ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
***** *****
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN XÃ HỘI GIA ĐÌNH
Dư luận xã hội về “kết hôn” đồng giới ở Việt nam
GV :Th.s Lê Thái Thị Băng Tâm
Sinh viên : Phạm Thị Thoa
Lớp : K54 XHH
MSSV : 09031230Hà Nội, 01/2013
1
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề:
Tại một số quốc gia trên thế giới như: Hà Lan là quốc gia đầu tiên cho phép kết hôn đồng
giới nam 2001. Sau đó 10 quốc gia khác ( Bỉ, Tây Ban Nha, Cannada, Nam Phi, Thụy Điển, Bồ
Đào Nha,, Iceland, Argentina và Đan Mạch) năm tiểu bang Hoa kỳ ( Massachusetts.
Connecticut, Vermont, New Hampshire) cùng với thủ đô Mexico cũng cho phép “kết hôn” đồng
giới có thể kết hợp dân sự với nhau như: giới tính thứ ba được công nhận và được pháp luật bảo
vệ quyền lợi của họ. Tại đó, người đồng tính được nhiều người nhìn nhậ như một bộ phận của
cộng đồng tương tự ác nhms nam, nhóm nữ khác. Tuy nhiên tại Việt nam, người đồng tính chưa
được như vậy. (nguồn: />Các tổ chức khác nhau đưa ra dự đoán hoặc ước tính số người đồng tính một cách khác
nhau. Theo một báo cáo được công bố tại hội nghị khoa học kỹ thuật do Bệnh viện Da liễu thành
phố Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 26 tháng 9 năm 2006, chưa có những số liệu chắc chắn, đáng
tin cậy về số lượng đồng tính nam ở Việt Nam. Tuy vậy, theo một nghiên cứu của bác sĩ Trần
Bồng Sơn, số đồng tính nam ước tính là khoảng 70.000 người. Nhưng theo một nghiên cứu khác
tính. Khiến họ ngày càng xa lánh với xã hội. Do vậy dư luận xã hội về “kết hôn” đồng giới ở
Việt nam là một vấn đề cấp bách của xã hội và cần được toàn xã hội quan tâm và chia sẻ. Do đó
tôi đã chọn vấn đề này trong bài tập của mình.
3
2. Các khái niệm sử dụng
Đồng tính luyến ái, hay đồng tính chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu hay
tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau
trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài. Đồng tính luyến ái cũng chỉ nhận thực của cá
nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này.
Gay (từ tiếng Anh) chỉ người đồng tính nam, lesbian hay đọc ngắn là les là chỉ người
đồng tính nữ. Đồng tính luyến ái được coi là một dạng trong thang liên tục của thiên hướng tình
dục.
Kì thị: là việc găn một cái nhãn hay tên tiêu cực nhằm tách biệt một cá nhân hay một
nhóm ra khỏi cộng đồng.
Định kiến giới là một tập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, một cộng đồng cụ thể
nào đó gán cho nam giới hay phụ nữ.
Phân biệt đối xử: là kì thị được chuyển thành hành động thể hiện qua sự dối xử không
công bằng với người (nhóm người) bị kì thị. Phân biệt đối xử xảy ra khi có sự phân biệt đối với
một người và kết quả là người đó bị đối xử không công bằng và không đúng mức họ đáng được
hưởng.
Dư luận xã hội có gốc chữ dịch theo tiếng Anh là Public Opinion, được ghép bởi hai từ
“Public”: Công khai, công chúng. Và “Opinion” : ý kiến, quan điểm. Hiện nay thuật ngữ này đã
được sử dụng rộng rãi trong công tác nghiên cứu khoa học, cũng như trong đời sống hàng ngày.
Theo các nhà nghiên cứu Liên Xô cũ, Dư luận xã hội là sự phán xét đánh giá chung của các
nhóm người đối với các vấn đề mà họ quan tâm.
Theo từ điển Xã hội học: Tập hợp các ý kiến của người dân về các chủ đề của mối quan
tâm công cộng, và sự phân tích những ý kiến này bằng các phương pháp thống kê trong điều tra
chọn mẫu được coi là Dư luận xã hội.
Theo các nhà xã hội học: Dư luận xã hội là một hiện tượng xã hội đặc biệt biểu thị phán
xét, đánh giá và thái độ của các nhóm xã hội đối với những vấn đề liên quan đến lợi ích của các
5
Trong tác phẩm “Người Ngoài cuộc” của Howard Becker, 1963 cho rằng “Các nhóm xã
hội tạo ra sự lệch lạc xã hội bằng cách đặt ra những quy tắc nếu vi phạm chúng thì sẽ lệch lạc và
bằng cách áp cho những quy tắc này cho những người nào đó và gán nhãn cho họ là người ngoài
cuộc”. Theo quan niệm này, lệch lạc không phải là cái chất của dạng hoạt động của một người
nào đó làm ra mà là hậu quả của việc người khác áp dụng quy tắc thưởng phạt cho người “vi
phạm”
Và, sự dán nhãn trong thời gian dài sẽ trở thành “cái khóa” các cá nhân vào vai trò sai
lệch. Có nghĩa là, kết quả lâu dài của quá trình dán nhãn đã khóa các cá nhân vào những vai trò
sai lệch và hướng họ dọc theo những tiến trình hoặc sự nghiệp lệch lạc, bằng cách đóng lại
những cơ hội và buộc họ phải dựa vào các nhóm xã hội dành cho sự hỗ trợ nhưng kéo dài mãi
hoạt động lệch lạc của họ; và bằng cách đó, củng cố và xác định một cương vị “người ngoài
cuộc”
Người đồng tính, bản thân họ không xấu, nhưng chính xã hội, cộng đồng “dán” cho họ
một cái nhãn “xấu”, mà cái nhãn ấy luôn gắn với những hành vi tình dục của họ, bởi mọi người
cho rằng, những người đồng tính là biến thái, lập dị; là nguy cơ lây HIV/AIDS cho cộng
đồng Từ đó, họ xử sự như một người không bình thường; họ luôn lo sợ mọi người “lên án” và
rồi, họ phải sống lùi vào “bóng tối”, sống khép mình trong “cái bọc” của một người bình thường.
Nhưng, đâu ai nghĩ rằng, họ cũng là một thực thể xã hội, có học vấn, trình độ và có khả năng
cống hiến nhiều cho xã hội.
Ở lý thuyết này, chúng ta thấy rằng khả năng của nhóm xã hội (Cộng đồng, gia đình ) là
nhóm có quyền lực đã “dán nhãn” “lệch lạc” cho những người ở các nhóm yếu thế hơn - người
đồng tính - vì họ không có khả năng chống đối lại những phản kháng của nhóm xã hội có quyền
lực. Ngoài ra, không chỉ xã hội, cộng đồng “dán nhãn” mà chính bản thân họ cũng “tự” dán nhãn
cho mình. Do đó, trong cuộc sống, người đồng tính không chỉ bị sự kỳ thị của cộng đồng mà còn
có sự kỳ thị chính bản thân họ.
Sự phân biệt đối xử và kỳ thị của cộng đồng đối với đồng tính không chỉ là do nhận thức
của cộng đồng, xã hội mà nguyên nhân sâu xa là mọi người “gán” cho họ một “cái nhãn xấu” và
“cái nhãn” ấy gắn với họ cả cuộc đời.
6
=0.67, cho thấy số người ủng hộ khi bạn bè có HNĐG ít hơn số người không ủng hộ nhưng sự
chênh lệch là không nhiều, có 33.7% người từ ủng hộ cho đến rất ủng hộ nếu bạn bè của họ có
xu hướng HNĐG, và có 6.3% người
(Nguồn:Nhận diện quan niệm của giới trẻ tại TP.HCM về hôn nhân đồng giới năm
2011-Nguyễn Hồ Phương Trâm )
Trên các phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay bàn rất nhiều về vấn đề này nhất là
sau đám cưới của hai sinh viên nữ ở Hà Nội (youtube.com) đã làm xôn xao dư luận và chiếm
được đa số lời bình ủng hộ cho sự can đảm của hai bạn trẻ.
Con số thống kê do P.Krémer công bố trên tờ Le Monde (Pháp) từ gần mười năm trước
cho biết ở Pháp có khoảng 50% số người đồng tính đang sống cặp đôi với nhau, 10% đang có
con cái và 40-50% số người đồng tính muốn được làm cha mẹ. Như vậy hiện tượng cặp đôi đồng
tính đã tạo ra một mô hình gia đình mới mà cha mẹ là người đồng giới (homoparental) và con cái
không phải là người có quan hệ máu mủ với cha mẹ (do các cặp vợ chồng đồng tính không thể
sinh con từ hành vi tình dục đồng tính của mình). Và đây là một vấn đề xã hội cần xem xét.
(nguồn: />76378.aspx)
Cũng giống như một số nghiên cứu khác, tác giả Lương Đức Hoà với “Nghiên cứu về sự
nhận dạng, các mối quan hệ và hành vi tình dục và nguy cơ lây nhiễm HIV giưa những người
đồng tình ở Khánh Hoà, Việt Nam” được thực hiện vào năm 2004 với sự hỗ trợ tài chính của quỹ
Rockefeller và Ford. Nghiên cứu đã tìm hiểu sự nhận dạng tình dục, các mối quan hệ, hành vi,
khả năng bị tổn thương, sự kì thị và phân biệt đối xử của xã hội của nhóm đông giới tại thành
phố Nha Trang, Khánh Hoà. Lương Đức Hoà đã thành công trong việc khắc hoạ các trường hợp
người đồng tính, MSM điển hình, những người đã phải chịu đựng dư luận gay gắt của xã hội, sự
xa lánh, phân biệt đối xử và những đấu tranh của chính họ để vượt qua khó khăn. Đồng thời tác
giả cũng chỉ ra khoảng trống về mặt chính sách trong chiến lược phòng chống HIV/AIDS của
chính phủ Việt Nam đối với người đồng tính.
(nguồn: “Nghiên cứu về sự nhận dạng, các mối quan hệ và hành vi tình dục, nguy cơ lây
nhiễm HIV giữa những người MSM ở Khánh Hòa, Việt Nam”, Lương Đức Hòa. Dẫn nguồn:
khoá luận tốt nghiệp : “Dư luận xã hội về hiện tượng đồng tính và đám cưới đồng tính”-Trần
Thu Quỳnh)
8
9
được diễn tả qua những thao thức, những tình cảm, những yêu đương và cả những chia sẻ về đời
sống sinh lý giữa những người cùng giới tính
( Dẫn Nguồn: khoá luận tốt nghiệp : “Dư luận xã hội về hiện tượng đồng tính và đám
cưới đồng tính”- Trần Thu Quỳnh)
Tại Việt Nam chúng ta hiện nay không có luật cấm quan hệ tình dục đồng tính nhưng
luật hôn nhân gia đình Việt Nam cấm hôn nhân giữa hai người cùng giới tính. Ở châu Á, thái độ
kỳ thị của xã hội Việt Nam không phải là ngoại lệ. Thậm chí tới năm 1996, bộ trưởng Bộ Giáo
dục Thái Lan còn đề nghị lập một trung tâm giáo dục dành riêng cho người đồng tính luyến ái,
những người mà ông ta cho rằng “bị bệnh cả về tâm lý lẫn thể xác”. Ðiểm khác nhau là, tại Việt
Nam, với cấu trúc chính trị hiện nay và với sự non nớt của xã hội công dân (civil society), những
người đồng tính luyến ái không tự tổ chức được mình. Trong khi đó, cộng đồng đồng tính luyến
ái tại những nước khác như Malaysia hay Phillipines đã từ lâu có những tổ chức bảo vệ quyền lợi
của họ, không chỉ hài lòng với sự không cấm đoán của xã hội mà đòi hỏi được chấp nhận như
những công dân bình đẳng.
(Nguồn: />nhien.35A99C01.html)
Nghiên cứu : Thái độ xã hội với người đồng tính” thực hiện năm 2010-2011 (phỏng vấn
định lượng 854 người và phỏng vấn sâu 31 người ở 4 địa bàn là Hà nội, Hà nam, TP HCM và An
Giang), cho thấy hiểu biết của xã hội về đồng tính còn rất hạn chế. Gần 90% người đã hiểu sai, ít
hoặc nhiều về người đồng tính và kỳ thị họ. Trên 75% người được hỏi ủng hộ quyền của người
đồng tính, đặc biệt là quyền chung sống và quyền nhận con nuôi. Tuy nhiên, chỉ có 36% ý kiến
ủng họ cho phép người đồng tính kết hôn.
"Một nhà phân tâm học từng nói 'Con người có một trí tuệ nhưng đừng quên con người
có những bản năng' và bản năng của con người là hoạt động tính giao khác dấu có từ ngàn đời
nay. Hôn nhân đồng tính là trái quan niệm xã hội ngàn năm nhưng nó vốn không trái với tự
nhiên",
(nguồn: />dong-gioi-2401877.html).
10
Như vậy chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về “kết hôn” đồng giới, tuy nhiên có một số
nghiên cứu đã quan tâm nhiều về vấn đề đồng tính, cũng như có một số khảo sát nghiên cứu về
báo chí và phim ảnh. Trong đó, những nhân vật thuộc thế giới thứ ba thường được khắc họa với
hình ảnh xấu, đại diện của cái ác hay những tính nết khó chịu, gây phản cảm.
Báo chí
- Về phía người viết báo:
Định kiến đối với người “kết hôn” đồng tính trên báo chí được cho là giảm theo thời gian
mặc dù tỉ lệ kỳ thị còn cao. Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường cùng với Học viện
Báo chí và Tuyên truyền, qua nghiên cứu hơn 500 bài báo thuộc bốn báo in và sáu báo mạng,
cung cấp kết quả tỉ lệ kỳ thị chiếm 41%, không kỳ thị chiếm 18%, không xác định 41%. Tuy
nhiên, cộng đồng đồng tính Việt Nam rất đa dạng, không như mô tả của hơn 500 bài báo này.
Có
người cho rằng các cơ quan truyền thông cần đăng tải những bài viết, hình ảnh "người thực việc
thực".
Một số vấn đề vi phạm pháp luật liên quan tới người đồng tính, “kết hôn” đồng tính hay
được đăng trên các báo trong khi đó những mặt tích cực chưa được biết tới vì nhiều lý do.
Rất ít bài báo đề cập đến nguy cơ hành vi tình dục của người đồng tính và nếu có đề cập,
thông tin cũng mơ hồ và không đầy đủ. Nhiều bài viết thiên về quan niệm hành vi tình dục của
người đồng tính là đáng lên án, lệch chuẩn, là ăn chơi đua đòi, sống trụy lạc. Quyền được kết hôn
của người đồng tính được đề cập nhiều nhất. Tuy nhiên, quyền yêu và được yêu, quyền có con,
quyền nhận con nuôi, quyền tiếp cận với các dịch vụ tư vấn thể hiện không nhiều trong các bài
báo.
- Về phía người đọc
Phần lớn người đọc thấy tò mò, hứng thú về “thế giới bí ẩn” kia nên tìm hiểu nhưng bị
các bài báo đánh lạc hướng và có suy nghĩ lệch lạc về người đồng tính. Các tính từ thường được
sử dụng như là “kinh sợ”, “ghê tởm”, cùng với rất nhiều từ ngữ chửi rủa thậm tệ cộng đồng thế
giới thứ ba nói chung chỉ vì một vài “con sâu làm rầu nồi canh”
12
Một chủ đề đang được dư luận bàn tán xôn xao gần đây là những đám cưới đồng tính.
Hình ảnh cô dâu, chú rể đều là nữ hoặc nam cùng cắt bánh, uống rượu hợp cẩn làm không ít
người lo lắng xu hướng kết hôn đồng giới gia tăng. Nhiều ý kiến cho rằng, các đám cưới này
chúng ta lại coi người này có quyền kết hôn còn người kia thì không?. Mọi người cần được bình
đẳng trước pháp luật. Pháp luật là để bảo vệ công dân chứ không phải để hạn chế họ. Nếu
không cho phép người đồng tính đến với nhau thì sẽ có nhiều trường hợp nam nữ bị ép kết hôn
không theo ý muốn, không dựa trên tinh thần tự nguyện. Điều này lại vi phạm chính Luật hôn
nhân và Gia đình. Theo quan điểm của tôi, chúng ta nên xem xét việc sửa đổi luật để đáp ứng
nhu cầu chính đáng của công dân là người đồng tính”(.nguồn />ngay/dam-cuoi-dong-tinh-ho-rat-dung-cam-c46a458357.html)
Theo PGS, tiến sĩ Xã hội học Trịnh Hòa Bình bày tỏ quan điểm: "Hiện ở nước ta, người đồng
tính vẫn chưa được xã hội thừa nhận. Ngay các chuyên gia y tế vẫn còn chưa thống nhất với
nhau về bản chất của hiện tượng này, có ý kiến cho rằng đó là ảnh hưởng của việc đua đòi, a
dua. Cũng vì thế đa số người đồng tính không dám công khai thân phận của mình, chưa nói gì
đến việc làm đám cưới với người cùng giới. Đám cưới này chỉ là cách vuốt ve cái tự ái, cái
"quyền tự nhận'' của những người thuộc "giới tính thứ ba". Nói cách khác, họ tự dọn về sống với
nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống, ở chung một mái nhà, họ tự phân công với nhau "kẻ làm
chồng" "người làm vợ"; đấy là hành vi "ngoài vùng phủ sóng" của pháp luật, rất khó xử lý. "Bài
giải" cho các trường hợp này, theo tôi cách hiệu quả nhất là phân tích cho họ thấy họ đã ngộ
nhận, đã đua đòi rồi từ đó, dần dần kéo họ quay về".( nguồn: />trong-ngay/dam-cuoi-dong-tinh-ho-rat-dung-cam-c46a458357.html)
Một video quay về “Đám cưới đôi đồng tính nữ ở Hà Nội gây xôn xao!”
( với 2.340.471 lượt xem từ
khi phát 16/12/2010 tới 08/06/2012 và nhận được 1941 lượt thích, 625 lượt không thích, thu hút
được 4427 lời bình luận. Ta có thể thấy số người yêu thích gấp 3 lần số người phản đối. Rất
14
nhiều bình luận được ghi nhận và chia thành 2 luồng thái độ rõ rệt: tán thành và chúc mừng đôi
trẻ. Bên cạnh đó, không ít lời dè bỉu, khinh thường, không tán thành.
Trong bài phỏng vấn sâu của tôi, G. là một người hoàn toàn không chút thành kiến với
giới tính thứ ba và sẵn lòng thân thiện với người đồng tính nhưng bạn cũng cho rằng: “Thực ra
mình thấy những cặp kết hôn đó quá dũng cảm và muốn gây sốc. Mình chỉ nghĩ đơn giản là: ai
cũng có thể momg muôn hạnh phúc nhưng có thể làm điều đó mà không cần phô trương như 1
đám cưới nào đấy. Người hiếu kỳ thì nhiều và thực ra cha mẹ tuy đồng ý nhưng vẫn buồn. Pháp
luật vẫn ngăn cấm đó chứ Nếu pháp luật chấp nhận thì mình cũng chấp nhận, chỉ là bây giờ
thì mình thấy không nên, nó hơi ích kỷ và chưa thực phù hợp thôi.”
như thế.
(Nguồn: />3. Nguyên nhân của sự kỳ thị
Trong rất nhiều nguyên nhân thì ta có thể tập trung ở một vài nguyên nhân chính:
Sự thiếu hiểu biết, thiếu thông tin của cộng đồng.
Trong khi số lượng báo chí hay phương tiện thông tin đại chúng đề cập đến người đồng
tính hạn chế lại mang cái nhìn phiến diện và sai lệch khiến nhiều nhiều người dân có quan niệm
sai và “thiếu thiện cảm” với họ. Và thậm chí người viết báo cũng không thể phân biệt được
“đồng tính luyến ái” với khái niệm “tình dục đồng giới” và “đồng tính”. “kết hôn” đồng tính.
Những thông tin mà người thường ghi nhận về người đồng tính thường gắn với “bệnh hoạn”,
“HIV/AIDS”, “ghen tuông”, “đồng bóng”, và hàng loạt tính cách xấu khiên mọi người ghê sợ
và có khuynh hướng tránh xa. Nguyên nhân của đồng tính thường bị cho là “lây lan” nên nhiều
người “sợ lây bệnh” không muốn tiếp xúc với người đồng tính.
Định kiến giới
16
Việt Nam là một nước còn chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo. Vai trò người đàn ông
được đề cao, chính vì vậy định kiến về người đàn ông mạnh mẽ, trụ cột gia đình khiến mọi người
không thể chấp nhận hình ảnh một chàng trai “ẻo lả”, “như con gái”, Bên cạnh đó, tầm quan
trọng của đứa con nối dõi tông đường khiến việc “kết hôn” đồng tính càng bị phản đối (2 người
đồng tính đến với nhau sẽ không thể có con). Xã hội cho rằng nam và nữ là thuận theo tự nhiên,
sự cân bằng âm dương, và là sự kết hợp hiển nhiên, vậy những người đồng tính có phải “đứa con
lạc loài”?
4. Hậu quả của sự kỳ thị
Sự kỳ thị của cộng đồng không chỉ làm cho cuộc sống của chính những người đồng tính
họ muốn “kết hôn” đồng giới rất khó khăn mà còn có thể làm ảnh hưởng đến những người không
phải là đồng tính và xã hội nói chung. Một chuyên gia tư vấn tâm lý nói rằng đa số những học
sinh đồng tính thường có tâm trạng hoang mang, cô độc. Điều này có thể dẫn đến nguy hiểm. Họ
có thể sa sút tinh thần, có thái độ bướng bỉnh, nhiều học sinh thường xuyên có ý định tự sát. Bên
cạnh đó, vì lý do sợ xã hội kỳ thị, nhiều người đồng tính nam đã lập gia đình với phụ nữ và sinh
con tuy nhiên họ không cảm thấy hạnh phúc và gây ra đau khổ cho người vợ của mình. Ngoài ra,
vì không được xã hội công nhận, người đồng tính thường giấu mình. Mà như vậy càng làm tăng
bức tranh khái quát về “Dư luận xã hội về “kết hôn” đồng giới” sẽ mang màu sắc như thế nào?
Từ bài nghiên cứu của mình, tôi đã có những nhận xét tổng quát nhất về vấn đề này: trong xã hội
Việt Nam hiện nay, người dân có thể tiếp xúc nhiều hơn với những vấn đề thuộc giới tính thứ ba
và họ có cái nhìn thoáng hơn với việc “kết hôn”đồng tính. Tuy nhiên sự kỳ thị vẫn còn tồn tại.
Song song với dư luận ủng hộ luôn còn những ý kiến trái chiều và kỳ thị với người “kết hôn”
đồng giới. Một tỷ lệ lớn những người ủng hộ và cảm thông với giới tính thứ ba thuộc lớp trẻ, đặc
biệt học sinh, sinh viên, người có trình độ học vấn cao và tiếp xúc nhiều với các nguồn thông tin
khác nhau. Trong khi đó người cao tuổi, trung niên có cái nhìn “khắt khe” hơn về vấn đề này. Họ
cho rằng: đồng tính là bệnh và có thể lây lan, đây là lối sống lệch lạc, sai lầm của một bộ phận xã
hội.
Giải thích về sự kỳ thị của xã hội ta có thể áp dụng lý thuyết “Gán nhãn” của Howard
Becker. Ở lý thuyết này, chúng ta thấy rằng khả năng của nhóm xã hội (Cộng đồng, gia đình )
là nhóm có quyền lực đã “dán nhãn” “lệch lạc” cho những người ở các nhóm yếu thế hơn - người
đồng tính - vì họ không có khả năng chống đối lại những phản kháng của nhóm xã hội có quyền
lực. Ngoài ra, không chỉ xã hội, cộng đồng “dán nhãn” mà chính bản thân họ cũng “tự” dán nhãn
18
cho mình. Do đó, trong cuộc sống, người đồng tính không chỉ bị sự kỳ thị của cộng đồng mà còn
có sự kỳ thị chính bản thân họ.
Sự phân biệt đối xử và kỳ thị của cộng đồng đối với đồng tính không chỉ là do nhận thức
của cộng đồng, xã hội mà nguyên nhân sâu xa là mọi người “gán” cho họ một “cái nhãn xấu” và
“cái nhãn” ấy gắn với họ cả cuộc đời.
Sự kỳ thị của xã hội có thể dẫn tới nhiều hệ quả xấu. Nó không chỉ làm cho cuộc sống
của chính những người đồng tính rất khó khăn mà còn có thể làm ảnh hưởng đến những người
không phải là đồng tính và xã hội nói chung. Vậy ta có thể có giải pháp gì để giảm sự kì thị của
xã hội với người đồng tính? Bắt nguồn từ nguyên nhân sự kỳ thị, chúng ta cần tăng cường hiểu
biết của người dân về giới tính thứ ba một cách phổ biến và rộng rãi hơn nữa. Trên các phương
tiện truyền thông, hình ảnh người đồng tính không nên phiến diện và tiêu cực như hiện nay. Nếu
luật pháp công nhận và có những quyền lợi cho người đồng tính thì việc “kết hôn” đồng tính
không còn là khác biệt và như một phần xã hội. Cùng với sự hiểu biết, cộng đồng sẽ dần mở lòng
với việc “kết hôn” đồng hơn hơn và tin rằng trong tương lai không xa, tất cả mọi người sẽ bình