thể buộc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trong phạm vi cộng đồng
hoặc áp dụng các biện pháp phạt nhưng không được đặt ra các biện pháp xử phạt
nặng nề xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản,
quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân. Trong hương ước không đặt ra các
khoản lệ phí.
Hương ước có thể đề ra các biện pháp nhằm góp phần giáo dục những người có
hành vi vi phạm pháp luật bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn; giáo dục, cảm hóa
6
Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
giúp đỡ người phạm tội sau khi ra tù trở thành người lương thiện, có ích cho xã
hội.
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, cơ cấu làng xã cũ bị giải thể, các bản hương ước
cũ không còn giá trị trong đời sống làng xã.
Từ 1989, hiện tượng tái lập Hương ước xuất hiện và ngày càng có chiều hướng rõ
nét.
Tại hội nghị lần V của BCH TW Đảng (khóa VII) vào thang 6/1993 Đảng đã chủ
trương khuyến khích xây dựng và thực hiện hương ước, các quy chế về nếp sống
văn minh ở các thôn xã. Trên cơ sở đó rất nhiều địa phương tiến hành tổ chức
Hương ước là một nguồn tài liệu quý để nghiên cứu làng xã cổ Việt Nam
2.Sự khác biệt giữa hương ước và pháp luật thời xưa
Vốn có nguồn gốc từ phong tục, tập quán nên hương ước có một sức sống bền
bỉ, lâu dài. Hương ước đã từng tồn tại song song với luật nước, từng giữ vai trò là
công cụ quan trọng để điều chỉnh các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư và để
quản lý làng xã. Trong xã hội, mỗi người dân không những phải làm đúng phép
nước mà còn phải tuân thủ lệ làng. Vậy giữa hương ước và pháp luật có sự khác
biệt như thế nào?
Nội dung của hương ước đơn giản và gọn nhẹ hơn so với pháp luật. Bộ luật Hồng
Đức có tới 722 điều quy định liên quan hầu hết đến các mặt của đời sống, còn một
bản hương ước của người Việt chỉ gồm vài chục điều khoản liên quan đến một số
mặt của đời sống làng mạc. Mỗi mặt của đời sống xã hội (ví dụ những quy định về
hôn nhân gia đình), được luật pháp Nhà nước cụ thể thành hàng chục, thậm chí
hàng trăm điều khoản, trong khi đó, ở các bản hương ước, vấn đề này được ghi
nhận trong một vài điều khoản ngắn gọn.
Trong văn bản pháp luật chỉ quy định các hình thức xử phạt, mà không có hình
thức khen thưởng như hương ước. Điều này là do tính cưỡng chế Nhà nước của các
quy phạm pháp luật quy định. Nó khác với hương ước, ngoài tính áp đặt còn mang
tính khuyến cáo, khuyên răn, khuyến thiện. Khung hình phạt của hương ước
8
Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
thường đơn giản và ít mang tính nghiêm khắc hơn so với pháp luật. Hình phạt
chính trong hương ước chủ yếu là phạt tiền; còn pháp luật thời kỳ phong kiến quy
9
Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
-Năm 1996, trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã nêu rõ cần phải phát huy và kế thừa hương ước cổ truyền trong việc quản lí
nông thôn hiện nay.
-Chủ trương này sau đó đã được pháp luật hóa bằng Nghị định 24CT/TTg ngày
19/6/1998 của Chính phủ chỉ thị cho các địa phương việc kế thừa hương ước cổ
truyền trong việc soạn thảo hương ước nông thôn mới.
Để phát huy yếu tố tích cực, khắc phục những hạn chế, tiêu cực của hương ước,
quy ước, baảo đảm triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Chỉ thị của Bộ
Chính trị số 30/CT-TW ngày 18 tháng 2 năm 1998 về xây dựng và thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với việc xây dựng
và thực hiện hương ước, quy ước trong giai đoạn hiện nay,
Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:
1. Nội dung của hương ước, quy ước cần tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau
đây:
Bảo đảm giữ gìn và phát huy thuần phong, mỹ tục, thực hiện các hành vi ứng xử
văn minh trong giao tiếp, ăn, ở, đi lại , xóa bỏ hủ tục, phát triển các hình thức hoạt
động văn hóa lành mạnh, phát huy tình làng nghĩa xóm, đoàn kết, tương thân,
tương ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư;
Đề ra các biện pháp góp phần bảo vệ tài sản công cộng và tài sản của công dân,
bảo vệ môi trường sống, bảo vệ, rừng, biển, sông, hồ, danh lam thắng cảnh, đền
chùa, miếu mạo, các nguồn nước, đê điều, đập nước, kênh mương, kè cống. Xây
dựng và phát triển đường làng, ngõ xóm, trồng cây xanh, chống ô nhiễm các nguồn
nước ở địa phương;
Đề ra các biện pháp bảo vệ thuần phong mỹ tục, bài trừ các hủ tục trong ma chay,
cưới hỏi, thờ phụng, lễ hội v.v ở địa phương;
Góp phần xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, đề ra những tiêu chuẩn
gia đình văn hóa, các quy tắc đạo đức mới, giúp đỡ nhau tìm ra các biện pháp xử lý
tốt các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình;
hiện nay.
4. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình, trình
Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành nghị quyết quy định cụ thể việc quản lý nhà nước
11
Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
và định hướng nội dung hương ước, quy ước căn cứ vào quy định của pháp luật
hiện hành và phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội, phong tục
tập quán của địa phương.
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo triển khai và kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết
của Hội đồng nhân dân về các vấn đề nói trên.
5. Uỷ ban nhân dân cấp huyện có nhiệm vụ phê duyệt các văn bản hương ước, quy
ước do ủy ban nhân dân cấp xã trình và chỉ đạo, hướng dẫn việc thực hiện hương
ước, quy ước trong phạm vi địa bàn huyện, bảo đảm nội dung hương ước, quy ước
phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, các quy tắc xây dựng nếp sống
văn hóa mới, duy trì và phát triển phong tục tập quán tốt đẹp ở cơ sở.
6. Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chỉ đạo, hỗ trợ các làng, bản, thôn, ấp,
cụm dân cư xây dựng hương ước, quy ước có nội dung phong phú, thiết thực, phù
hợp với quy định của pháp luật hiện hành và chủ trương chính sách của Đảng và
Nhà nước, và trình ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt. ủy ban nhân dân cấp xã
thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện hương ước, quy ước trên địa bàn.
7. cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh việc tuyên truyền về vai trò và tác dụng
của việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước, các mô hình mẫu về nếp sống
văn hóa, gắn với việc tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân
chủ ở cơ sở; nêu gương những điển hình tiên tiến, phát hiện và đấu tranh chống các
biểu hiện tiêu cực, sai trái hoặc lợi dụng hương ước, quy ước để duy trì các hủ tục,
tập quán lạc hậu.
8. Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan, Chủ tịch Hội đồng nhân dân,
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm thi hành Chỉ thị này./.
Năm 1999, Bộ Tư pháp cũng có những công văn, chỉ thị hướng dẫn các địa
phương thực hiện nghị định này của Chính phủ.
dẫn sát sao, cụ thể của các cấp, các ngành. Tuy nhiên, trên thực tế, việc ban hành
và thực hiện hương ước không phải không còn có những hạn chế, khiếm khuyết,
gd thể kể ra đây những hạn chế sau:
13
Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
1). Tên gọi và đối tượng điều chỉnh còn lẫn lộn, chủ thể ban hành hương ước, quy
ước chưa đúng quy định.Vẫn chưa thống nhất được tên gọi là quy ước hay là
hương ước. Các hương ước phần nhiều lẫn lộn với quy chế thực hiện dân chủ ở cơ
sở. Thực ra thì quy chế thực hiện dân chủ ở xã do Chính phủ ban hành cho chính
quyền cấp xã thực hiện bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.
2). Nội dung hương ước mới còn sơ sài, lặp lại pháp luật và chủ trương chính sách
của Nhà nước một cách khô khan, thiếu cụ thể, chưa sát thực với điều kiện và đặc
điểm của từng làng, câu chữ trong văn bản còn nặng tính hô hào, khẩu hiệu. Có
không ít bản hương ước có những điều khoản không đúng với tinh thần của pháp
luật, can thiệp quá sâu vào đời sống cá nhân, đi ngược lại cả những phong tục
truyền thống từ lâu đời, thậm chí quy định cả những “hình phạt” vốn không thuộc
thẩm quyền của cấp cơ sở. Nơi này, nơi kia chúng biến tướng thành một thứ “lệ
làng” – với nghĩa tiêu cực của từ này – do các ông trưởng thôn, chủ tịch xã quan
liêu, hách dịch, thiếu hiểu biết, tùy tiện đặt ra bắt dân phải tuân theo.
Ví dụ: Hương ước của làng Bình Lộc, xã Bình Điền, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên – Huế quy định phụ nữ 20 tuổi, nam giới 22 tuổi mới được kết hôn. Điều
này là trái với Luật Hôn nhân và Gia đình. Quy ước của 7 làng thuộc huyện Hương
Trà quy định phụ nữ nào không lấy được chồng thì trên 30 tuổi mới có quyền làm
mẹ và chỉ được sinh 1 con.
3). Nhiều bản hương ước quy định các hình thức phí, lệ phí, xử phạt một cách tùy
tiện, bừa bãi. Đó là chưa kể các khoản lệ phí kết hôn, mai táng người chết. Có tới
180 hương ước (chiếm 78,3%) quy định hành vi vi phạm hành chính và các hình
thức xử phạt mà lẽ ra thẩm quyền này theo pháp luật chỉ thuộc Chính phủ
4). Nhiều hương ước xây dựng đều chưa thể hiện được sự kết hợp giữa yếu tố
truyền thống và hiện đại trong nhiều bản hương ước, nhiều địa phương chưa lồng
việc được, khi từ việc thì được dự chiếu kỳ mục và trừ đê điều tạp dịch, nhưng phải
khao vọng như lệ. Người nào bị cách bãi, thì không được dự chiếu này.
Điều 3: việc chi trả lương cả năm cho các chức dịch
15
Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
Dân cấp lương hàng năm cho các lý dịch là hai mẫu ruộng, Phó lý một mẫu,
Hương trưởng năm sào.
Điều 4: Việc quân cấp công điền, tự điền
Làng có ngoài 60 mẫu ruộng hậu chùa thông đạt chi các tiết lễ, còn đâu quân
cấp dân đinh, mỗi người hai miếng rưỡi, để hàng năm đỡ sưu dịch. Lại có ngoài 23
mẫu công điền, hậu điền và người cày các tiết lễ còn đau chia làm 9 lô, để đầu năm
Tây bổ túc đáu giá, hoặc chia cho trai lấy tiền xung công. Lại có 5 sào tư điền làng
Phúc am, chia về hai hội lão để xuân thu nhị lễ. Các ruộng nói trên thì xử, sở đã có
sổ riêng trong làng.
Điều 5: Việc bổ sưu thuế
Đến kỳ sưu thuế Lý trưởng lĩnh bài giấy về định ngày cho bổ thuế, thì gióng
trống làng, cả dân vào hội đồng căn cứ theo giấy tờ các hạng mục sưu thuế bao
nhiêu bạc xem cho minh bạch, chiếu bổ tinh dinh điền quân cấp chịu nhận. Hoặc
có tiêu dùng việc công, việc gì cũng phải biên cho rõ ràng, lập thành bài bổ đẹ
trình, không được phù lạm. Nếu ai bỏ sưu thuế chung Lý trưởng phải tường đến
hội đồng, thì hội đồng trích tiên công giao lý trưởng đề nạp, rồi trình quan trừng
trị, về sau không dự ngôi hương ẩm.
Điều 6: Việc cắt tuần trông nom mùa màng
Mỗi năm cứ đầu tháng 2 cắt tuần sương, thì hội đông lý dịch chiếu nhân
đinh số, từ trưởng trở xuống chọn lấy 15 hoặc 20 người trai trai khỏe maunhj làm
tuần xã, có sáo gậy tử tế để đêm ngày tuần phòng trông nom trong làng, ngoài
đồng và đắp các đường khuyến nông thủy thế giúp may tùy liệu. Nếu trong làng
người nào thiện tiện tháo nước chỗ đã giữ, tuần tráng bắt được tường đến hội đồng
thì phạt 5 hào sung công. Nếu tuần không chịu trông nom đẻ tháo mất nước, hội
động phạt cả tuần một đồng bạc sung công như hai mùa công tư lúa ruộng cho
Điều 8: Việc bắt lính.
Hễ có phái bắt lính mới thì lý trưởng chiếu nhà nào hai con trai trở lên,
cường tráng, tuổi tác hợp lệ thì đưa đi tuyển. Ai được mãn khóa, khao vọng như
phó lý trưởng thì được chiếu kỳ mục. Nhưng người nào bị thải mà thu mất nhiếp đê
thì không dược hưởng lệ ấy.
Điều 9: Việc đê đường.
Phàm quan đê công lộ thừa sức phá rỡ thì dịch chiếu đinh từ 6 bàn trở xuống
chia đều mà đắp. Những người nào được trừ còn các dường đi đi trong làng thì thủ
17
Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
lộ chia phần để xóm nào xóm ấy phải đắp. Nếu người thủ lộ đã báo đến 2, 3 lần mà
vẫn không chịu đắp thì phạt 3 hào.
Điều 10: Việc cứu chữa.
Khi nước lên to có lệnh có lệnh quan sắm đóm đuốc thuổng cuốc hoặc
quang thúng, thì làng cấp cho phó lý 2 đồng bạc để sắm các đồ ấy giao cho phó lý,
đệ niên thương hộ. Nếu mất phải đền. Như có bắt tre gỗ bao nhiêu chiết can ra tiền,
chiếu điền số quân bỏ. Ai không nộp trình quan xử trị.
Điều 11: Việc kiện cáo:
Trong làng ai có việc gì bất bình đưa ra hội đồng. Nếu viecj về dịch hộ thì
hội đồng lý dịch họp tại công sở hòa giải 2 bên. Hòa giải không xong phải làm biên
bản trình lên quan.
Nếu có việc hình thì phải tìm cho ra sự thực mà trình quan xét. Ai có việc gì
khai dẫn đến hội đồng lý dịch,phí tổn bao nhiêu người ấy phải chịu. Còn như công
dân quan có bắt đòi lên tỉnh thì dân cấp cho 4 hào mỗi người mỗi ngày đêm, lên
huyện thì 2 hào. Nhưng nếu đòi về công vụ về phận mình hoặc việc riêng của mình
thì được tiền ấy.
Điều 12: Việc sinh tử giá thú:
Trong làng ai có việc sinh tử giá thú phải đến nhà hộ lại mà vào sổ. Nếu ai
để quá hạn như trong luật đã định mà không khai báo thì hội đồng lý dịch sẽ trình
quan xét.
củi, các hoa màu, các đồ vật trong vườn trầu hay mai, trộm trầu từ một nắm trở lên
mà tuần tráng bắt được tường đến hội đồng lý dịch trình quan xử trị.
Khi có trộm cướp to thì lý dịch trong làng phải lấy tuần tráng đến ứng cứu
và các trương tuần phải đốc suất đàn em đến ứng cứu. Hễ ai bắt được một đứa
cướp, dân làng thưởng 10 đồng bạc. Đánh chết một đứa cướp, dân thưởng 6 đồng
bạc. Bắt được một đứa trộm quả tang , đứa ấy là người làng khác, dân thưởng 3
đồng bạc. Người nào bị trộm cướp đánh chết, dân làng cho tiền tử tuất 10 đồng
bạc, cho con hay cháu một tiên nhiêu trừ đê tạp dịch suốt đời. Ai phải trộm cướp bị
đánh thương nhẹ, dân cho 2 đồng bạc, bị thương nặng,dân cho 5 đồng bạc để uống
thuốc. Nếu ai đánh, lấy lại được những đồ vật của quân trộm cướp đã lấy, thì
những đồ vất ấy hội đồng chiết can ra tiền, chia làm 5 phần, người có của nhận
xong phải nộp một phần tiền để thưởng cho người lấy lại được.
19
Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
Đương lúc có trộm cướp mà tuần hay dân trai vắng mặt thì hội đồng lý dịch
vào ngay xem có nhà hay không. Nếu có nhà mà không ra ứng cứu thì phạt 2 hào
xung công. Bằng không chịu thì cấm đi việc làng một năm
Điều 18. Việc cờ bạc, rượu lậu, thuốc phiện lậu
Trong làng cấm không ai được chứa cờ bạc. Ai không tuân hội đồng lý dịch
trình quan thì phải trừng trị. Còn như nhà ai có việ vui mừng mà bày ra tổ tôm, tài
bàn để cùng vui thì không thuộc về cấp ấy.
Trong làng cấm không ai được chứa rượu lậu. Ai không tuân hội đồng lý
dịch bắt được 1 bình trở xuống thì cho đi và phạt 3 hào xung công,2 bình trở lên thì
trình lên quan phân trị. Ai trữ thuốc phiện lậu mà bị hội đồng lý dịch bắt được, thì
trình quan xử trị.
Điều 19: Viếc gian dâm.
Trong làng ai trêu ghẹo đàn bà con gái, bắt được đích thực cùng những
người trêu ghẹo là can đến cương thuần luân lý, tức là người mà luật cấm không
cho giá thú mới nhau thì phạt 5 hào xung công.
Nếu ai không chồng mà chửa thì phải nộp khoán cho làng.
Phần II
NÓI VỀ PHONG TỤC
Điều 26: việc thờ thần.
Làng ta với làng Hạ Thái cùng thờ đức thượng thần ở miếu, trong một hạn
ba năm cứ Tý, Ngọ, Mão, Dậu, ngày 11 và 12 tháng 3 thì hai dân hội họp lễ tại
đình hoặc tại miếu. Như việc hai làng đi lại với nhau có điều ước riêng của hai
làng. Có năm nào cũng cứ mồng 10 tháng 1 làng ta lễ ở miếu, thì Hạ Thái phải biện
trầu ăn. Khi Hạ Thái lễ thì ta phải biện trầu ăn. Lại có giao hiếu với làng Phúc Am,
năm nào cũng đi lại với nhau đã có điều ước của hai dân. Còn lễ vật, dân trích công
quĩ chi, giao giáp trưởng sửa 20 phẩm oản và hương đến đệ sang Phúc am. Còn
một chục lễ ở đình đê hội đồng lý dịch các cụ hữu cớ thụ phúc
21
Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
Điều 27: Việc tế tự.
1. Các tiết lễ trong tháng giêng
2. Các tiết lễ trong tháng hai
3. Các tiết lễ trong tháng ba
4. Các tiết lễ trong tháng tư
5. Tháng năm ngày mồng mười tiệc Đức Thánh
6. Tháng sáu ngày mồng chín giỗ hậu tuần
7. Tháng 7 ngày mồng 2 lễ đổi mả
8. Tháng 8 ngày mồng mười Đức Thánh hóa
9. Tháng chín lễ thường tân
10.Tháng 11 ngày mồng 6 giỗ hậu Tuần
11.Tháng 12 ngày mồng 3 tiết chạp
Điều 28: Việc bầu chủ tế giữ tế tự
Ông chủ tế thì bầu từ khoa mục phẩm hàm, các chức tư văn từ văn trưởng
trở lên, thưỡng lão từ 60 trở lên. Các mục ấy không ai chịu thì bầu tử 50 trở lên.
Khi đã bầu được ông chủ tế rồi thì giáp trưởng thông với đương dịch để nói với
ông dến xem ngày lễ đinh. Ông nào chịu chủ tế thì sớm nhận trầu. Chỉ được cau và
Những lễ vật khao nói trên thì được chia về 8 giáp. Còn mời các mục tùy
tình. Những người nào chưa mua tuần điếm thì phải nộp 20 đồng bạc sung công.
Người nào làm lý hương hoặc hội đồng chức dịch mãn lệ thì phải sửa một
cía thủ lợn, 1 mâm xôi, 1 bình rượu, 1 cơi trầu lễ thần kính dân. Lại phải nộp 3
đồng xu sung công và 2 đồng của riêng hội ấy. còn người nào mua lý phó trưởng
xã dân, phải nộp 3 đồng bạc sung công và khao vọng như lệ, thì được dự chiếu kỳ
mục.
Điều 30: Việc vọng vào tư văn.
Trong làng ai đỗ tú tài Tây, tú tài bản xứ, năng tham biện trở lên mà vọng
vào tư văn thì phải nộp trả hội riêng của hội thì chi đủ. Còn người nào mua ngôi tư
văn thì đã lệ của ấy. những hội tư văn bán cho ai cũng phải thỏa thuận mới được.
Điều 31: Việc viết văn và rước văn.
Trong làng văn lễ đi và các ngày hội thì các ông khoa mục hay họi tư văn
phải biết. còn các tiết thường hành trong một năm đã có ông điển lễ viết còn rước
văn thì ở nhà khoa mục hoặc đồng câu tư văn. Nếu những người ấy có tang thì
rước ở trong điển văn.
Điều 32: Việc mục tuần điếm
23
Nhóm 1 XHH K53 XÃ HỘI HỌC NÔNG THÔN
Trong làng ai mua tuần điếm thì phải sửa nộp 10 đồng bạc sung công và hai
trăm trầu, 2 bình rượu, lại phải sửa khao 1 con gà, 1 bình rượu, 30 phẩm oản, 100
trầu thì trừ tứ phiên điếm. người nào từ ngoài 50 tuổi mới mua nhiêu, chỉ phải nộp
3 đồng bạc sung công mà thôi.
Điều 33: Thứ vị tại đình trung.
Khi kế tự giải 4 chiếu lễ. Chiếu thứ nhất là chủ tế khoa mục, thủ chì và cụ
nhiều tuổi nhất có giá trị và không can phạm gì. Chiếu nhì là chiếu phẩm hàm,
hương lão, tư văn. Chiếu 3 là chiếu các cụ năm bàn trở lên và hội đồng lý dịch.
Trong đình, gian trong trước hương án mấy chiếu chủ tế và đại khoa. Long
đình bên tả là mấy chiếu cử nhân, tú tài, tham biện phẩm hàm về văn giai, kỳ mực
hội đồng, bên hữu là chiếu phẩm hàm thì được ngồi trên giường câù. Long đình
phải sửa hội văn lễ bái các thánh sư, lễ hậu thổ hội nhạc. Lễ bãi thánh sư, mỗi lễ
một mâm sôi, 1 con gà, 1 bình rượu, 1 cơi trầu. Còn cỗ ăn thì đủ các mục, tư văn
bản giáp cho đủ và mời cỗ hội nhạc, mời cỗ trung nam từ năm bàn trở xuống được
nhung không có phần.
Hai là mời tư văn trợ tế, bản giáp giúp việc tang ma thì nhiều như rước
những nhạc hội và trung nam không có.
Ba là khoản đãi bản giáp một bữa cơm rượu
Bốn là kính bản giáp một cái thủ lợn, 1 ván xôi, 2 bình rượu và 100 trầu
Năm là kính bản giáp 1con gà, 1 ván xôi, 1 binh rượu, 100 trầu
Sáu là triết can kính bản giáp 5 hào và 1 cơi trầu.
Ai muốn làm lệ nào cũng được. Ai có báo hiếu mời, thì dân vào phúng 100
trầu
Điều 38: Việc đi rước.
Khi có hội thì nhân đinh tám giáp từ 6 bàn trở xuống ai quang quẻ thì ra đình
cắt việc đi rước. các đương dịch phải cắt cử cho công bằng. Việc chiêng chống về
tứ phiên và người ngụ cư. Những người không cắt từ trai trở xuống khi rước người
25