Kinh nghiệm ương nuôi cá sặc rằn giống - Pdf 17

Kinh nghiệm ương nuôi cá sặc rằn giống
Cá sặc rằn, tên khoa học Trichgaster pectorakilis, thuộc họ Cá rô
(Anabantidae). Cá sặc rằn thích hợp ở những vùng có khí hậu nhiệt đới nóng
ẩm, lượng mưa hằng năm nhiều. ở nước ta cá sống thích hợp nhất ở vùng
ĐBSCL như Cần Thơ, An Giang, Cà Mau Cá sặc rằn có thể sống được ở
những nơi nước lợ, có hàm lượng chất hữu cơ cao, lượng oxy hòa tan thấp,
pH thấp, chúng có thể sống bình thường ở nhiệt độ thấp 10-12oC. Cá sặc rằn
sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 25-30oC và pH nước trung tính. Trong điều kiện
tự nhiên, mùa hè cá đẻ là tháng 5-9, trong điều kiện nhân tạo, cá mẹ được
chăm sóc tốt, có thể kích thích đẻ từ cuối tháng 2. Thông thường khoảng 1
năm, cá thành thục sinh sản lần đầu. Trung bình mỗi cá mẹ đẻ khoảng
25.000 trứng/đợt.
Để phân biệt cá đực, cá cái, người nuôi cần nhận thấy những đặc điểm
như: cá đực tia vi chạm dài tới đuôi, trong khi cá cái ngắn hơn. Đường sắc tố
chạy dài từ sống lưng xuống bụng của cá đực rõ ràng, trong khi của cá cái
không có màu sắc trên thân và vi của con đực có màu sắc sặc sỡ, vi cá cái
nhợt nhạt. Sau một năm nuôi, mỗi con có thể đạt trọng lượng 60-80g. Sau
hai năm có thể đạt 150g/con. Khi sinh sản, con đực và con cái ghép tình với
nhau nơi yên tĩnh gần bờ có cây cỏ thủy sinh để đẻ trứng. Khi cá cái đẻ
xong, cá đực thường gom trứng vào miệng và nhả trở lại mặt nước dưới
dạng tổ bọt. Trong giai đoạn phôi thai và giai đoạn cá mới nở, cá đực và cá
cái thay nhau canh gác để bảo vệ tổ đàn con của chúng. Trong điều kiện 28-
30o, trứng thụ tinh và nở sau 24 giờ. Cá con sau khi nở được nuôi bằng noãn
hoàng 2-3 ngày. Sau khi tiêu thụ hết noãn hoàng, cá con di chuyển xuống
lớp dưới để kiếm mồi. Thông thường cá ương trong ao sau 30 ngày sẽ đạt
chiều dài 2-3cm.
Cá bố mẹ được nuôi trong ao (mặt ao nên thả rau muống). Mật độ thả
cá khoảng 25-30 con/m2, thức ăn cho cá là cám mịn (85%), bột cá (5-8%).
Lượng thức ăn bằng 2% trọng lượng cá mỗi ngày. Khi thấy mực nước ao
cạn, phải thêm nước sao cho nước luôn ở mức 1,5m để giữ môi trường nuôi
được trong sạch tạo điều kiện kích thích phát dục để tháng 4-5 cá bắt đầu đẻ

KỸ THUẬT NUÔI CÁ SẶC RẰN
I/ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI SINH HỌC CÁ SẶC RẰN:
1/ Phân bố:
Cá sặc rằn phân bố tại Thái Lan, Campuchia, Việt Nam và được di giống
sang các nước Mã Lai, Indonesia, Bangladesh. Cá sặc rằn phân bố rộng rãi
trong nhiều thủy vực như kênh rạch, ruộng lúa, ao hồ.
Tại Việt Nam, trong vùng châu thổ sông Mêkông, cá phân bố tập trung trong
các vùng trũng ngập nước quanh năm, sinh sản tự nhiên trong ruộng, kinh
mương nơi chúng cư trú, đặc biệt là có nhiều cây cỏ thủy sinh với nhiều chất
hữu cơ. Hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang là vùng phân bố tập trung và có sản
lượng cao hiện nay ở vùng ĐBSCL.
2/ Sinh trưởng:
Trong điều kiện ở ĐBSCL nhiệt độ thích hợp 250C - 300C cá đạt trọng
lượng khoảng 140g/con sau 2 năm, quan sát cá đực & cá cái cùng tuổi
thường cá đực có trọng lượng nhỏ hơn.
3/ Dinh dưỡng:
Thức ăn ở thời kỳ đầu gồm nhiều loại như phiêu sinh động vật, phiêu sinh
thực vật & thủy thực vật phân hủy.
Ở thời kỳ trưởng thành, cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá phù hợp với loài ăn
tạp. Những loại thức ăn thường xuyên bắt gặp và chiếm khối lượng lớn trong
ruột cá gồm: mùn bã hữu cơ, thực vật phiêu sinh, động vật phiêu sinh, mầm
non thực vật cũng như các loại thực vật thủy sinh mềm trong nước.
Cá cũng sử dụng tốt những loại thức ăn do người cung cấp như: bột ngũ cốc
các loại, cám tấm, động vật và khi thiếu thức ăn chúng ăn cả trứng của
chúng.
II. KỸ THUẬT ƯƠNG NUÔI CÁ SẶC RẰN:
1/Điều kiện ao đìa:
3
- Nguồn nước: Phải dồi dào, có điều kiện cấp thoát nước cho ao khi cần
thiết. Ao không bị khô cạn hoặc ngập úng. Nước phải có chất lượng tốt

Nhưng lưu ý là những vùng đất bị nhiễm phèn thì không nên phơi lâu.
- Bón phân: Có thể dùng phân gà, phân heo hoặc phân xanh (các loại lá
xanh, tốt nhất là lá điên điển) để bón lót cho ao từ 15 -20kg/ 100m2 ao.
- Lấy nước cho ao: Nước cần được lọc qua lưới dày trước khi đưa vào ao để
tránh cá khác, tép vào ao. Nước cấp cho ao đủ độ sâu cần thiết từ 0,8 - 1m.
- Diệt trừ dịch hại trước khi thả cá: Có nhiều loại dịch hại đối với cá. Nhưng
thường quan tâm để diệt nhất là trứng ếch nhái và bọ gạo. Để diệt trứng ếch
nhái cần rào lưới xung quanh bờ ao. Để diệt bọ gạo, sử dụng dầu lửa
1lít/1.000m2ao, dầu lửa được rải xuống đầu ao, phía đầu gió cho lan tràn
khắp ao. Sau khi thả dầu lửa xuống một ngày thì có thể thả cá bột.
3/ Thả cá bột xuống ao:
- Tuổi cá thả nuôi: Sau khi cá nở được 2 - 3 ngày (tức là khi thấy cá bơi lội
nhanh nhẹn) thì đem thả xuống ao. Tính từ lúc chích cho cá đẻ thì khoảng 4
ngày sau khi chích. Vấn đề liên quan chặt chẽ đến thời gian chuẩn bị ao.
- Thời gian thả cá: Thích hợp nhất là từ 8 - 9 giờ sáng và những lúc trời
không có mưa lớn. Tránh thả cá vào những khi nhiệt độ nước quá cao.
- Mật độ thả: 400- 500 con/m2 là thích hợp.
4/ Cho ăn chăm sóc:
- Sau khi bón phân lần đầu tiên (bón lót) lúc ao còn cạn nước, thì sau một
tuần lấy nước vào ao, cần bón thêm một lần phân. Lần thứ 2 này chỉ bón
10kg/100m2 tức là chỉ 1/2 lần đầu.
- Cho ăn: Sau khi thả cá bột xuống ao, tiến hành cho ăn ngay.
* Trong tuần lễ đầu tiên: Mỗi ngày cho ăn 2 lần, mỗi lần 2 lòng đỏ trứng gà
(vịt) luộc + 1 kg bột đậu nành/1.000m2 (pha nước vào thức ăn cho loãng, tạt
đều khắp ao).
* Tuần lễ thứ 2: Mỗi ngày cho ăn 2 lần, mỗi lần 1 kg cám mịn + 0,5 kg bột
cá/1.000m2 ao (cũng pha nước như tuần đầu).
5
* Tuần lễ thứ 3: Tùy theo mức độ ăn của cá mà tăng thêm lượng thức ăn cho
phù hợp.

tượng cá đực có kích thước nhỏ, có thể do trong quá trình sinh sản, cá
đực phải giữ tổ, và chăm sóc cá con, nên ăn ít, hoặc không ăn trong
thời gian này.
2. Dinh dưỡng: Cũng như nhiều loài cá khác, ở thời kỳ đầu sau khi nở,
cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng. Sau khi noãn hoàng tiêu biến, cá
chuyển sang ăn thức ăn bên ngoài.
Thức ăn ở thời kỳ đầu gồm nhiều loại, như phiêu sinh động vật (Ciliata,
Rotifera, Copepoda, Cladocera), phiêu sinh thực vật (Bacillariophyceae,
Cyanophyceae, Chlorophyceae) và thủy thực vật tan ra.
Ở thời kỳ trưởng thành, cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá phù hợp với loài
ăn tạp. Những loại thức ăn thường xuyên bắt gặp và chiếm khối lượng
lớn trong ruột cá gồm: mùn bã hữu cơ, thực vật phiêu sinh, động vật
phiêu sinh, mầm non thực vật, cũng như các loại thực vật thủy sinh
mềm trong nước.
Cá cũng sử dụng tốt các loại thức ăn do người cung cấp như: bột ngũ
cốc các loại, động vật và khi thiếu thức ăn chúng ăn cả trứng của chính
nó.
3. Đặc điểm thành thục sinh dục của cá sặc rằn
Cá sặc rằn thành thục lần đầu sau 7 tháng tuổi. Khi thành thục, có thể
phân biệt dễ dàng cá đực, cá cái bằng các biểu hiện bên ngoài của dấu
hiệu sinh dục phụ. Khi thành thục, ở cá đực phần tia mềm vây lưng
kéo dài tới hoặc vượt khỏi gốc vi đuôi, còn cá cái vi này rất ngắn và
không bao giờ chạm tới gốc vi đuôi. Ngoài chỉ tiêu căn bản này, cũng
có thể phân biệt cá đực với các sọc ngang đậm nét chạy từ lưng xuống
bụng rõ hơn cá cái và miệng của nó cũng lớn hơn.
Sự phát triển tuyến sinh dục của cá sặc rằn ở vùng ĐBSCL theo mùa
rất rõ. Vào mùa khô (tháng 1 – 2), phần lớn cá ở giai đoạn II, sang
7
tháng 3 giai đoạn III tăng dần và đã thấy xuất hiện những cá thể ở
thời kỳ đầu của giai đoạn IV.

nhiễm độc (thuốc sâu), nước sạch, có điều kiện thay nước cho ao.
8
- Ánh sáng: ao cần đầy đủ ánh sáng, không để cây cối quanh bờ che
phủ ánh sáng chiếu vào ao. Mặt ao thoáng, không để cây cỏ, rong bèo
phủ trên mặt ao.
- Trước khi thả cá nuôi, ao cần được tát cạn, bón vôi để diệt hết các
loại cá tạp. Bón 10 kg vôi bột/100 m
2
.
b. Thời gian nuôi: Tiến hành thu gom cá và nuôi từ tháng 1 (tính
theo dương lịch) không nên nuôi trễ hơn.
c. Mật độ thả nuôi: Tùy theo kích thước cá thả nuôi. Thông thường
chọn những con có trọng lượng từ 12 – 15 con/kg là thích hợp. Thả
vào ao mật độ 0,5 kg/m
2
. Khi tiến hành thả cá cần lưu ý tỷ lệ giữa cá
đực và cá cái là 1:1.
d. Cho ăn
Cá sặc rằn là loài cá ăn tạp, nên thức ăn sử dụng để nuôi cá có thể
gồm nhiều loại tùy theo khả năng tìm kiếm và cung cấp của gia đình.
Thức ăn tự chế: các loại thức ăn dùng để nuôi cá là : tấm cám, bột
bắp, khoai lang, khoai mì, bánh dừa, bột cá… Tùy theo điều kiện từng
gia đình mà sử dụng cho phù hợp. Nhưng trong các thành phần trên
thì cố gắng có bột cá và cám. Những thứ khác thì tùy điều kiện mà cho
thêm. Các loại thức ăn được trộn chung lại với ít nước để nắm từng
nắm nhỏ cho ăn trong một cái sàn ăn. Cho ăn khoảng 3% trọng lượng
cá nuôi, tức là cứ 100 kg cá thì cho ăn 3 kg thức ăn trong một ngày.
Thức ăn công nghiệp: ngoài thức ăn tự chế biến như trên, nếu có điều
kiện mua được thức ăn chế biến sẵn của các công ty Con Cò, CP… thì
càng tốt. Những loại thức ăn này được chế biến dưới dạng viên nổi trên

sát kỹ.
- Tỷ lệ đực cái là : 1:1
2. Dụng cụ cho đẻ: Có thể dùng thau, khạp, lu, bể xi măng, bể đắp
đất lót bạt…
3. Chích thuốc cho cá đẻ
• Thời gian chích: thường là chiều mát (khoảng 4 – 5 giờ chiều)
• Loại thuốc: có thể dùng HCG, hoặc LRH + Motilium
10
• Liều lượng thuốc dùng: 1 lọ HCG chích được cho 3,5 kg cá cái +
3,5 kg cá đực; 1 lọ LRH + 2 viên Motilium chích được cho 2 kg cá
cái + 2 kg cá đực.
Sau khi chích thuốc thả cá vào dụng cụ cho đẻ, tỷ lệ 1 : 1. Cần đậy để
cá khỏi nhảy ra ngoài.
Dùng lá môn hoặc lá sen úp lên mặt nước để cá làm tổ đẻ. Để ở nơi
yên tĩnh, sau khi chích từ 8 – 10 giờ thì cá đẻ.
IV. KỸ THUẬT ƯƠNG NUÔI CÁ SẶC RẰN
1. Điều kiện ao
• Nguồn nước: phải dồi dào, có điều kiện cấp thoát nước cho ao
khi cần thiết. Ao không bị khô cạn hoặc ngập úng. Nước phải có
chất lượng tốt không bị phèn (pH = 7 là tốt nhất, không nên sử
dụng ao có pH nhỏ hơn 6). Nước không bị nhiễm bẩn, không bị
nhiễm độc (chủ yếu độc do thuốc trừ sâu).
• Diện tích: tùy thuộc qui mô sản xuất, điều kiện sẵn có và khả
năng từng gia đình. Có thể tận dụng các kênh mương sẵn có để
ương cá. Tuy nhiên, không nên sử dụng những kênh mương quá
dài để tiện cho việc chăm sóc quản lý. Nếu kênh quá dài thì có
thể chặn ngăn thành từng đoạn ngắn.
• Với phạm vi gia đình và tình hình hiện nay ở khu vực, ao ương cá
sặc rằn nên có diện tích vài trăm m2 là thích hợp. Tùy theo yêu
cầu lượng cá giống thả mà có thể có ít hay nhiều ao.

20 kg/100 m
2
ao.
• Lấy nước cho ao: nước cần được lọc qua lưới dày trước khi đưa
vào ao để tránh tép, cá khác vào ao. Nước cấp cho ao đủ độ sâu
cần thiết từ 0,8 – 1 m.
• Diệt trừ địch hại trước khi thả cá, nhất là trứng ếch nhái và bọ
gạo. Để diệt trứng ếch nhái cần có sự kiên trì, tỉ mỉ, vào mỗi
buổi sáng đi quanh ao vớt bỏ trứng ếch nhái. Để diệt bọ gạo, sử
dụng dầu lửa 1 lít/100 m2 ao, dầu lửa được rải xuống đầu ao,
phía đầu gió cho lan tràn khắp ao. Sau khi thả dầu lửa xuống ao
được một ngày thì có thể thả cá bột.
3. Thả cá bột xuống ao
- Tuổi cá thả nuôi: sau khi cá nở 2-3 ngày (tức là khi thấy cá bơi lội
nhanh nhẹn) thì đem thả xuống ao. Tính từ lúc chích cho cá đẻ thì
khoảng 4 ngày sau khi chích. Vấn đề này liên quan đến thời gian
chuẩn bị ao.
- Thời gian thả cá: thích hợp nhất là từ 8 – 9 giờ sáng và những lúc
trời không có mưa lớn. Tránh thả cá vào những khi nhiệt độ nước quá
cao.
- Mật độ thả : 400 – 500 con/m
2
là thích hợp
4. Cho ăn chăm sóc
- Sau khi bón phân lần đầu tiên (bón lót) lúc ao còn cạn nước, thì sau
1 tuần lấy nước vào ao, cần bón thêm một lần phân. Lần thứ hai này
chỉ bón 10 kg/100 m
2
tức là chỉ bằng 1/2 lần đầu.
- Cho ăn: sau khi thả cá bột xuống ao, tiến hành cho ăn ngay:

• Độ sâu từ 1 – 1,5 m.
• Ao gần nơi có nguồn nước sạch và có cống cấp thoát nước chủ
động.
• Bờ ao phải cao hơn mực nước lũ cao nhất là 0,5 m và cải tạo ao.
b. Cải tạo ao
• Tát cạn sên vét bùn đáy ao chỉ còn lại 10 – 20 cm.
• Bón vôi 7 – 10 kg/100 m
2
.
• Phơi nắng 2 – 3 ngày.
• Bón phân chuồng ủ hoai 30 – 40 kg/100 m
2
ao.
• Lấy nước vào 30 – 40 cm.
13
• Sau 2 – 3 ngày cho phân chuồng phân hủy rồi lấy nước vào cho
đủ rồi thả cá.
c. Cá giống
• Mật độ thả 15 – 20 con/m
2

• Kích cỡ cá 4 – 6 cm/con
• Cá khỏe không xây xát, không dị hình, đồng cỡ.
• Thả cá vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát để tránh sốc nhiệt độ.
d. Thức ăn
• Cho cá sặc rằn ăn gồm: cám, bột cá (loại cá tươi hoặc phụ phẩm
của nhà máy) xay nhỏ cho cá ăn.
• Thành phần: cám 60% + bột cá 40%.
• Khẩu phần thức ăn : 5 – 7% trọng lượng cá/ngày.
• Làm sàn thả thức ăn để dễ kiểm tra lượng thức ăn hàng ngày.

cho cá vừa giúp lúa phát triển tốt.
• Hàng ngày kiểm tra hoạt động của cá.
• Sau 8 – 10 tháng nuôi cá đạt cỡ 80 – 120 g/con có thể thu
hoạch được.
VI. MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP
1. Bệnh đốm trắng (bệnh trùng quả dưa)
- Nguyên nhân bệnh là do trùng quả dưa. Có hai giai đoạn trong chu
kỳ sống của trùng quả dưa, đầu tiên là giai đoạn trưởng thành, kế đến
là giai đoạn ấu trùng. Trong giai đoạn trưởng thành trùng quả dưa
được nhìn thấy dưới da hoặc mang cá có thể nhìn thấy như những đốm
trắng bằng mắt thường.
Khi trùng quả dưa trưởng thành, chúng sẽ tách ra khỏi da cá và sinh
sản bằng cách phân chia tế bào bên trong vách dày của tế bào. Khi
chúng trưởng thành tế bào sẽ bị vỡ và những ấu trùng sẽ thoát vào
môi trường nuôi, ấu trùng sẽ lội trong nước và sẽ tấn công vào da
hoặc mang của ký chủ (cá) trong vòng 24 giờ. Sự tấn công của ấu
trùng đôi khi phá vỡ mô của cá và chính vì điều này làm cho cá bột trở
nên yếu đi và chết đột ngột. Đối với cá bột nhiễm bệnh vây sẽ rách tơi
và cơ thể nhợt nhạt. Nếu việc điều trị không thích hợp và kịp thời thì
cả đàn cá bột trong ao ương sẽ chết trong 2 – 3 ngày.
- Dấu hiệu bệnh lý: trong giai đoạn đầu của bệnh sẽ xuất hiện những
đốm màu trắng bằng đầu kim hoặc nhỏ hơn trên thân cá. Sau xuất
hiện các đốm trắng trên da cá và vây cá bị tua ra. Cá bột bơi lội chậm
chạp và tỷ lệ chết cao.
- Cách phòng trị: để trị bệnh này có kết quả tốt cần phải điều trị thành
nhiều đợt nối tiếp nhau. Nhìn chung có thể dùng 25 ml Formol trong 1
m3 nước ao, trị 3 lần cách nhau 3 ngày 1 lần thì sẽ có hiệu quả. Sau
mỗi lần điều trị nước trong ao sẽ không được thay trong suốt 40 giờ,
do đó trong thời gian trị liệu số lượng Moina (trứng nước) hoặc những
thức ăn khác của cá bột sẽ phải giảm để ngăn chặn sự ô nhiễm nước.

nước ao
trị 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 1 ngày. Khi sử dụng phèn xanh cần
tính chính xác thể tích nước ao.
+ Để trị cá bị trùng mặt trời ương trên bể xi măng nên dùng xanh
Malachite với nồng độ 1 – 2 g/m3 nước bể, tắm cho cá trong thời gian
30 phút hoặc dùng Formol với liều lượng 25 ml/m
3
bể. Trị 3 ngày liên
tục. Nên trị bệnh cá lúc mát trời và trong thời gian trị bệnh nên giảm
lượng thức ăn đi một nửa.
16
Biện pháp tốt nhất để phòng bệnh trùng mặt trời là giữ gìn vệ sinh bể
ương sạch sẽ, mật độ ương vừa phải, tránh thức ăn dư thừa ở đáy ao.
Trước khi ương nuôi cá phải tẩy vôi, diệt mầm bệnh.
TTKN KIÊN GIANG giỚi thiỆu KỸ THUẬT SINH SẢN CÁ SẶC
RẰN
Kỹ sư Đặng Khánh Hồng (điện thoại: 0913 819729)
Phòng kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông Kiên Giang
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ
SẶC RẰN
Dựa vào quy trình kỹ thuật được các Thầy cô Khoa Thuỷ Sản trường
Đại học Cần Thơ chuyển giao, tài liệu của các cơ quan chuyên môn ở
một số tỉnh ĐBSCL, kết hợp với thực tế ở địa phương . Trung Tâm
Khuyến Nông Kiên Giang đã triển khai hơn 50 điểm trình diễn cho cá
sặc rằn sinh sản tại nông hộ. Bên cạnh những điểm trình diễn, cán bộ
kỹ thuật Trung Tâm cũng rất nhiệt tình chuyển giao thành công kỹ
thuật này cho bà con nông dân khác.
Cá sặc rằn thuộc loài Trichogaster pectoralis Regan.
Họ : Anabantidae; Bộ phụ : Anabantoidei; Bộ : Perciformes; Tổng bộ:
Percimorpha

Rút cạn nước, sên vét lớp bùn đáy. Lấp kín hang mọi và những chỗ rò
rĩ, diệt cá tạp bằng dây thuốc cá.
Bón vôi kết hợp phơi đáy ao
18
- Phơi đáy ao 3 - 5 ngày kết hợp bón vôi :10 - 15 kg/100 m2.
- Sau đó cho nước vào đầy ao khoảng 1 - 1.2m. Khi cho nước vào
phải dùng lưới cước bịt miệng cống để ngăn cá tạp, tiến hành gây màu
nước bằng phân vô cơ 1,5 - 2 kg/100 m2 ao hoặc dùng bột cá với liều
lượng : 1,5 - 2 kg/100 m2.
- Sau khi cải tạo ao phải đảm bảo một số yếu tố: pH: trên 6,5 – 8.0 ;
Độ trong: 25 - 30 cm; Oxy hòa tan: 3 - 5 ppm; Thức ăn tự nhiên
(Thực và động vật phù du)
* Lưu ý :
- Trong quá trình ương cá giống phải quan sát màu nước hàng ngày
để điều chỉnh lượng thức ăn, tránh làm môi trường nước bị nhiễm bẩn.
- Nếu thấy cá nổi đầu do thiếu oxy phải ngưng cho ăn và bón phân
đồng thời cấp nước vào.
- Khi ương cá phải chú ý địch hại của cá. Tỷ lệ hao hụt do điïch hại rất
cao.
- Khi cá còn nhỏ không để cho ánh sáng chiếu trực tiếp xuống ao.
- Nguồn nước phải giữ sạch.
2. Chuẩn bị dụng cụ cho sinh sản nhân tạo cá sặc rằn
Chuẩn bị dụng cụ cho cá đẻ
Thau dùng cho cá đẻ và ấp trứng
- Dùng thau vừa sử dụng cho cá đẻ vừa
dùng để ấp trứng.
- Vợt vớt trứng
- Ống nhựa trong nhỏ dùng để cấp nước
khi cá nở, đồng thời để rút bỏ trứng bị
ung , vỏ trứng và cặn.

mưa dầm hay trời nắng gắt.
Cá bột Cá sau khi ương 1
tháng
Cá giống sau khi ương 2.5
- 3 tháng
Kiểm tra cá giống Cá sặc rằn giống

* Lưu ý:
- Trước khi thả cá bột xuống ao ương, ta phải quan sát hoạt động của
cá. Cá phải bơi lội nhanh và di chuyển xuống lớp nước tầng dưới.
- Cá sau khi nở 24 - 30 giờ bắt đầu cho cá ăn bằng lòng đỏ trứng gà,
vịt đã luộc, tán nhuyễn.
3. Mật độ & thức ăn khi ương cá
21
Mật độ cá thả : 400 - 600 con/ m2. Thả vào sáng sớm hoặc chiều mát,
tránh thả vào lúc trời nắng gắt hoặc mưa dầm.
- Tuần đầu cho ăn: Lòng đỏ trứng (2 – 3 cái), đậu nành (150 gr) cho
100.000 bột/lần ăn. Ngày cho ăn 2 - 3 lần
- Sang tuần thứ 2, lượng thức ăn tăng gấp đôi và được điều chỉnh
theo màu nước
- Sau 10 ngày ương có thể cho cá ăn: Bột cá(40%), Cám mịn (30%),
bột đậu nành (30%); Hoặc cho ăn bột cá 0,5 kg/100 m2/lần. Khẩu
phần ăn 8 - 10 % trọng lượng cá.
- Sang tháng thứ 2, ngoài thức ăn nhân tạo kết hợp bón thêm phân
hữu cơ 7 - 10 ngày/lần với liều lượng : 5 - 7 kg/100 m2 (phân phải
được ủ trước khi sử dụng).
Có thể sử dụng phân xanh như : So đũa, các cây họ đậu bó lại thành
bó cột vào cây sào cắm xuống ao , khoảng 5 - 7 m cắm 1 sào.
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status