Hoàn thiện chính sách, chế độ đối với cán bộ cấp huyện, Huyện Bình Liêu – Quảng Ninh - Pdf 17

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Ngay từ khi giành được độc lập, thống nhất đất nước, Đảng và nhà nước
đã quan tâm đến các chính sách, chế độ đối với cán bộ để tạo một môi trường
thuận lợi cho cán bộ yên tâm công tác. Thực hiện chính sách, chế độ đối với cán
bộ luôn là những công cụ của nhà nước, được nhà nước ban hành để thực hiện
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Nhà nước đề ra trên quan điểm
đường lối, định hướng cụ thể và luôn hướng vào việc xử lý những vấn đề cấp
bách đặt ra từ thực tiễn của đời sống xã hội, từng giai đoạn nhất định.
Bình Liêu là một huyện biên giới, miền núi, rẻo cao, núi cao hiểm trở, nơi
cư trú của nhiều đồng bào dân tộc ít người, là một trong những của ngõ phía
Đông Bắc nước ta, có vị trí chiến lược về quân sự và quốc phòng. Do địa hình
phức tạp nên giao thông đi lại khó khăn, kinh tế hàng hoá chậm phát triển, trình
độ dân trí thấp.
Vai trò của cán bộ huyện và sự cần thiết phải hoàn thiện các chính sách,
chế độ đối với cán bộ là các vấn đề từ thực tiễn của đời sống xã hội trong từng
giai đoạn. Với kiến thức đã học ở nhà trường bản thân em nhận thấy rằng tầm
quan trọng của hoàn thiện chính sách, chế độ đối với cán bộ cấp huyện là một
vấn đề nóng bỏng hiện nay nên em chọn đề tài: “ Hoàn thiện chính sách, chế
độ đối với cán bộ cấp huyện, Huyện Bình Liêu - Tỉnh Quảng Ninh” làm
chuyên đề tốt nghiệp.
Chuyên đề được kết cấu gồm 3 chương :
Chương I: Cơ sở lý luận về các chính sách, chế độ đối với cán bộ
Chương II: Phân tích và đánh giá tình hình thực hiện các chính sách,
chế độ đối với cán bộ huyện, Huyện Bình Liêu - Tỉnh Quảng Ninh
Chương III: Một số giải pháp - kiến nghị nhằm hoàn thiện chính
sách, chế độ đối với cán bộ huyện, Huyện Bình Liêu - Tỉnh Quảng Ninh
Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Ngọc Quân đã tận tình chỉ bảo,
giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành chuyên đề này. Do thời gian cũng như
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khả năng còn hạn chế nên chuyên đề này không thể tránh khỏi những sai sót. Em

2. Phân biệt chính sách và chế độ.
Trong mỗi chế độ xã hội khác nhau, Nhà nước có các chính sách, chế độ
với cán bộ cũng khác nhau, được thể chế hoá trong hệ thống luật pháp, các quyết
định, các quy chuẩn hành vi và các quy định khác.
Bản chất, nội dung, phương hướng của chính sách, chế độ tuỳ thuộc vào
tính chất, đường lỗi, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... Muốn định ra
chính sách, chế độ đúng đắn phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh
vực, từng giai đoạn, phải giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong
đường lối, nhiệm vụ chung và linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ
thể.
Chính sách và chế độ được thực hiện trong thời gian nhất định, cùng với
sự phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước có những chính sách chế độ khác nhau.
Chính sách là khái niệm mang tính khái quát chung thể hiện giá trị vật
chất và tinh thần mà tất cả các cán bộ, công chức nhà nước được hưởng theo quy
định cụ thể của Nhà nước, thể hiện mục tiêu, định hướng và đề ra các biện pháp
để thực hiện nhằm đạt được mục tiêu.
Chế độ là những quy định cụ thể để thực hiện các chính sách. Ví dụ, chính
sách đãi ngộ với cán bộ, Nhà nước quy định các chế độ cụ thể như: phụ cấp
chức vụ lãnh đạo, phụ cấp vùng, phụ cấp trách nhiệm...
Chính sách và chế độ là hai khái niệm gắn liền nhau, sự phân biệt giữa
chúng chỉ mang tính chất tương đối để thể hiện sự khuyến khích, sự quan tâm
của Nhà nước đối với cán bộ, công chức, tạo động lực cho họ hoàn thành nhiệm
vụ được giao.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
II. NỘI DUNG CỦA CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI CÁN BỘ
1. Lương và các khoản phụ cấp theo lương đối với cán bộ.
1.1. Chính sách lương:
“ Tiền lương là lượng tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng
lao động sau khi hoàn thành một công việc nhất định hoặc sau một thời gian lao
động nhất định” ( Sách kinh tế lao động).

về chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ và có tiêu chuẩn riêng cho từng ngạch.
* “ Bậc ” là chỉ số tiền lương trong ngạch.
* “ Nâng ngạch” là nâng từ ngạch thấp lên mức ngạch cao hơn.
* “ Chuyển ngạch” là chuyển ngạch công chức theo ngành chuyên môn
này sang ngạch công chức theo ngành chuyên môn khác có trình độ tương
đương.
Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức thì điều kiện để nâng ngạch lương
gồm:
- Cơ quan, đơn vị có nhu cầu đối với công việc đòi hỏi công chức ở ngạch
công chức cao hơn.
- Có ngạch để nâng (chuyên viên lên chuyên viên chính)
- Có đầy đủ văn bằng, chứng chỉ đào tạo bồi dưỡng theo quy định của
ngạch cần nâng.
- Được Hội đồng xét sở tuyển của huyên xét, đề nghị.
- Có chứng chỉ học tập bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước.
- Có chứng chỉ ngoại ngũ.
- Có chứng chỉ tin học
Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức thì điều kiện để chuyển ngạch gồm:
Cán bộ dân cử, bầu cử chuyển ngạch sang các cơ quan hành chính (đã có
mức lương cũ cao) phải qua kiểm tra sát hạch đạt tiêu chuẩn ở ngạch nào thì
được bổ nhiệm sang ngạch đó.
Công chức chuyển từ ngạch chuyên môn này sang ngạch chuyên môn
khác hoặc những viên chức làm việc ở Doanh nghiệp Nhà nước ( DNNN) được
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tuyển dụng và xếp lương vào ngạch công chức trước khi ban hành Nghị định
26/CP ngày 25/3/2003 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ tiền lương trong
các DNNN mà được tiếp nhận vào các cơ quan thuộc khu vực hành chính sự
nghiệp thì phải đáp ứng đúng tiêu chuẩn, chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch
chuyển đến và trong chỉ tiêu biên chế được phân bổ của cơ quan hành chính sự
nghiệp.

đảm bảo một phần thu nhập cho người lao động trong khi làm việc ( như trợ cấp
ốm đau, thai sản, trợ cấp bệnh nghề nghiệp, tại nạn lao động...), khi về nghỉ hưu
theo chế độ (lương hưu) cả khi người lao động bị chết (trợ cấp tử tuất). Đối
tượng hưởng các chế độ của BHXH chủ yếu được nhận các khoản trợ cấp bằng
tiền. Điều kiện để hưởng các chế độ trợ cấp và mức độ của từng loại được thể
hiện ở bảng 1.
Bảng 1: Điều kiện và mức độ trợ cấp của BHXH
I CHẾ ĐỘ ỐM ĐAU
1. Điều kiện
- Người lao động đang làm việc, chờ việc hoặc ngừng việc có
hưởng lương có đóng bảo hiểm.
- Người ốm hoặc chăm sách con ốm có xác nhận của tổ chức
y tế do Bộ y tế quy định.
2. Thời gian - Lao động trong điều kiện
bình thường: tối đa 50 ngày/
năm.
-Con ốm dưới
3 tuổi: Tối đa
20 ngày/năm.
- Từ 7 đến tối
đa 20 ngày
tuỳ vào mức
Trợ cấp ốm
đau
Trợ cấp thai
sản
Trợ cấp bệnh
nghề nghiệp
Trợ cấp tử
tuất

hoặc 6 tháng trong điều kiện
công việc đặc biệt nặng nhọc.
- Nghỉ sau
khi sinh con
nếu con bị
chết theo
lịch cụ thể.
- Nghỉ đến
khi con đủ 4
tháng tuổi nếu
nhận con nuôi
3. Căn cứ tính trợ
cấp
- Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của tháng trước khi
nghỉ sinh con hoặc nuôi con nuôi.
4. Mức trợ cấp - 100% mức lương làm căn cứ tính trợ cấp
III CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP TAI NẠN, BỆNH NGHỀ NGHIỆP
1. Điều kiện
- Người lao động bị tại nạn trong giờ làm việc trong và ngoài
nơi làm việc kể cả làm việc ngoài giờ do yêu cầu của người
sử dụng lao động hoặc trên đường đi và về từ nơi ở đến nơi
làm việc.
- Người lao động bị suy giảm khả năng lao động.
- Người mắc bệnh nghề nghiệp được nghi trong danh mục
hưởng trợ cấp.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.Căn cứ tính trợ
cấp
Mức lương tối thiểu.
3. Mức trợ cấp

khả năng.
- 15 năm làm công việc độc hại, 15 năm
làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực từ 0,7
trở lên hoặc có 10 năm công tác ở chiến
trường B, K, C + đóng đủ 20 năm BHXH
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đóng BHXH + suy giảm 61% khả năng lao động.
2. Căn cứ tính
lương hưu
- Số năm đóng BHXH và mức bình quân tiền lương tháng
làm căn cứ đóng BHXH bằng bình quân gia quyền mức tiền
lương tháng làm căn cứ đóng BHXH trong 5 năm cuối trước
khi nghỉ hưu
3. Mức trợ cấp
- Thấp nhất bằng lương tối thiểu và cao nhất bằng 75% mức
bình quân tháng của lương làm căn cứ đóng BHXH.
- Đối với trường hợp 1a./: đủ 15 năm đóng BHXH được
hưởng lương hưu bằng 45% mức lương bình quân tháng của
lương làm căn cứ đóng BHXH. Cứ mỗi năm đóng BHXH
tiếp theo được tính thêm 2%.
- Đối với trường hợp 1.b/: Như a, trường hợp về hưu trước
tuổi sẽ giảm 2% mức bình quân lương hưu làm căn cứ đóng
BHXH.
4. Lợi ích khác
- Đóng BHXH trên 30 năm: nhận thêm trợ cấp 1 lần bằng 1/2
lương, tối đa <= 5 tháng.
- Quỹ BHXH trả BHYT khi đã về hưu.
- Quỹ BHXH trả tiền tuất khi người về hưu bị chết.
V CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT
1. Điều kiện

lao động bị tai nạn nhưng suy giảm sức khoẻ hoặc bị chết. Đối với trường hợp
bị tai nạn không làm suy giảm sức khoẻ sẽ không có trợ cấp BHXH, lúc đó
người lao động chỉ được trả chi phí khám, chữa bệnh, điều trị ổn định vết
thương và hưởng lương trong thời gian điều trị do người sử dụng lao động chi
trả.
3.Chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
“ Đào tạo là quá trình truyền thụ kiến thức mới để người cán bộ thông qua
quá trình đó trở thành người công chức có văn bằng mới hoặc cao hơn trình độ
trước đó” ( Sách :119 câu hỏi về cán bộ, công chức - tr 35 ). đào tạo các cán sự,
các cử nhân, các chuyên viên, hoặc chuyên viên chính ( trong hệ thống ngạch
bậc hiện nay) là việc tuyển dụng những công chức hoặc những công dân khi họ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trúng tuyển trở thành công chức, sau đó đưa họ vào cơ sở đào tạo để họ học và
nhận những văn bằng tương đương.
“ Bồi dưỡng ( hay gọi là tu nghiệp ) là quá trình hoạt động làm tăng thêm
những kiến thức mới đòi hỏi những người mà họ đang giữ chức vụ, đang thực
thi công vụ của một ngạch bậc nhất định” ( Sách: 119 câu hổi về cán bộ, công
chức - tr 35 ). Kết quả của khoá bồi dưỡng là người học nhận thức được những
chứng chỉ ghi nhận kết quả.
Tính đặc thù của hoạt động đào tạo cán bộ, thể hiện trước hết là mục đích
và đối tượng đào tạo. Mục đích và đối tượng của hoạt động đào tạo cán bộ được
quy định trong điều 1 - Quyết định số 874/TTg của Thủ trướng Chính phủ ban
hành ngày 20/11/1996 về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà
nước. Quyết định số: 40/2006/QĐ - TTg ngày 15/2/2006 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2006 -
2001
* Đào tạo, bồi dưỡng nhằm khắc phục những khiếm khuyết, hẫng hụt hiện
nay của cán bộ, công chức,
* Tạo nguồn nhân lực thường xuyên cho các cơ quan Nhà nước.
* Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là yêu cầu khách quan:

đà bản sắc dân tộc. Muốn vậy, không có biện pháp hữu hiệu nào hơn là phải
thường xuyên tiến hành đào tạo, học hỏi, bồi dưỡng nâng cao chất lượng của đội
ngũ cán bộ, công chức.
4. Khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ.
Là những công vụ và biện pháp quản lý trong quá trình xây dựng, phát
triển và sử dụng công chức. Thông qua đó để động viên, cổ vũ những điển hình,
những gương tốt, phê phán, uốn nắn và phòng ngừa những hành vi pháp luật,
không thực hiện và làm tròn trách nhiệm của người công chức.
4.1. Mục đích:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Là hình thức dùng để đánh giá công lao, ghi nhận những đóng góp, cống
hiến hoặc xử phạt những vi phạm lỗi lầm của người công chức.
Khen thưởng là việc ghi nhận và ban cho công chức thành tích những giá
trị tinh thần và vật chất để động viên, khích lệ sự công hiến của họ cũng như
trong hoạt động của đội ngũ công chức nói chung.
Kỷ luật là việc xử lý, trừng phạt với mức độ khác nhau, tuỳ theo nội
dung , tính chất vi phạm pháp luật của công chức.
ý nghĩa: Có vị trí ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý, xây dựng
đội ngũ công chức, tác động tích cực đến sự thúc đẩy kinh tế xã hội.
Mục đích: Có tác động to lớn trong việc nâng cao trình độ, năng lực và
phẩm chất của đội ngũ công chức.
4.2. Nguyên tắc cơ bản của khen thưởng, kỷ luật.
Việc khen thưởng, kỷ luật đúng hay sai liên quan trực tiếp đến quyền,
danh dự, nhân phẩm con người nên rất phức tạp, do đó phải có nguyên tắc, mực
thước rõ ràng.
- Nguyên tắc công minh, công bằng có ý nghĩa giáo dục, cổ vũ thực hiện
phương châm “ trị bệnh cứu người”, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh phê
bình việc chứ không phê bình người.
- Kết hợp khen thưởng, kỷ luật về mặt chính trị, tinh thần với việc khen
thưởng hoặc kỷ luật bồi hoàn bằng vật chất.

cán bộ tiếp tục giữ chức vụ đang đảm nhiệm khi hết thời hạn bổ nhiệm.
Luân chuyển là việc người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm
cán bộ lãnh đạo giữ chức vụ lãnh đạo mới trong quy trình thực hiện công tác quy
hoạch lãnh đạo và bồi dưỡng cán bô.
Miễn nhiệm là việc người đứng đầu cơ quan có thẩm quyết định thôi giữ
chức vụ lãnh đạo đối với cán bộ lãnh đạo chưa hết thời hạn bổ nhiệm.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Từ chức là việc cán bộ lãnh đạo tự nguyện xin thôi chức vụ lãnh đạo khi
chưa hết thời hạn bổ nhiệm và được cơ quan có thẩm quyền đồng ý.
Nguyên tắc:
- Cấp uỷ đảng từ cơ sở lên trực tiếp lãnh đạo theo phân cấp quản lý của
TW và đúng quy trình, thủ tục
- Tập trung dân chủ, phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan.
- Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, điều kiện và tiêu chuẩn của
cán bộ.
Bảo đảm sự ổn định, thừa kế và phát triển đội ngũ cán bộ, nâng cao chất
lượng hiệu quả của cơ quan.
* Bổ nhiệm: Thời hạn mỗi lần bổ nhiệm là 5 năm.
Điều kiện: Đạt tiêu chuẩn chung của cán bộ và tiêu chuẩn cụ thể của từng
chức danh bổ nhiệm theo Quyết định của Đảng và Nhà nước.
Có đầy đủ hồ sơ cá nhân được cơ quan có thẩm quyền xác định rõ ràng
tuổi bổ nhiệm:
+ Lần đầu: Nam< 55 tuổi
Nữ < 50 tuổi
+ Trưởng phòng, phó Trưởng phòng ( ) < 30 tuổi
+ Có đủ sức khoẻ
+ Trong thời gian thi hành kỷ luật từ hình thức khiển trách đến cách chức
thì không được bổ nhiệm.
* Bổ nhiệm lại:
Điều kiện:

phụ cấp khu vực 0,7, các xã còn lại hưởng mức phụ cấp khu vực là 0,5.
2.2. Phụ cấp thu hút:
Áp dụng đối với cán bộ, công chức làm việc ở các vùng kinh tế mới, cơ
sở kinh tế và đảo xa đất liền có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn do chưa có
cơ sở hạ tầng. Phụ thuộc gồm 4 mức: , 30%, 40%, 50%, và 70% mức lương cấp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bậc hoặc chức vụ. Thời gian hưởng từ 3 đến 5 năm. Bình Liêu là huyện miền
núi, vùng cao, điều kiện sinh hoạt đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn,
trình độ dân trí còn thấp, vì vậy dẫn đến hiện tượng cháy máu chất xám thường
xuyên xảy ra, đội ngũ sinh viên sau khi tốt nghiệp không chịu về địa phương
công tác, và phần lớn tuyển giáo viên từ nơi khác đến, chỉ sau công tác một thời
gian phần lớn họ đều có xu hướng chuyển về các thành thị để công tác, nên công
tác tổ chức của huyện gặp rất nhiều khó khăn trong việc tuyển dụng con người
vào làm việc, đặc biệt là công tác giảng dạy ở một huyện miền núi còn gặp
nhiều khó khăn như Bình Liêu. Trên cơ sở Nghị định của Chính phủ, huyện đã
áp dụng phụ cấp thu hút đối với 02 mức như sau:
- Đối với giáo viên Tiểu học ở 7 xã (Đồng Văn, Hoành Mô, Đồng Tâm,
Lục hồn, Tình Húc, Vô Ngại, Húc Động) của huyện được áp dụng hưởng mức
phụ cấp thu hút 70% lương chính.
- Đối với Giáo viên THCS ở 7 xã (Đồng Văn, Hoành Mô, Đồng Tâm, Lục
Hồn, Tình Húc, Vô ngại, Húc động) của huyện được áp dụng hưởng mức phụ
cấp thu hút là: 50% lương chính.
2.3. Phụ cấp lưu động:
Áp dụng đối với cán bộ làm công việc ở những vùng có chỉ số giá sinh
hoạt (lương thực, thực phẩm, dịch vụ) cao hơn chỉ số bình quân chung của cả
nước từ 10% trở lên. Phụ cấp gồm 5 mức: 1,1; 0,15; 0,2; 0,25; và 0,3 so với
mức lương tối thiểu. Bình Liêu là huyện miền núi, địa hình phức tạp, đi lại gặp
nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp nên vài trò của người cán bộ làm công
tác thông tin lưu động là rất quan trọng. Trên cơ sở đó huyện đã áp dụng phụ cấp
lưu động cho một số cán bộ làm công tác thông tin lưu động thuộc phòng Văn

Chính sách phối hợp tạo nên sự khích lệ tính năng động và tính chủ đạo
của con người. Đây là yếu tố tác động đến tâm lý của người cán bộ, ở mỗi vị trí
công việc, làm một công việc nặng nhọc độc hại họ sẽ thấy yên tâm hơn, họ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cảm thấy được bù đắp xứng đáng cho sức lao động mà họ bỏ ra, kích thích sáng
tạo hăng say, năng động trong công việc.
V. VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ CẤP HUYỆN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN
CÁC CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI CÁN BỘ.
1. Theo Pháp lênh cán bộ, công chức thì: “ Cán bộ, công chức quy định tại
Pháp lệnh này là công dân Việt Nam trong biên chế và hưởng lương từ ngân
sách Nhà nước” bao gồm:
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các
cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội như: Chủ tịch và Phó Chủ tịch
UBND huyện.
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao giữ một công
vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành nghề chuyên môn,
được xếp vào một ngạch trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, trong các cơ
quan Nhà nước, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có
chức danh tiêu chuẩn riêng... (Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998, Điều 1 - tr
6,7 và Pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung năm 2003.)
1.1. Lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về công tác cán bộ.
Theo V.I Lênin: “ Cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình
biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành hiện thực ”. Người hiểu
rằng: “ trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị,
nếu không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị,
những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”.
Quan điểm đó của V.I Lênin không những khẳng định vị trí, vai trò quyết định
của cán bộ, mà còn thể hiện sự đòi hỏi, tính tất yếu của khách quan.
Với nhãn quan chính trị cực kỳ sắc sảo và biện chứng, V.I Lênin đã tìm
thấy nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ

chùa, không giúp gì ai được”. Khi một người cán bộ có tâm đức vì dân, vì nước,
được nhân dân tin cậy, quý trọng thi mọi công việc “Dù khó vạn lần dân liệu
cũng xong”.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Như vây, với tư cách là lãnh tụ của Đảng, của dân tộc, hơn ai hết, Chủ
tịch Hồ Chí Minh là người xác định đúng đắn vai trò, vị trí của cán bộ, đồng thời
đề ra đường lối chiến lược về công tác cán bộ, đó là: “ Ngày nay Đảng ta yêu
cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thạo về chính trị, mà còn phải giỏi về
chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung”. Người cán bộ “ Làm việc gì học
việc ấy, cán bộ ở bộ phận nào phải học cho thạo công việc ở trong bộ phân ấy”.
Đó là yếu tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng
đến nay.
1.3. Quan điểm của Đảng ta về cán bộ.
Thấm nhuần lý luận chủ Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công
tác cán bộ, Đảng cộng sản Việt Nam luôn đề cao vai trò, vị trí của đội ngũ cán
bộ và tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
nhà nước.
Đảng ta đã xác định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách
mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng của đất nước. Thực tiễn gần 60 năm tiến
hành cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân ta khẳng định rõ vị trí vai trò của
cán bộ cách mạng.
Hiện nay, đất nước ta đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới, đó là: Thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trải qua quá trình lãnh
đạo đất nước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là hơn 10 năm lãnh
đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta rút là một bài học quan trọng là: Cán bộ có vai
trò cực kỳ quan trọng, hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới. Vì vậy,
Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng ta đã chỉ rõ: Tình hình và nhiệm vụ mới
đặt ra rất nhiều yêu cầu cho công tác cán bộ. Toàn Đảng phải hết sức chăm lo
xây dựng thật tốt đội ngũ cán bộ, chú trọng đội ngũ cán bộ kế cận vững vàng, đủ
bản lĩnh về mọi mặt. Sớm xây dựng chiến lược cán bộ của thời kỳ mới. Đảng ta

Nhà nước thống nhất và thông suốt cả nước, cơ quan huyện hoạt động thường
xuyên, thực hiện việc quản lý, chỉ đạo, điều hành hàng ngày công việc hành
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính Nhà nước ở địa phương. Các cơ quan cấp huyện được xây dựng trên một
mô hình kết hợp, hợp lý, thông nhất, có thứ bậc hành chính từ Trung ương đến
địa phương.
Với vị trí quan trong ấy, đồng thời để triển khai mọi chủ trương đường
lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước xuống cơ sở một cách có hiệu
quả, cấp huyện có những nhiệm vụ cơ bản là: Quản lý Nhà nước về lĩnh vực
phát triển kinh tế xã hội, ngân sách, phát triển sản xuất nông lâm ngư nghiệp,
công nghiệp thủ công, giao thông vận tải, thương mại dịch vụ, văn hoá, giáo
dục, y tế, quốc phòng an ninh trật tự, an toàn xã hội...
Thực hiện tốt nhiệm vụ của cấp huyện là góp phần quan trọng vào việc
xây dựng thành công CNXH và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. làm
được như vậy, vai trò của cán bộ cấp huyện là vô cùng quan trọng và nó được
thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Về chấp hành hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan quản lý
nhà nước cấp trên. Vai trò của cán bộ cấp huyện là gương mẫu, kịp thời tổ chức,
tuyên truyền, phổ biến và cổ vũ động viên. Được thể hiện trong việc người cán
bộ gương mẫu chấp hành trước và phổ biến kịp thời những quy định mới của
Nhà nước, của cơ quan quản lý cấp trên xuống cơ sở. Giải thích những thắc mắc,
băn khoăn của cơ sở, của nhân dân, làm cho nhân dân thông suốt và tích cực
thực hiện đường lối, pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, là
người tập hợp những vướng mắc trong việc đưa pháp luật vào cuộc sống để xử
lý giải quyết theo thẩm quyền hoặc kịp thời phản ánh với cơ quan có thẩm
quyền để giải quyết. Có thể nói đây là một công việc nặng nề đối với cán bộ cấp
huyện vì hiện nay nước ta đang từng bước hình thành và hoàn thiện hệ thống các
thể chế về quản lý nhà nước trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc
phòng.... nhằm đảm bảo dân chủ, tự do của công dân và thực hiện “ dân biết,
dân bàn, dân kiểm tra”. Mặt khác cấp cấp huyện là cấp trong hệ thống cơ quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status