BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT
NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
THỬ NGHIỆM ƯƠNG NUÔI CÁ XIÊM (BETTA
SPLENDES) và CÁ BỐNGTƯNG
(OXYELEOTRIS MARMORATA)
BẰNG TRÙN GIẤM
(TUBATRIX ACETI)
NGÀNH: THUỶ SẢN
KHOÁ: 2001 – 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐÀO NGỌC QUYÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
9/2005
THỬ NGHIỆM ƯƠNG NUÔI CÁ XIÊM ( BETTA SPLENDES)
và CÁ BỐNG TƯNG (OXUELEOTRIS MARMORATA)
BẰNG TRÙN GIẤM (TUBATRIX ACETI)
Thực hiện bởi:
Đào Ngọc Quyên
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản.
Giáo viên hướng dẫn: Phạm Văn Nhỏ
Thành phố Hồ Chí Minh
2
9/2005
3
CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm – Tp.HCM
Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm – Tp.HCM.
th
March to 31
st
July in 2005. The study comprised two part
with 4 diets:
• Part A: Result of experiments on Fightting Fish
Treatment 1 (A): egg yolk
Treatment 2 (B): dried algae Spirulina
Treatment 3 (C): synthesis food
Treatment 4 (D): Vinegar eel
• Part B: Result of experiments on Marble Gobby
Treatment 1 (A): egg yolk
Treatment 2 (B): algae Spirulina
Treatment 3 (C): synthesis food
Treatment 4 (D): Vinegar eel
In part A and B, survival rate of fry fishes in A, B, C, D are similar and not
significantly different (P>0,05).
6
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG
TRANG TỰA i
CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH ĐỒ THỊ viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH ẢNH x
I GIỚI THIỆU
1.1 Đặt Vấn Đề
3.1.3 Thức ăn và dụng cụ cho ăn 19
3.1.4 Hệ thống ương nuôi cá bột 20
3.2 Phương Pháp Nghiên Cứu 20
3.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
3.2.2 Quản lý và chăm sóc 22
3.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 22
3.3 Phương Pháp Thu Thập Số Liệu 23
3.4 Phương Pháp Phân Tích Số Liệu 23
IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
Phần A: Kết Quả Thử Nghiệm Trên Cá Xiêm 24
4.1 Đánh
Giá Tỷ Lệ Sống Của Cá Xiêm Các Lần Thử Nghiệm 24
4.1.1 Lần thử nghiệm thứ I (từ 24/4/2005 đến 4/5/2005) 24
4.1.2
Lần thử nghiệm thứ II (từ 11/5/2005 đến 27/5/2005) 25
4.1.3
Lần thử nghiệm thứ III (từ 14/6/2005 đến 20/6/2005) 26
4.1.4
Lần thử nghiệm thứ IV (từ 1/7/2005 đến10/7/2005) 28
Phần B: Kết Quả Thử Nghiệm Trên Cá Bống Tượng 31
4.1
Đánh Giá Tỷ Lệ Sống Của Cá Bống Tượng Các Lần Thử Nghiệm 31
4.1.1 Lần
thử nghiệm thứ I (từ 14/4/2005 đến 20/4/2005) 31
4.1.2
Lần thử nghiệm thứ II (từ 8/6/2005 đến 12/6/2005) 32
4.1.3
Lần thử nghiệm thứ III (từ 22/7/2005 đến 31/7/2005) 33
4.2
So Sánh Tỷ Lệ Sống Trung Bình Giữa Các Nghiệm Thức 34
10
DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG NỘI DUNG TRANG
4.1 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Có Mật Độ 20con/Lít (Lần IV) 29
4.2 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Có Mật Độ 50con/Lít (Lần IV) 30
4.3 Kết Quả Ương Nuôi Cá Bống Tượng Trong Bình Nhựa (Lần Thứ I) 31
4.4 Kết Quả Ương Nuôi Cá Bống Tượng Trong Bình Nhựa (Lần Thứ I) 32
4.5 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Bống Tượng (Lần III) 34
4.6 Yếu Tố Nhiệt Độ Trong Quá Trình Thí Nghiệm 37
11
DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH
HÌNH ẢNH NỘI DUNG TRANG
Hình 1 Hình Dạng Ngoài Của Trùn Giấm 40
Hình 2 Cá Bống Tượng 1 Ngày Sau Khi Nở 40
Hình 3 Cá Xiêm 2 Ngày Sau Khi Nở 41
Hình 4 Cá Xiêm 10 Ngày Tuổi (Lần III) 41
Hình 5 Cá Xiêm Trưởng Thành 42
Hình 6 Thức n Cho Cá Bột 42
12
I. GIỚI THIỆU
I.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành thủy sản nước ta đã không ngừng phát
triển. Nhiều mặt hàng thủy hải sản đã có mặt trên thò trường thế giới như: cá basa,
tôm sú và một số mặt hàng thủy hải sản khác. Để ngành thủy sản có thể ngày càng ổn
đònh và phát triển hơn nữa thì cần phải chú ý đến ba vấn đề sau: con giống, kỹ thuật
nuôi và thức ăn. Trong đó, thức ăn có thể coi là nhân tố quan trọng nhất.
Các loại thức ăn có thể là nguồn gốc động vật hay thực vật, thức ăn tự nhiên
hay thức ăn chế biến. Để duy trì sự sống và hoạt động của cơ thể, ngoài oxygen mọi
sinh vật đều cần có thức ăn. Thức ăn là nguồn cung cấp nguyên liệu giúp cho cơ thể
sinh trưởng và phát triển, là nguồn vật liệu tái tạo bổ sung những bộ phận hao mòn
Loài: Betta splendes
Tên tiếng Anh: Fighting fish.
Tên tiếng Việt: Cá lia thia, cá đá, cá xiêm, cá chọi.
Phân loại theo màu sắc và hình dáng
- Cá lia thia đồng
Gồm 2 loài: cá mang đỏ và cá mang xanh, thường thấy ở các đồng ruộng
miền đông và miền tây Nam Bộ.
Cá mang đỏ: toàn thân màu xanh da trời, đuôi màu tím nhạt, mang cá màu
đỏ.
Cá mang xanh: cũng có hình dáng giống cá mang đỏ nhưng màu sắc ở thân
xanh đậm và nhanh nhẹn hơn.
Cá xiêm (đuôi rẽ quạt)
Hiện nay, loài này được coi là điển hình của loài cá đá. Màu sắc của cá đậm,
sặc sỡ và lớn hơn cá lia thia đồng. Đặc biệt là vây đuôi của cá tròn xoe giống như hình
rẽ quạt. Toàn thân đậm, ánh lên các màu xanh, đỏ pha vàng nhạt và có viền đỏ. Từ
loài này có thể chia ra làm 4 loài như sau:
• Cá xiêm đỏ
• Cá xiêm xanh
14
• Cá xiêm đen
• Cá xiêm xám
Cá phướn
Cá có hình dáng khá hấp dẫn, vi dài với dáng vẻ tha thướt. Cá có vây lưng,
vây hậu môn và vây đuôi kéo dài rũ xuống như là lá cờ phướn nên mới gọi là cá
phướn. Loài cá này đá không hay, không chòu được đòn nên ít dùng làm cá đá. Chủ
yếu chúng được dùng làm cá cảnh nhờ dáng vẻ thướt tha khi bơi lượn.
Ngoài ra, người ta còn lai tạo giữa cá xiêm với cá phướn hoặc cá xiêm thuần
với cá xiêm lai, từ đó tạo ra nhiều giống cá và đặt tên khác nhau.
2.1.2 Đặc điểm hình thái và phân bố
Cá có thân hình thoi. Cá thuần chủng có màu xanh biếc, lá mạ, màu đỏ của
đực thường phô trương những màu sắc tiềm ẩn và kỳ ảo.
Điều thú vò nhất khi đề cập đến tập tính “đấu tranh sinh tồn” của loài cá này
là khả năng chọi nhau của con đực. Trận đấu diễn ra khi hai con đực gặp nhau. Chúng
sẽ giương vi, phùng mang và màu sắc sẽ chuyển đổi rực rỡ hơn. Cá quẩy mình qua lại,
đầu hướng thẳng về phía đối thủ. Chúng giữ tư thế này ở vài giây đến vài phút và bất
chợt lao vào nhau và dùng miệng để tấn công. Một trong những pha quyết đònh sự
thắng bại thú vò làm bất ngờ người xem là hai đối thủ chận đầu nhau và bất ngờ tấn
công với hai miệng cắn dính vào nhau. Thân cá bò căng ra. Cá chiến đấu bằng cách
xoay tròn quanh trục thân và thường kéo dài từ 10 đến 20 giây, thường kết thúc khi cá
chìm xuống đáy. Sau đó, chúng rời nhau ra và nhanh chóng trồi lên mặt nước để thở
nhờ cơ quan hô hấp phụ. Sau đó, lại tiếp tục chiến đấu. Trận đấu kết thúc khi con yếu
sức bỏ chạy, thậm chí có khi chết trận. Cả hai chiến só cá sau trận đấu đều không
tránh khỏi những tổn thương và các vi rách nát.
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
2.1.5.1 Tính ăn
Cá xiêm là loài ăn tạp thiên về động vật. Chúng thích những mồi sống di
động như: lăn quăn, trùng chỉ, ấu trùng muỗi lắc…
Theo kết quả khảo sát tính ăn của cá xiêm của Dương Thò Thuý Nga (1993),
thì cơ quan tiêu hoá của cá xiêm gồm: miệng, hầu, thực quản với hai manh tràng khá
dài, ruột ngắn và tận cùng là lỗ hậu môn nếu là con đực. Còn ở con cái thì tận cùng
của ruột là lỗ huyệt. Đồng thời đo được tỷ lệ chiều dài ruột /chiều dài thân (Li/Ls) là
0.67 - 0.75. Vì vậy, đây là loài cá có cấu tạo cơ quan tiêu hoá thích hợp với tập tính ăn
tạp thiên về động vật.
2.1.5.2 Thức ăn theo các giai đoạn tuổi
16
Theo nhiều tài liệu tham khảo cùng kinh nghiệm của các nghệ nhân cá cảnh
thì thức ăn và liều lượng cho ăn thay đổi theo từ giai đoạn tuổi.
Từ 1 - 3 ngày tuổi, cá dinh dưỡng chủ yếu nhờ noãn hoàng. Cá bột mới nở trú
ẩn dưới tổ cho đến khi tiêu hết noãn hoàng.
Từ 4 - 7 ngày tuổi, cá bắt đầu ăn thức ăn ngoài. Loại thức ăn thích hợp cho
Chúng kết dính vào nhau tạo thành một khối bọt có đường kính từ 8 – 10 cm. Sau thời
gian bò cá đực rượt đuổi, khi cá cái đã sẵn sàng đẻ thì chúng quần ổ và quấn vào nhau.
Cá đực xoay quanh cá cái, ép và ôm lấy cá cái bằng các vây dài, toàn bộ cơ thể cong
vòng một cách dòu dàng. Hành động này kéo dài khoảng một phút. Theo Bùi Hồng
Phúc, 1992 thì hành động này là “sự va chạm có tác dụng kích thích”. Sau đó, cá đực
buông dần cá cái ra. Sự tiết sẹ và trứng bắt đầu.
Trứng tiết ra từng nhóm nhỏ, trung bình từ 15 – 25 trứng/lần, đôi lúc đạt
40 – 50 trứng/lần nhưng trường hợp này rất ít. Cũng ngay lúc ấy, cá đực tiết sẹ để thụ
tinh. Sự thụ tinh diễn ra trong môi trường nước.
Sau khi trứng được cá đẻ ra, nó sẽ chìm từ từ xuống đáy bể nuôi. Cá đực bơi
theo và nhẹ nhàng ngậm trứng vào miệng rồi nhanh chóng trồi lên mặt nước, phun
trứng vào tổ sao cho trứng dính vào cụm bọt nổi. Cá đực cứ tiếp tục như vậy cho đến
khi thu lượm hết số trứng rơi dưới đáy. Sau đó, nó lại tiếp tục động tác cuộn thân,
xoắn quanh con cái như mô tả trên, cứ thế khoảng vài chục lần cho đến khi con cái đẻ
xong. Sự kết hợp giữa bơi lội và đẻ trứng xảy ra rất ngoạn mục. Trong thời gian ép đẻ,
cá đực và cái ở gần mặt nước, ngay dưới đám bọt. Cá đực luôn giữ bọt, nếu bọt có tan
đi, nó lại phun thành đám khác.
Một đặc điểm khác ở loài cá này là khi sinh sản, con cái có đặc tính ăn
trứng. Do đó, trong tự nhiên, sau khi đẻ xong, cá cái sẽ bò cá đực rượt đuổi đi xa một
khoảng nào đó. Vì vậy, khi bố trí cá đẻ trong khạp, người ra bắt cá cái ra ngay sau khi
nó đẻ xong, để tránh cá cái ăn trứng và bò tổn thương do cá đực rượt đuổi.
Theo Võ Văn Chi, 1993 thì thời gian để trứng nở là 30 – 40 giờ ở nhiệt độ
28 – 29
0
C.
Cá bột mới nở vẫn ở dưới tổ cho đến khi tiêu hết noãn hoàng. Nếu con nào
tách ra trước khi có đủ khả năng bơi lội thì cá đực sẽ hớp lấy vào miệng và nhẹ nhàng
phun trở lại tổ.
Trong suốt thời kỳ cá bột còn quá nhỏ, cá đực lại đều đặn việc ngậm cá con
và phun chúng ra với những bọt mới. Như vậy, nó đảm bảo cho cá con có đủ lượng
Cá bống tượng đầu to, rộng, dẹp bằng. Mõm dài nhọn, hướng lên trên, giữa
mõm có một u nhô cao. Miệng trên rộng, hàm dưới dài hơn hàm trên và đưa ra phía
trước. Răng nhọn, gốc răng to, xếp thưa thành nhiều hàng trên mỗi hàm. Không có
râu.
19
Mắt tròn, nhỏ lệch về phía đầu. Lưỡi rất phát triển, dẹp bằng, đầu lưỡi tròn.
Lỗ mũi trước mở ra bằng một ống ngắn.
Thân cá mập, phần trước hơi dẹp bằng, phần sau hơi dẹp bên. Đuôi thon dài,
vẩy nhỏ phủ khắp thân và đầu từ mõm. Đầu và phần trước của thân phủ vẩy tròn,
phần sau phủ vẩy lươc.
Vây đuôi tròn, có màu hơi đỏ hoặc nâu vàng, có nhiều sọc đỏ và nâu hoặc
xám tạo thành vân.
Mặt lưng có ba đốm đen, một ở sau đầu, một ở gốc vi lưng thứ nhất và một ở
gốc vi lưng thứ hai. Mặt bên của thân có nhiều đốm đen to, những đốm này không có
hình dáng nhất đònh.
2.2.3 Phân bố
Trong tự nhiên, cá phân bố ở khắp loại hình thuỷ vực nước ngọt từ ao hồ,
ruộng, mương, kênh, rạch, sông… Theo Lê Như Xuân và Phạm Đinh Thành (1994), cá
bống tượng là loài cá đặc trưng cho vùng nhiệt đới.
Trên thế giới, bống tượng được bắt gặp ở Thái Lan, Mã Lai, Brunei,
Sumatra, Lào, Campuchia và Việt Nam.
Ở miền Nam Việt Nam, cá xuất hiện nhiều ở các sông rạch thuộc hệ thống
sông Cửu Long, Đồng Nai và sông Vàm Cỏ.
2.2.4 Đặc điểm sinh thái
Theo tác giả Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành (1994), cá bống tượng sống
ở đáy thuỷ vực, hoạt động về đêm. Ban ngày, nó thường vùi mình xuống bùn đáy và
có thể sống ở đó nhiều giờ. Trong ao, cá ưa ẩn nắp ven bờ, nơi có hang hốc, cỏ rong
và thực vật thuỷ sinh thượng đẳng.
Cá bống tượng là loài có cơ quan hô hấp phụ nên có thể sống được trong môi
trường nước thiếu oxy trong một khoảng thời gian nhất đònh.
cung cấp phải đảm bảo phù hợp với cỡ miệng của cá bống tượng. Và những loại thức
ăn mà người ta thường sử dụng như: luân trùng (Branchionus spp), lòng đỏ trứng gà,
bột đậu nành…
Sau 30 ngày tuổi, bống tượng có thể ăn nhiều loại thức ăn như: trùng chỉ
(Tubifex), ấu trùng muỗi lắc, cá, tép, nhuyễn thể xay nhuyễn…
Theo Cheng Phen, 1994 những phân tích thành phần thức ăn trong dạ dày ác
mẫu cá thu được ngoài tự nhiên cho thấy:
Loài thức ăn Số dạ dày có chứa thức ăn Tần số xuất hiện(%)
Tôm tép nhỏ 7 58.33
Cá nhỏ 4 33.33
Cua nhỏ 1 8.33
Kết quả khảo sát cho thấy cá bống tượng là loài cá có phổ thức ăn hẹp, đặc
biệt cá chỉ ăn mồi động vật. Điều này phù hợp với kết quả của Nguyễn Văn Thạnh
21
(1985). Theo Nguyễn Văn Thạnh (1985) thì tỷ lệ Li/Ls của cá bống tượng rất thấp
(Li/Ls = 0.04 - 0.06), cho thấy đây là loài cá ăn động vật điển hình.
2.2.6 Tăng trưởng và kích thước tối đa
Cá bống tượng là loài cá có tốc độ tăng trưởng chậm ở giai đoạn cá dưới
100g. Cá từ 100g trở lên tăng trưởng khá hơn.
Trong điều kiện nhiệt độ 26-30
0
C, trứng cá bống tượng nở sau 25 - 26 giờ.
Lúc này, cá có chiều dài từ 2,5 - 3mm.
Sau khi cá nở 1 ngày, chiều dài cá đạt 3,8mm. Cá chuyển động thẳng đứng
và từ từ buông mình chìm xuống đáy.
Cá nở sau 2 ngày, chiều dài đạt 3,8 - 4mm. Mắt có sắc tố đen. Vi ngực bắt
đầu xuất hiện. Cá vẫn còn vận động thẳng đứng.
Cá 3 ngày tuổi dài 4 - 4,2mm. Túi noãn hoàng đã tiêu biến.
Cá 12 ngày tuổi đã xuất hiện đầy đủ các vây.
Cá 18 ngày tuổi bắt đầu hình thành vảy và có hình dáng của cá trưởng thành.
Trứng bống tượng giống hình quả lê, có chiều dài từ 1,2 - 1,4mm.
Sau khi đẻ, cá bố mẹ bơi quanh tổ và dùng vây đuôi quạt nước để cung cấp
đủ lượng oxy cho trứng cá phát triển. Và công việc này được chúng thực hiện cho đến
khi toàn bộ trứng cá nở hết.
d Mùa vụ sinh sản
Mùa vụ đẻ ngoài tự nhiên kéo dài từ tháng 3 - 11. Cá có hệ số thành thục
thấp. Cá cái thành thục chỉ đạt 1,5 - 2%, nhưng vì trứng có kích cỡ nhỏ nên sức sinh
sản cao.
Nhiều tác giả nghiên cứu và thấy rằng khả năng sinh sản của mỗi cá thể là
khác nhau, dao động từ 2.000 – 30.000 trứng, với số lượng trứng trung bình của mỗi tổ
là 24.000 trứng/tổ. Và mỗi cá thể cái đẻ ít nhất ba lần trong một năm.
23
Thời gian tái phát dục của cá khoảng 30 ngày.
2.3 Tình hình sản xuất giống cá bống tượng
2.3.1 Trong nước
Qua nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước thì mùa vụ sinh sản của cá
bống tượng từ tháng 3 - 11. Tác giả Ngô Bá Thành và ctv (1988) đã kết luận cá đẻ tập
trung vào tháng 5 - 6.
Tan và Lam, 1973 (trích bởi Nguyễn Tuần, 1993), lần đầu tiên đã cho sinh
sản nhân tạo cá bống tượng thành công bằng cách tiêm chế phẩm HCG với phương
pháp thụ tinh ướt. Phương pháp này đã cho một kết quả hết sức khả quan. Tỷ lệ thụ
tinh và tỷ lệ nở rất cao (90%). Nhưng tất cả cá bột đã chết sau đó vài ngày.
Ở Việt Nam, từ những năm 1984-1985, các trường đại học, các trung tâm
nghiên cứu đã bắt đầu nghiên cứu đối tượng này. Khoa Thuỷ Sản Trường Đại Học
Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sinh
sản nhân tạo (Nguyễn Văn Thạnh, 1984, Ngô Bá Thành và ctv, 1988), ương nuôi cá
bột lên cá hương giống (Nguyễn Duy Hoà Và Huỳnh Thò Ngọc Anh, 1994), sản xuất
giống và gây nuôi thức ăn tự nhiên (Nguyễn Tuấn Dũng và Đỗ Khắc Xuân Diễm,
1995).
Nguyễn Tuần (1993), khoa Thuỷ Sản Trường Đại Học Cần Thơ cũng đã
trứng và ấu trùng của cá bống tượng ở những độ mặn khác nhau (0, 10, 20 ppt). Kết
quả cho thấy rằng tỷ lệ nở đạt cao nhất khi cá được nuôi trong môi trường nước ngọt.
Sau 23 ngày tuổi, tỷ lệ tử vong khá cao. Nhưng sau 60 ngày tuổi, ở độ mặn 10 ppt tỷ lệ
tăng trưởng và tỷ lệ sống đạt rất cao (96,88%) và cá dài 1,94 cm. Thức ăn được sử
dụng để ương cá bống tượng từ sau khi nở cho đến 30 ngày tuổi là Chlorella sp,
Rotifer, Artemia sp và cuối cùng là Moina sp.
Theo Nguyễn Tuần (1993), thì vào những năm cuối của thập niên 70, các
vùng Đông Nam đã bắt đầu nuôi và cho đẻ nhân tạo thành công như: Indonesia
(1978), Singapore (1980) và Thái Lan (1980)…
2.4 Thức ăn sử dụng trong quá trình ương cá bột lên cá hương
2.4.1 Thức ăn chế biến
Thức ăn chế biến hay còn gọi là thức ăn khô, thức ăn nhân tạo do con người
chế biến lại từ những dạng còn tươi sống rồi mới dùng làm thức ăn cho vật nuôi thuỷ
sản.
a Lòng đỏ trứng gà
Trứng là loại thực phẩm vừa có nhiều chất béo, nhiều chất đạm đồng thời
giàu vitamin và khoáng vi lượng. Trứng là món ăn tốt cho trẻ em đang tuổi mới lớn,
bệnh nhân đang phục hồi sức khoẻ. Và đã từ lâu, trứng là thức ăn phổ biến được dùng
để ương nuôi cá bột.
25