LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " THỬ NGHIỆM ƯƠNG NUÔI CÁ LÓC BÔNG (Channa micropeltes) TỪ BỘT LÊN HƯƠNG Ở CÁC MẬT ĐỘ KHÁC NHAU" - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
DƯƠNG THIÊN KIỀU THỬ NGHIỆM ƯƠNG NUÔI CÁ LÓC BÔNG
(Channa micropeltes) TỪ BỘT LÊN HƯƠNG
Ở CÁC MẬT ĐỘ KHÁC NHAU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 12
3.4.2 Phương pháp thu và phân tích mẫu 13
3.4.3 Các chỉ tiêu tính toán 14
3.4.4 Xử lý số liệu 15
Chương 4: Kết quả và thảo luận 16
4.1 Khảo sát một số yếu tố môi trường trong quá trình ương cá lóc bông 16
4.1.1 Biến động các yếu tố thủy lý trong quá trình ương cá lóc bông 16
4.1.2 Biến động các yếu tố thủy hóa trong quá trình ương cá lóc bông 17
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
iv

4.2 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của cá lóc bông 20
4.2.1 Đối với hình thức ương cá lóc bông trong bể 20
4.2.2 Đối với hình thức ương cá lóc bông trong giai 23
4.2.3 Sự phân hóa sinh trưởng cá lóc bông trong quá trình ương 27
4.3 Ảnh hưởng của mật độ đến tỉ lệ sống của cá lóc bông ở 2 thí nghiệm ương
trong bể và giai 28
Chương 5: Kết luận và đề xuất 30
Tài liệu tham khảo 31
Phụ lục 32
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
vi


tỉ lệ sống ở các nghiệm thức tương đương, trong đó với mật độ 1200 con/m
2

cho kết quả về tỉ lệ sống cao hơn 2 mật độ còn lại. Như vậy cá lóc bông có thể
được ương với 3 mật độ 600 con/m
2
, 900 con/m
2
, 1200 con/m
2
vẫn đảm bảo
tăng trưởng tốt và tỉ lệ sống tương đối, trong đó với mật độ ương 1200 con/m
2

là tối ưu nhất.
Ở thí nghiệm ương cá lóc bông trong giai đặt ngoài trời (9 giai, 1m
2
/giai) cũng
với mật độ ương và điều kiện chăn sóc như trên bể, ở 3 mật độ 600 con/m
2
,
900 con/m
2
và 1200 con/m
2
đều cho kết quả tương tự nhau về tốc độ tăng
trưởng, tỉ lệ sống với các giá trị tương ứng là (39,1%, 35,9% và 37,5%,).
Trong 2 thí nghiệm ương trong bể và ương trong giai thì ở thí nghiệm ương
trong bể cho tỉ lệ sống cao hơn ở thí nghiệm ương giai.


Các hình thức nuôi thủy sản như: nuôi bè, nuôi ao, nuôi đăng quần, nuôi kết
hợp,… đã góp phần cho người nuôi tăng thu nhập đáng kể. Trong đó phải kể
đến sự gia tăng nhanh chống cả về diện tích, mức độ thâm canh và sản lượng
cá da trơn mà chủ yếu là ở hình thức nuôi bè. Cá bè là nghề nuôi truyền thống
ở ĐBSCL, các đối tượng chính là cá tra, cá basa, cá he vàng, cá rô phi, cá lóc
bông, Đây là những loài dễ nuôi, có khả năng chịu đựng cao với điều kiện
môi trường bất lợi nên người dân có thể nuôi chúng với mật độ khá cao.
Cá lóc bông (Channa micropeltes Cuvier, 1831) là loài có giá trị kinh tế cao
được nuôi phổ biến ở một số tỉnh ĐBSCL. Giống cá lóc gồm nhiều loài như cá
lóc bông (Ophicephalus micropeltes), cá chành dục (O.gachua), cá dày
(O.lucius), cá lóc đen (O.striatus), phân bố rộng ở các nước Châu Á. Ở Việt
Nam cá lóc bông phân bố rất nhiều ở đầu nguồn sông Mekong, nơi giáp biên
giới nước bạn Campuchia và Vườn Quốc Gia Tràm Chim, huyện Tam Nông,
tỉnh Đồng Tháp (Dương Nhựt Long và ctv, 2004).
Kết quả khảo sát về tình hình và kinh nghiệm nuôi dân gian cá lóc bông trong
bè ở 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp năm 1996 của khoa Thủy Sản Đại Học
Cần Thơ (ĐHCT) cho thấy, ngoài tự nhiên trong quá trình phát triển cá lóc
bông thường ăn động vật tươi sống như cá tạp, tôm, cua,…Khi nuôi trong bè
cá vẫn có thể tồn tại và sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau như tấm, cám, cá
tạp,…(Nguyễn Đình Chiến, 1996).
Hiện nay thức ăn phổ biến dùng cho việc ương cá lóc bông bột vẫn là thức ăn
tươi sống mà chủ yếu là moina, trùn chỉ, thức ăn chế biến, cá tạp tươi sống
(cho ăn nguyên con hay xay nhỏ mịn, thô), tùy theo giai đoạn phát triển của cá
nuôi (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004).
Nguồn giống cá lóc bông hiện nay nuôi trong bè hoàn toàn dựa vào tự nhiện,
thường được mua ở Bác Đai (biên giới Việt Nam-Campuchia), Hồng Ngự-
Đồng Tháp, xã Vĩnh Hội Đông huyện An Phú-An Giang, nông trường Sông
Hậu-Cần Thơ (Nguyễn Đình Chiến, 1996). Do đó dẫn đến tình trạng kích cỡ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau

3

CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Hệ thống phân loại cá lóc bông
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) các loài cá lóc có đặc
điểm như sau: đầu giống đầu rắn, cơ thể hình trụ, thon dài, phần sau dẹp bên.
Góc vi lưng và vi hậu môn dài, cá có thể hô hấp khí trời bằng màng nhày
xoang miệng hầu. Các loài cá lóc ở Đồng Bằng Sông Cửu Long được Trương
Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương định danh có: cá lóc bông (Ophicephalus
micropeltes), cá chành dục (O.gachua), cá dày (O.lucius), cá lóc đen
(O.striatus).
Năm 1831 Cuvier and Valenciennes đã đặt tên cho cá lóc bông là
Ophicephalus micropeltes nhưng do có sự nhầm lẫn nên cũng trong năm này
Cuvier đã đổi lại tên là Channa micropeltes và tên này được sử dụng phổ biến
cho tới nay, cá lóc bông được xếp theo vị trí phân loại của Cuvier (1831) như
sau (Rebert, 1989 được trích bởi Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004):
Lớp Osteichthyes
Bộ Perciformes

Theo Dương Nhựt Long (2003) thì cá lóc bông là loài cá dữ điển hình, cá rất
thích các loại thức ăn là động vật tươi sống như cá, tép, ếch,…Giai đoạn mới
nở dinh dưỡng bằng noãn hoàng khoảng 3-4 ngày. Sau khi hết noãn hoàng, cá
bắt mồi là các loài động vật phù du (luân trùng, giáp xác chân chèo,…) vừa cở
miệng. Khi cá dài khoảng 3-8 cm đã có thể bắt các loài cá tép nhỏ, khi cơ thể
đạt chiều dài trên 10 cm cá có tập tính ăn như cá trưởng thành. Sau 1 tháng
tuổi cá đã có thể rượt bắt mồi nhỏ như tép và các loại cá con khác (Phạm Văn
Khánh, 2003).
Theo Nguyễn Minh Vương (2003) thì cá lóc bông trưởng thành là loài cá ăn
động vật và là loài cá dử. Phổ dinh dưỡng của loài cá này gồm có: cá con
(60,05%), mùn bã hữu cơ (33,53%), Phytoplankton (5,95%) và Zooplankton
(0,07%). Còn phổ dinh dưỡng của cá lóc bông con gồm có: Cladocera
(63,53%), Copepoda (23,56%), Nauplius (12,11%), Protatoria (0,78%),
Protozoa (0,02%) và tảo (0,01%) trong đó Cladocera là thức ăn quan trọng
nhất
Quan sát hình thái cấu tạo ống tiêu hóa cho thấy cá lóc bông là loài ăn động
vật kích thước lớn (Nguyễn Minh Vương, 2003) thể hiện thông qua các đặc
điểm sau:
- Miệng cá lóc bông cận trên, to, rạch miệng vượt qua đường thẳng kẻ từ bờ
sau mắt.
- Răng: cá có răng rất cứng chắc và sắc nhọn. Răng phân bố ở hai hàm, xương
lá mía, xương khẩu cái và hầu. Ở hàm dưới, xương lá mía và xương khẩu cái
có răng chó.
- Lưỡi khá phát triển và thon dài.
- Lược mang có dạng núm gai nằm trên xương cung mang hướng vào xoang
miệng hầu.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau

5

sang giai đoạn khác (Walford và Lam, 1993 được trích bởi Nguyễn Anh Tuấn
và ctv., 2004). Vì vậy, ở hầu hết các loài cá bột, khi bắt đầu ăn thức ăn ngoài,
chúng đòi hỏi có thời gian nhất định để phát triển khả năng thích nghi với thức
ăn bên ngoài.
Theo Lê Thị Ngọc Thanh (2000) khi ương cá lóc bông bằng cá loại thức ăn
như (trùn chỉ, cá tạp và thức ăn chế biến) thì cá tạp là loại thức ăn thích hợp
cho cá trong giai đoạn ương từ hương lên giống nhưng khi cho cá ăn hoàn toàn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau

6

trùn chỉ thì có tỷ lệ sống cao hơn cá tạp và thức ăn chế biến, còn cho ăn cá tạp
thì có tăng trọng bình quân theo ngày cao. Đối với ương cá rô đồng trong giai
đoạn cá hương thì mật độ và thức ăn cho hiệu quả là 500 con/m
2
và sử dụng
thức ăn chế biến (Hồ Mỹ Hạnh, 2000).
Cá lóc bông là loài trong quá trình sống đòi hỏi hàm lượng protein trong thức
ăn rất cao (Wee, 1980 được trích từ Lê Thị Ngọc Thanh, 2000). Trong quá
trình ương ở giai đoạn giống nhỏ (5,7 g/con), tăng trọng và tốc độ tăng trưởng
của cá thấp nhất ghi nhận được ở nghiệm thức 14 % protein (0,78 g/ngày và
0,52 %/ngày) và cao nhất ở nghiệm thức 54 % protein (2,39 g/ngày và 1,29
%/ngày). Đối với cá giống lớn (12,4 g/con), tăng trọng và tốc độ tăng trưởng
cao nhất thu được ở nghiệm thức thức ăn chứa 44 % protein (3,63 g/ngày và
0,94 %/ngày). Nhu cầu đạm (protein) đối với cá lóc bông giống nhỏ cho tăng
trưởng tốt nhất ở mức 50,8 % và hàm lượng dao động từ 30,7 - 36,8 % là giới
hạn thích hợp cho cá tăng trọng. Đối với cá giai đoạn giống lớn, hàm lượng
protein tốt nhất là 46,5 %. Hệ số tiêu tốn thức ăn cao nhất ở nghiệm thức 14 %
protein là 3,48 giai đoạn giống nhỏ và 1,44 ở giai đoạn giống lớn. Thức ăn

tuổi sau đó tốc độ tăng trưởng chậm lại và tốc độ tăng trưởng ở các mật độ 500
con/m
2
, 1000 con/m
2
, 1500 con/m
2
tương đương nhau. Tỷ lệ sống cá ương ở
mật độ 500 con/m
2
cao hơn tỷ lệ sống của 2 mật độ còn lại (Lê Thị Quyên,
2004). Còn đối với cá rô đồng ương trong bể ximăng với mật độ 300 con/m
2

cho tỷ lệ sống (69%) và tốc độ tăng trưởng (24,5%/ngày) cao hơn mật độ 600
con/m
2
(tỉ lệ sống 42% và tốc độ tăng trưởng 23,3%/ngày) và 900 con/m
2
(tỉ
lệ sống 20% và tốc độ tăng trưởng 25,4%/ngày) (Trần Thị Trang, 2001).
Theo Nguyễn Phúc Cường (2001) khi ương cá hú giai đoạn 3-45 ngày tuổi ở 3
mật độ (7 con/lít, 9 con/lít và 11 con/lít trong bể có thể tích 50 lít) có tốc độ
tăng trưởng theo ngày lần lượt là 0,0157 g/ngày, 0,0163 g/ngày, 0,0143
g/ngày, tốc độ tăng trưởng đặc biệt 14,064 %/ngày, 14,114 %/ngày, 13,84
%/ngày và tỉ lệ sống 42%, 39%, 37%. Nhưng sự khác biệt giữa các mật độ này
đều không có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Theo Nguyễn Minh Vương (2003) khi kích thước L < 20 cm tương đương với
khối lượng P < 150 g cá lóc bông tăng trưởng nhanh về chiều dài. Còn khi đạt
kích thước L > 35 cm tương đương với khối lượng P >900 g cá lóc bông tuy

0
C thuộc vùng căng thẳng sinh lý của cá và
nhiệt độ từ 14-16
0
C là ngưỡng nhiệt độ thấp của các giai đoạn cá (điểm cực
hại thấp) (Huỳnh Hiếu Lộc, 2003). Theo Dương Nhựt Long và ctv. (2004)
nhiệt độ thích hợp cho cá lóc bông sống và phát triển dao động từ 19-40
0
C.
2.6.2 Ngưỡng Oxy là lượng oxy hòa tan trong nước có giá trị thấp nhất hay
cao nhất (tại điểm cực hại thấp hay cực hại cao) làm cho cá chết ngạt. Đơn vị
tính là mg/l hay ml/l.
Ngưỡng oxy của cá lóc bông ở các giai đoạn là khác nhau. Cá ở giai đoạn nhỏ
có ngưỡng oxy cao hơn cá ở giai đoạn lớn, Ngưỡng oxy của cá 13 ngày tuổi là
2,29 mg/l, cá hương là 0,27 mg/l, cá giống nhỏ 0,13 mg/l và giống lớn 0,11
mg/l. Cá lóc bông là loài có cơ quan hô hấp phụ, cấu tạo cơ quan hô hấp phụ
của cá lóc bông không có dạng mê lộ (ở cung mang thứ nhất, Jayaram, 1981
được trích từ Trần Thị Mỹ Phương, 2004) như cá rô hay dạng các túi xếp như
cá trê mà là những đôi xếp trong vùng hầu được sử dụng làm cơ quan hô hấp
phụ. Khi ở trên cạn 30-170 phút cá sẽ bị chết Lai, (1985) được trích từ Huỳnh
Hiếu Lộc (2003) nhưng ở trong môi trường nước cá sống được trong điều kiện
oxy hòa tan thấp và nhờ vào điều kiện này cá được nuôi trong ao, bè ở mật độ
cao.
2.6.3 Ngưỡng pH là giá trị pH thấp nhất hoặc cao nhất gây cho cá chết.
pH thích hợp cho tất cả các động vật đều gần bằng 7. Theo Swingle (1969)
được trích bởi Trương Quốc Phú (2000) thì pH = 6,5-9 là thích hợp cho các
loài tôm cá nuôi.
Theo Dương Nhựt Long và ctv. (2004) giá trị pH từ 4-10 cho thấy cá lóc bông
vẫn sống và hoạt động bình thường
2.7 Tình hình nuôi cá lóc bông ở Việt Nam và trên thới giới

nuôi cá Lóc Bông bè phát triển mạnh nhất và nuôi với nhiều mật độ, thể tích
khác nhau. Ở mật độ 230-300con/m
2
năng xuất đạt 156,5 kg/m
3
(Huỳnh Hiếu
Lộc, 2003).
Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) hiện nay những cơ sở ương nuôi cá giống ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long ương với các mật độ như sau: Mè vinh, cá he:
400-500 con/m
2
, cá chép: 150-200 con/m
2
, cá trôi Ấn Độ: 200-250 con/m
2
, cá
trê: 300-400 con/m
2
, cá tra: 800-1000 con/m
2
, cá rô: 300-400 con/m
2
, cá tai
tượng: 200-250 con/m
2
.


2
(9 giai)
Máy đo oxy, pH, nhiệt độ, hệ thống sục khí, cân điện tử, thước, vợt vớt cá,
kính lúp, hóa chất và một số vật dụng khác.
Thức ăn cho cá gồm moina, trùn chỉ và thức ăn chế biến. Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau

11
Bảng 3.1 Công thức thức ăn chế biến
Nguyên liệu Thành phần

Cá biển (lấy phần thịt) 200 g

Sữa không béo 100 g

Lòng đỏ trứng gà 10 cái

Dầu gan mực 3 %

Vitanim 1 – 2%

Bảng 3.2: Thành phần dinh dưỡng thức ăn chế biến
Thành phần dinh dưỡng (%) vật chất khô Thức ăn chế biến

Protein 44,2

Lipit 21,5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau

12

Hình 3.2: Hệ thống bể xi măng dùng trong thí nghiệm
Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá lóc
bông ương trong giai
Thí nghiệm được tiến hành trong giai có diện tích 1m
2
đặt trong ao đất. Thời
gian thí nghiệm 30 ngày. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu
nhiên với 3 nghiệm thức và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần như sau:
• Nghiệm thức I với mật độ là 600 con/m
2

• Nghiệm thức II với mật độ là 900 con/m
2

• Nghiệm thức III với mật độ là 1200 con/m
2

Chăm sóc và quản lý: Thí nghiệm được bố trí trong giai có sục khí với mực
nước khoảng 60-80 cm, giai được đặt trong ao đất. Giai được may 2 lớp, lớp
ngoài bằng lưới cước với kích thước mắt lưới 1mm, lớp trong bằng vải. Khi cá
chuyển sang giai đoạn ăn trùn chỉ thì cắt bỏ lớp vải phía trong. Hàng ngày cho
ăn và theo dõi cũng tương tự như bố trí trong bể xi măng.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau

L(cm) =
Số cá đem đo
Khối lượng trung bình
Khối lượng cá cân được
P(g) =
Số cá đem cân
Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (Specific growth rate, SGR) về khối lượng
(%/ngày) và chiều dài (%/ngày)
Ln P
2
(hayL
2
)–Ln P
1
(hayL
1
)
SGR(%/ngày) = *100
t
2
-t
1

Trong đó: P
1
, P
2
: Khối lượng trung bình tại t
1
, t

2
-t
1

3.4.4 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo chương trình excell version 5.0 và statistica. So sánh
trung bình giữa các nghiệm thức dựa vào ANOVA version 3.0 và phép thử
DUCAN ở mức ý nghĩa p<0,05.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau

15
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Khảo sát một số yếu tố môi trường trong quá trình ương cá lóc bông.
4.1.1 Biến động các yếu tố thủy lý trong quá trình ương cá lóc bông
Kết quả theo dõi các chỉ tiêu thủy lý trong quá trình ương cá lóc bông được
trình bày ở Bảng 4.1
Bảng 4.1: Kết quả theo dõi các yếu tố thủy lý
Nghiệm thức Nhiệt độ (
0
C)

pH

I 29,1±1,1

(28,1 – 30,2)

7,69±0,32

II 31,5±1,4

(30,2 – 32,8)

8,42±0,97

(7,48 – 9,36)
Giai
III 31,6±1,5

(30,2 – 32,9)

8,39±0,99

(7,43 – 9,36)

Ghi chú: Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn
Giá trị thể hiện giữa dấu (-) là 2 giá trị sáng và chiều
Nhiệt độ
Qua kết quả trình bày ở Bảng 4.1 cho thấy nhiệt độ nước giữa các nghiệm thức
của 2 hình thức ương trong bể và ương trong giai dao động không đáng kể
(bể dao động 29,1-29,2
0
C và giai từ 31,5-31,6
0
C). Nhiệt độ sáng, chiều của
mỗi thí nghiệm chênh lệch không cao (trong bể 28,1-30,2

0
C và theo Dương Nhựt Long
và ctv. (2004) nhiệt độ thích hợp cho cá lóc bông sống và phát triển dao động
từ 19-40
o
C. Như vậy, nhiệt độ của thí nghiệm nằm trong khoảng thích hợp cho
sự phát triển của cá.
pH
Qua Bảng 4.1 cho thấy pH giữa các nghiệm thức của 2 hình thức ương trong
bể và ương trong giai biến động không nhiều (các nghiệm thức trong bể dao
động từ 7,60-7,72, các nghiệm thức ương trong giai là 8,37-4,42). pH giữa
sáng và chiều của thí nghiệm ương trong bể thì chênh lệch không cao (sáng từ
7,64-7,74 và chiều từ 7,57-7,71) do các bể bố trí trong nhà ánh sáng mặt trời
không chiếu trực tiếp vào. Ngược lại, pH giữa sáng và chiều ở thí nghiệm
ương trong giai thì có sự chênh lệch khá lớn (sáng từ 7,43-7,48 và chiều từ
9,35-9,36) do giai đặt ngoài trời ánh sáng chiếu trực tiếp vào môi trường nước
tảo phát triển nhiều, quang hợp mạnh làm giảm hàm lượng CO
2
trong nước
dẫn đến pH tăng cao vào buổi chiều.
pH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn trực tiếp hoặc
gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật như sinh trưởng, tỷ lệ sống, dinh
dưỡng,… pH thích hợp cho tất cả các động vật đều gần bằng 7. Theo Swingle
(1969) được trích bởi Trương Quốc Phú (2000) thì pH = 6,5-9 là thích hợp cho
các loài tôm cá nuôi.
Theo Trương Quốc Phú (2000), thực vật phù du phát triển mạnh vào sáng sớm
pH nước khoảng 6,5, sau buổi trưa khi quá trình quang hợp xảy ra mạnh pH
nước có thể lên đến 9-10. Còn theo Dương Nhựt Long và ctv (2004) ngưỡng
pH cho cá lóc bông dao động lớn, ngưỡng pH trên của cá lóc bông là 11,33-
11,67 và ngưỡng pH dưới là 1,95-2,1. Giá trị pH từ 4-10 cho thấy cá vẫn sống


II 4,82±0,44

(4,72 – 4,93)

10,9±2,1

0,039±0,044
Bể
III 5,06±0,55

(4,97 – 5,15)

10,8±2,8

0,037±0,041

I 7,03±3,53

(3,55 – 10,5)

18,9±2,0

0,038±0,021

II 7,07±3,47


trời, ánh sáng chiếu trực tiếp vào làm tảo phát triển nhiều và quang hợp mạnh
thải ra nhiều khí oxy. Hàm lượng oxy giữa sáng, chiều ở hình thức ương trong
bể dao động không cao sáng từ 4,72-4,97 mg/l và chiều từ 4,93-5,15 mg/l, mặt
khác hệ thống thí nghiệm có lắp sục khí nên hàm lượng oxy tương đối ổn định.
Còn hàm lượng oxy ở thí nghiệm ương trong giai có sự khác biệt rất lớn giữa
sáng và chiều (sáng 3,55-3,61 mg/l và chiều từ 10,4-10,5 mg/l), oxy buổi
chiều trong giai cao là do oxy có được từ quá trình quang hợp của thực vật
thủy sinh (do giai được bố trí ngoài trời nên ánh sáng chiếu trực tiếp vào nước
làm cho tảo quang hợp mạnh), từ máy thổi khí và từ không khí khuếch tán
vào.
Theo Swingle (1969) được trích bởi Trương Quốc Phú (2000) thì nồng độ oxy
hòa tan trong nước lý tưởng cho tôm, cá là > 5 mg/l, với nồng độ 1-5 mg/l cá
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau

18
sống được nhưng phát triển chậm. Tuy nhiên, mỗi loài có một ngưỡng oxy
khác nhau, cá lóc là một loài cá chịu được điều kiện khắc nghiệt của môi
trường và có cơ quan hô hấp phụ nên có thể sống và tăng trưởng tốt trong môi
trường có hàm lượng oxy hòa tan thấp. Theo Dương Nhựt Long và ctv (2004)
ngưỡng oxy của cá 3 ngày tuổi là 0,46 mg/l, cá 13 ngày tuổi là 0,30 mg/l, cá
hương là 0,13 mg/l. Vì vậy hàm lượng oxy ở 2 thí nghiệm trên là phù hợp cho
cá phát triển.
COD
Qua Bảng 4.2 cho thấy COD giữa các nghiệm thức của hình thức ương trong
bể có sự chênh lệch không cao (dao động từ 10,7-10,9 mg/l) và COD giữa các
nghiệm thức ở hình thức ương trong giai cũng biến động không nhiều (dao
động từ 18,8-19,6 mg/l). COD ở hình thức ương trong giai cao hơn ở hình
thức ương trong bể (dao động từ 10,9-19,6 mg/l) do trong ao COD có được
ngoài chất thải của cá và thức ăn thừa như trong bể thì COD có được còn do

độc và nồng độ N_NH
3
gây độc đối với cá là 0,6-2,0 mg/l (Downing và
Markins, 1975) được trích bởi Trương Quốc Phú (2000). Độ độc của N_NH
3

sẽ tăng khi hàm lượng oxy hòa tan thấp và pH cao. Theo Colt và Armstrong
(1979) được trích bởi Trương Quốc Phú (2000) tác dụng độc hại của NH
3
đối
với cá khi NH
3
trong nước cao, NH
3
khó được bài tiết từ máu cá ra môi trường
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau

19
ngoài,… dẫn đến cá chết vì không điều khiển được quá trình trao đổi muối
giữa cơ thể và môi trường ngoài
Nồng độ NH
3
được coi là an toàn cho ao nuôi là 0,13 mg/l (Trương Quốc
Phú, 2000). Bên cạnh NH
3
cao có tác dụng độc đối với cá thì NH
3
thấp cũng
gây ảnh hưởng xấu đến cá. Theo Smith và Piper (1975) được trích từ Trương

NT II

NT III

P
đầu
P (g) 0,008±0,001

0,008±0,001

0,008±0,001

P
10
(g) 0,10±0,01

0,09±0,01

0,09±0,00

DWG (g/ngày) 0,01±0,00

0,01±0,00

0,01±0,00

Đợt 1
SGR (%/ngày) 25,1±0,9

24,1±1,5

a

1,50±0,12
a

DWG (g/ngày) 0,13±0,02

0,13±0,00

0,12±0,01

Đợt 3
SGR (%/ngày) 14,5±1,2

15,0±0,3

14,9±1,1

Ghi chú: Các giá trị trên cùng một hàng có các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa
thông kê ở mức (p<0,05).
Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn
Từ Bảng 4.3 cho thấy tăng trưởng về khối lượng của cá lóc bông sau 30 ngày
ương trong bể ở 3 mật độ 600 con/m
2
, 900 con/m
2
và 1200 con/m
2
cao nhất ở
mật độ 600 con/m


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status