ô nhiễm môi trường ở nông thôn - môn xã hội học nông thôn - Pdf 24


I. Đặt vấn đề:
Ô nhiễm môi trường đã và đang trở thành vấn đề bức thiết của xã hội. Bởi ô
nhiễm môi trường gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng, ảnh hưởng
tới nhiều yếu tố tự nhiên, xã hội, đặc biệt là vấn đề sức khỏ của người dân.
Ô nhiễm môi trường hiện nay không riêng gì ở thành phố và các khu công
nghiệp mà ở địa bàn nông thôn cũng đang là mối quan tâm của nhiều người.
Tại địa bàn nông thôn đáng ngại nhất là viêc sử dụng các loại chất độc hại
như thuốc trừ sâu , trừ bệnh , trừ cỏ, phân hóa học…để bảo vệ cây trồng vật
nuôi chưa đúng cách. Các phế liệu, phế phẩm xác súc vật chết ,phóng uế bừa
bãi làm ô nhiễm không khí, nước sinh hoạt , là điều kiện thuận lợi cho vi
sinh vật phát triển lây lan dịch bệnh . Môi trường sống bị ô nhiễm ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe và đời sống của nông dân và địa bàn nông thôn. Vì
vậy ô nhiễm môi trường nông thôn là điều cần được lưu ý và nhận được sự
quan tâm của các cấp chính quyền.
1. Khái niệm ô nhiễm môi trường:
- Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam: “Ô nhiễm môi trường là sự làm
thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường”.
- Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải
hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe
con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi
trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải),
lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh
học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.
Tuy nhiên, môi trường chỉ được xem là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng,
nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động
xấu đến con người, sinh vật và vật liệu.
2. Các dạng ô nhiễm chính
Dưới đây là các hình thức ô nhiễm và các chất ô nhiễm có liên quan.
* Ô nhiễm nước:
- Hiến chương châu Âu về nước, định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi

người. Ô nhiễm ozone có thể gây bệnh đường hô hấp , bệnh tim mạch, viêm
trùng họng, đau ngực, tức thở. Ô nhiễm nước gây ra xấp xỉ 14000 cái chết
mỗi ngày , chủ yếu do ăn uống bằng nước bẩn chưa được xử lí. Các chất hóa
học và kim loại nặng nhiễm trong thức ăn , nước uống có thể gây ung thư.
Dầu tràn có thể gây ngứa rộp da. Ô nhiễm tiếng ồn gây điếc, cao huyết áp,
trầm cảm và bệnh mất ngủ, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng.
* Ô nhiễm tiếng ồn
Bao gồm tiếng ồn do ô nhiễm song , do các loại song như song điện thoại,
song truyền hình…tồn tại với mật độ lớn
II. Vài nét về tình hình môi trường nông thôn hiện nay.
Nước ta có trên 77% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn với cơ cấu
ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ. Trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, khu vực nông thôn
mang tính chiến lược, trước mắt cũng như lâu dài. Vì vậy, nông thôn chi
phối và tác động nhiều mặt đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường
quốc gia.
Môi trường nông thôn trong thời kỳ đổi mới có được cải thiện. Nhiều vùng
nông thôn đã “thay da đổi thịt”, đường làng ngõ xóm đã được cải tạo xây
dựng tốt hơn, nhà ở khang trang hợp vệ sinh có tỷ lệ cao hơn. Nhiều vùng
nông thôn đã căn bản cải tạo được tình trạng ao tù nước đọng. Chuồng trại
chăn nuôi đã xây dựng xa nhà ở, công trình vệ sinh, nước sạch đã được cải
thiện hợp vệ sinh hơn. Tuy nhiên, môi trường nông thôn nước ta hiện nay
còn nhiều vấn đề tồn tại phải giải quyết.
-* Nước sạch nông thôn: Theo số liệu của Viện Bảo hộ lao động năm 2008,
tỷ lệ nông dân được cấp nước sạch còn rất thấp, vùng núi phía Bắc là 17%,
Trung du Bắc bộ và Tây Nguyên 19%, Bắc và Nam Trung bộ 37-38%, Đông
Nam bộ 23%, đồng bằng sông Hồng 41%, đồng bằng sông Cửu Long 34%.
-* Các hoá chất bảo vệ thực vật được sử dụng nhiều trong nông nghiệp,
lượng hoá chất sử dụng cho 1 ha năm 1999 so với năm 1990 tăng gấp 2 lần.
Thuốc trừ sâu mặc dù có giảm trong 10 năm gần đây nhưng vẫn chiếm tỷ lệ

nông thôn hiện nay.
* Ngoài ra, không khí ở nông thôn đang bị ô nhiễm về nhiệt, tiếng ồn, hơi
độc, bụi khói; không gian bị thu hẹp do đất bị chiếm dụng để xây dựng cơ sở
sản xuất, chứa nguyên vật liệu, sản phẩm hàng hoá và nhất là chất thải đủ
loại.
* Ðáng chú ý, vấn đề ô nhiễm môi trường bức xúc nhất hiện nay ở khu vực
nông nghiệp, nông thôn là các làng nghề.
Theo số liệu gần đây nhất, cả nước có khoảng 1450 làng nghề phân bố ở 58
tỉnh, thành phố trong cả nước, riêng vùng đồng bằng sông Hồng có khoảng
800 làng với đặc điểm tập trung phần lớn tại khu vực nông thôn, làng nghề
tự phát, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán xen kẽ trong khu dân cư và hầu như
không có công nghệ, thiết bị thu gom xử lí rác .Trong đó, làng chế biến nông
sản thực phẩm là loại hình làng nghề có nhu cầu nước rất lớn và thải ra
lượng nước thải hữu cơ gây ô nhiễm môi trường.
- Kết quả khảo sát ở một số làng nghề cho thấy, hầu hết nước thải đều có
BOD vượt chỉ tiêu cho phép từ 12,8 đến 140 lần, COD vượt từ 9,7 đến 87
lần, nước thải có pH thấp. Trong quá trình sản xuất, chế biến của nhiều
doanh nghiệp, khu công nghiệp có sử dụng nhiều nguyên liệu thủy sản,
nước, nhiên liệu, năng lượng, hóa chất tẩy rửa, khử trùng, môi chất lạnh
dẫn đến lượng chất thải rắn, nước thải, khí thải sinh ra nhiều, đặc biệt là
nước thải hữu cơ gây ô nhiễm môi trường. Trong các loại chất thải, nước
thải trong chế biến thủy sản có hàm lượng các chất ô nhiễm hữu cơ rất cao,
các chỉ tiêu BOD5, tổng Nitơ và Coliform cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ
vài lần, đến hàng trăm lần.
- Các chất thải rắn và lỏng ở vùng nông thôn, ở các làng nghề thải vào môi
trường đất đã làm thay đổi thành phần lý, hoá, sinh học của đất làm đất bị ô
nhiễm. Ô nhiễm môi trường đất đã xảy ra nghiêm trọng nhất ở các làng nghề
tái chế kim loại, sản xuất polyetylen, cơ khí… Kết quả điều tra hàm lượng
kim loại nặng trọng mẫu đất ở một số xã làng nghề đều cho kết quả hàm
lượng kim loại nặng cao gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép đã ảnh hưởng

khỏe con người vứt tràn lan ở bờ ruộng, bờ mương, sông ngòi sẽ
ngấm dần vào nguồn nước ngầm.
- Ông Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên&Môi trường
Việt Nam, cho biết nếu vào cuối những năm 1960, chỉ có khoảng 0,48%
diện tích đất canh tác sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thì hiện nay là 100%
với trên 1.000 chủng loại thuốc, trong đó nhiều loại thuốc có độc tính cao.
- Hằng năm, nước ta sử dụng trung bình 15.000 - 25.000 tấn thuốc bảo vệ
thực vật. Bình quân 1ha gieo trồng sử dụng đến 0,4 - 0,5 kg thuốc bảo vệ
thực vật. Sử dụng không hợp lý, không tuân thủ theo đúng những quy định
nghiêm ngặt về quy trình sử dụng nên thuốc bảo vệ thực vật gây nhiều tác
hại cho chính người sử dụng thuốc và người tiêu dùng nông sản và thực
phẩm có chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời ảnh hưởng đến môi
trường sống.
- Báo cáo tổng hợp của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên&Môi trường,
mỗi năm hoạt động nông nghiệp phát sinh khoảng 9.000 tấn chất thải nông
nghiệp nguy hại, chủ yếu là thuốc bảo vệ thực vật, trong đó không ít loại
thuốc có độ độc cao đã bị cấm sử dụng.
- Ngoài ra, cả nước còn khoảng 50 tấn thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu tại hàng
chục kho bãi; 37.000 tấn hóa chất dùng trong nông nghiệp bị tịch thu đang
được lưu giữ chờ xử lý. Môi trường nông thôn đang phải gánh chịu những
bất lợi từ hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Ví dụ: . Ở đồng bằng sông Hồng sau mười năm canh tác (từ 1990 đến 2000)
độ chua đất (pHKCL) trung bình giảm 4,5%. Tại đồng bằng sông Hồng và
đồng bằng sông Cửu Long lượng thuốc BVTV sử dụng tập trung ở mức cao
đã gây ô nhiễm nguồn nước ở các kênh, sông. Khối lượng vỏ bao thuốc
BVTV trung bình là 19 nghìn 637 tấn/năm, chủ yếu là các loại vỏ bao giấy
tráng kẽm, túi ni-lon (các loại chai nhựa và thủy tinh không đáng kể). Vỏ
bao thuốc BVTV hầu như không được thu gom mà vương vãi trên đồng
ruộng, kênh mương là nguồn ô nhiễm khá nghiêm trọng.
* Việc lạm dụng hoá chất trong sản xuất nông nghiệp đã làm cho đất, nước

trồng thủy sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ
thuật đã tác động tiêu cực tới môi trường nước và không khí. Lượng
nước thải của các cơ sở chăn nuôi tập trung, chế biến thủy sản đông
lạnh cũng rất lớn, từ vài chục ngàn đến hàng trăm ngàn mét khối
trong một năm.
Theo thống kê của Cục Chăn nuôi, lượng chất thải rắn do vật nuôi
thải ra (phân và các chất độn chuồng, thức ăn thừa, xác gia súc, gia
cầm chết, chất thải lò mổ ) tổng khối lượng chất thải chăn nuôi bình
quân khoảng hơn 73 triệu tấn/năm (trong đó chất thải của trâu chiếm 21,9%,
bò chiếm 32,5%, lợn chiếm 33,4%) trong năm 2008 là 80,49 triệu tấn,
trong đó chỉ riêng miền Bắc chiếm đã chiếm tới 51 triệu tấn. Tuy
nhiên, ước tính hiện nay, mới chỉ có khoảng 40-70% loại chất thải
này được xử lý. Số còn lại được thải thẳng ra ao, hồ, kênh, rạch.
Ví dụ: ở đồng bằng sông Hồng đã xuất hiện thêm nhiều làng nghề
chăn nuôi và giết mổ gia súc, mỗi ngày làng nghề mổ trung bình từ
80 đến 100 con trâu bò, từ 250 đến 300 con lợn, ngày cao điểm lên
đến hàng ngàn con. Mỗi gia đình làm nghề chăn nuôi, giết mổ gia
súc thải ra từ 3-4 m3 nước thải, 80-100 kg phân, và từ 15-20 kg
xương. Ở một số làng nghề làm bún, bánh phở, sản phẩm phụ được
người dân dùng để chăn nuôi lợn, gà, cá và làm phân bón ruộng.
Chất thải rắn như bã rượu, phân lợn, trâu bò, xỉ than; chất thải lỏng
như nước rửa nguyên liệu, chuồng trại khoảng 4.000 đến 5.000
m3/ngày đêm. Tất cả các chất thải đều chưa qua xử lý vẫn thải trực
tiếp ra ao hồ và ruộng lúa quanh làng.
3. Rác thải sinh hoạt.
Cuộc sống của nhân dân được cải thiện, nhu cầu xả rác cũng không ngừng
tăng, trong khi đó, ý thức vệ sinh công cộng của bộ phận dân chưa thực sự
tốt, cơ sở hạ tầng yếu kém, dịch vụ môi trường chưa phát triển nên khả năng
xử lý ô nhiễm môi trường hạn chế.
Nếu như ở các đô thị lớn, trung bình một người thải ra 1kg rác một

- Kết quả điều tra ở các làng nghề cơ khí, đúc, sản xuất nguyên vật liệu do
sử dụng than lớn tỷ lệ người mắc các bệnh phổi, phế quản cao hơn mức
trung bình từ 1-2 lần.
- Vùng nông thôn dùng nhiều thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất độc hại, kim
loại nặng tỷ lệ người mắc bệnh ung thư cao.
- Ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí đe doạ đến sức khoẻ người dân
nông thôn. Nhiều “làng ung thư” đã xuất hiện ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú
Thọ, Hải Phòng; gần đây xuất hiện dịch bệnh, các loại bệnh lạ trong đó có
phần liên quan đến môi trường
- Vùng có ô nhiễm lớn về nguồn nước, các bệnh ngoài da, mắt hột, bệnh da
liễu, phụ khoa tăng hơn mức trung bình từ 50-70%.
* Ví dụ, làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm Cát Quế, Dương Liễu
(Hà Tây) tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da, đau mắt hột chiếm tới 70% dân số.
Xã Liễu Xá (Hưng Yên) do ô nhiễm nguồn nước từ làm nghề thuộc da, dư
lượng Cr, phèn, vôi… nên tỷ lệ người mắc bệnh phổi, não, da, hô hấp, mắt…
cao hơn mức bình quân 1,5 – 2 lần.
Hay như tại các lưu vực sông bị ô nhiễm ở xã Hoàng Tây (tỉnh Hà Nam), tỷ
lệ mắc bệnh đường ruột ngày càng tăng, trong đó 21% trẻ em dưới 5 tuổi bị
mắc bệnh tiêu chảy; 86% trẻ em bị mắc bệnh giun đũa; 76% mắc bệnh giun
tóc Các xã Hòa Hậu, Bồ Đề, Vĩnh Trù, nghiên cứu cho thấy 94,4% giếng
khoan có hàm lượng asen (thạch tín).
V. Môi trường nông thôn cần giải pháp hữu hiệu:
Nâng cao mức sống, vệ sinh môi trường nông thôn là chỉ tiêu quan trọng để
đánh giá trình độ CNH, HĐH của đất nước. Dự báo đến năm 2020 mức sống
dân cư nông thôn tăng gấp 4 – 5 lần so với hiện nay, 100% số hộ có nhà ở
kiên cố và bán kiên cố, tỷ lệ nhà ở kiên cố là 70% và bán kiên cố 30%,
100% số hộ có nhà vệ sinh đúng tiêu chuẩn, 100% số hộ được dùng nước
sạch, loại bỏ hoàn toàn những tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước, đất, không
khí, bụi và tiếng ồn, môi trường nông thôn trong sạch. Để làm được điều đó
chúng ta cần có những biện pháp hữu hiệu:

bảo vệ thực vật trong sản xuất rau an toàn của Viện Môi trường nông
nghiệp đã góp phần quan trọng tạo nên những phương pháp xử lý môi
trường hiệu quả trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Mặt khác, Cục Bảo vệ Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã chi
hàng trăm tỷ đồng cho các hoạt động môi trường làng nghề như điều tra
đánh giá, nghiên cứu công nghệ xử lý chất thải, xây dựng các mô hình thu
gom và xử lý chất thải nhưng chưa đáp ứng kịp tốc độ gia tăng ô nhiễm. Vì
vậy, trong bảo vệ môi trường cũng cần việc quản lý ban đầu, hạn chế cao
nhất nguồn gây ô nhiễm và ngăn chặn ô nhiễm kịp thời, xử lý khi ô nhiễm
còn sơ khai cũng là yếu tố quan trọng trong bảo vệ môi trường. Cần đẩy
mạnh nghiên cứu các giải pháp khoa học nhằm xử lý bằng cách tận dụng, tái
sử dụng nguồn gây ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận
thức về bảo vệ môi trường cho mọi người cũng có vai trò quan trọng trong
công tác bảo vệ môi trường cho nông nghiệp, nông thôn phát triển hiệu quả,
bền vững.
Nội dung
I. Đặt vấn đề
1. Khái niệm ô nhiễm môi trường.
2. Những khái niệm liên quan.
II. Vài nét về tình hình môi trường nông thôn hiện nay.
III. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn.
1. Việc lạm dụng và sử dụng không hợp lý các loại hoá chất trong sản
xuất nông nghiệp như phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật một
cách tràn lan, không có sự kiểm soát của ngành chức năng.
2. Rác thải trong chăn nuôi.
3. Rác thải sinh hoạt
4. Ý thức của người dân nông thôn
5. Các nguyên nhân khác
IV. Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nông thôn tới sức khỏe
cộng đồng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status