Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Thu hút và sử dụng ODA trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng GTVT ở Việt Nam” - Pdf 90

…………..o0o…………..

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
vận tải Việt Nam

Sinh viên: Nguyễn Thái Vũ
Lớp: A1 – CN8
Thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vân tải Việt Nam
Nguyễn Thái Vũ A1 – CN8

1

Thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vân tải Việt Nam
Nguyễn Thái Vũ A1 – CN8

2
Khoá luận sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, so sánh, tổng hợp và phân
tích, kết hợp với những kết quả thống kê thu được từ thực tiễn, vận dụng lý luận để
làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
Như vậy, bố cục khoá luận gồm 3 chương:
Chương I : Tổng quan về ODA
Chương II : Thực trạng thu hút và sử dụng ODA trong lĩnh vực phát triển cơ
sở
hạ tầng GTVT ở Việt Nam những năm gần đây.
Chương III : Giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả sử dụng ODA trong phát
triển cơ sở hạ tầng GTVT ở Việt Nam
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ODA

hơn 180 tỷ USD và là nước tài trợ lớn nhất thời kỳ đ
ó. Ngoài ra còn có các nước
viện trợ lớn khác như Pháp, Na Uy, Thuỵ Điển,… Liên Xô cũ, Trung Quốc và các
nước Đông Âu cũng cung cấp các khoản viện trợ tới các nước XHCN kém phát
triển và một phần tới Trung Đông. Tổng viện trợ từ các nước XHCN từ năm 1947
tới năm 1980 là 24 tỷ USD.
Thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vân tải Việt Nam
Nguyễn Thái Vũ A1 – CN8

4
Năm 1970, để việc hỗ trợ các nước đang phát triển được tiến hành một cách
đồng bộ và hiệu quả, đồng thời mang tính bắt buộc đối với các nước phát triển, lần
đầu tiên Đại hội đồng Liên hợp quốc đã chính thức thông qua Nghị quyết trong đó
quy định chỉ tiêu ODA bằng 0,7% GNP của các nước phát triển. Theo quyết định
này, các nước phát triển sẽ phấn đấu
đạt chỉ tiêu trên vào năm 1985 hoặc muộn
nhất vào cuối thập kỷ 80, và đạt 1% GNP vào năm 2000. Tuy nhiên, trên thực tế
việc thực hiện nghĩa vụ này của các nước là rất khác nhau. Số liệu năm 1990 cho
thấy một số nước thực hiện bằng hoặc vượt mức quy định này như Đan Mạch
(0,96%), Thuỵ Điển (0,92%), Hà Lan (0,88% GNP) trong khi một số nước giàu
như Mỹ chỉ trích có 0,17% GNP, Nhật B
ản là 0,33% GNP,...
(1)
Những năm gần đây, không chỉ có các nước công nghiệp phát triển mà còn có
một số nước đang phát triển cũng bắt đầu cung cấp ODA như Ả Rập Xê út, Ấn Độ,
Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan,...
Nhìn chung, ODA đã giúp nhiều nước kém phát triển có được những bước tiến
rõ rệt và vững chắc. Điển hình là Nhật Bản, sau Đại chiến thế giới lần thứ II, nền
kinh tế
Nhật Bản kiệt quệ vì chiến tranh, nhưng cho đến nay Nhật Bản đã trở thành

các khoản tài trợ có hoàn lại (cho vay dài hạn với một số thời gian ân hạn và
lãi suất thấp) của chính phủ, các hệ thống của tổ chức Liên hợp quốc, các tổ
chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế (như Ngân hàng thế giới -
WB, Ngân hàng phát triển Châu Á - ADB, Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF...)
dành cho chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ.
1.2.2 Đặc điểm của ODA:
Tuy nhiên dù hiểu theo bất cứ định nghĩa nào, ODA cũng có những đặc điểm
chung sau:
+ Là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài, các nhà tài trợ không trực tiếp
điều hành dự án, nhưng có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ
trợ chuyên gia. Tuy nước chủ nhà có quyền quản lý sử dụng vốn ODA, nhưng
thông thường danh mục dự án ODA phải có sự thoả thuận với các nhà tài tr
ợ.
Thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vân tải Việt Nam
Nguyễn Thái Vũ A1 – CN8

6
+ Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưu
đãi. Tuy vậy, nếu quản lí, sử dụng vốn ODA không hiệu quả vẫn có nguy cơ để lại
gánh nặng nợ nần trong tương lai.
+ Các nước nhận vốn ODA phải hội đủ một số điều kiện nhất định mới được
nhận tài trợ. Điều kiện này tuỳ
thuộc từng nhà tài trợ.
+ Chủ yếu dành hỗ trợ cho các dự án đầu tư và cơ sở hạ tầng như GTVT,
giáo dục y tế...
+ Các nhà tài trợ là các tổ chức viện trợ đa phương (gồm các tổ chức thuộc
Tổ chức Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu, các tổ chức phi chính phủ IMF, WB,
ADB) và các tổ chức viện trợ song phương như các nước thuộc Tổ chức hợp tác và
phát triển kinh t
ế OECD, các nước đang phát triển như Ả Rập xê-út, Tiểu vương

1.3 Phân loại ODA
1.3.1 Phân loại ODA theo nguồn cung cấp và nơi tiếp nhận
a. Phân loại theo nguồn cung cấp
Nếu phân loại theo nguồn cung cấp, ODA có thể chia làm 2 loại:
+ ODA song phương: là viện trợ phát triển chính thức của chính phủ nước này
dành cho chính phủ nước kia. Hi
ện nay, trong số các nước cung cấp ODA song
phương, Nhật Bản và Mỹ là những nước dẫn đầu thế giới.
+ ODA đa phương: là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc tế
(như Ngân hàng phát triển Châu Á, Liên minh Châu Âu,...) hoặc của chính phủ
một nước dành cho chính phủ một nước khác nhưng được thực hiện thông qua
các tổ chức phương như Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) hay
Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF),...
b. Phân loại theo nước tiếp nhận
Nếu phân loại theo nước tiếp nhận ODA, có thể chia ODA làm hai loại:
+ ODA thông thường: là hỗ trợ cho nước có thu nhập bình quân đầu người thấp.
+ ODA đặc biệt: là hỗ trợ cho các nước đang phát triển với thời hạn cho vay
ngắn, lãi suất cao hơn so với ODA thông thường.
1.3.2 Phân loại ODA theo tính chất
Thông thường ODA gồm hai phần: phần không hoàn lạ
i và phần hoàn lại với
điều kiện ưu đãi (lãi suất thấp, thời gian ân hạn dài,...) Phần không hoàn lại lớn hay
Thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vân tải Việt Nam
Nguyễn Thái Vũ A1 – CN8

8
nhỏ tuỳ thuộc vào khả năng tài chính và hảo tâm của chủ tài trợ, thông thường
chiếm khoảng 15% tổng số ODA. Phần hoàn lại với điều kiện ưu đãi chiếm phần
lớn ODA. Như vậy, nếu phân loại theo tính chất, ODA có thể chia thành hai loại
chính: Viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại. Ngoài ra, còn có một phần


9
- Lãi suất thấp: lãi suất áp dụng cho các khoản vay tín dụng ưu đãi của WB là
0,75%/năm, của ADB là 1%/năm, của Nhật Bản dao động trong khoảng 0,75-
2,3%/năm,...
- Thời hạn vay dài hạn: Nhật cho Việt Nam vay trong 30 năm, Ngân hàng thế
giới cho Việt Nam vay trong 40 năm,...
- Thời gian ân hạn (thời gian từ khi vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên) dài: ADB,
Nhật Bản cho Việt Nam thời gian ân hạn 10 năm,...
Chính vì những tính chất ư
u đãi này nên ở các nước, ODA dưới dạng các khoản
vay ưu đãi thường được sử dụng để đầu tư vào các dự án phát triển kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đời sống.
1.3.3 Phân loại ODA theo điều kiện
ODA có hai loại: không điều kiện và có điều kiện. Trên thực tế, chỉ có Thu

Điển là nước duy nhất cấp ODA không điều kiện. Còn lại các nước viện trợ khi cấp
ODA thường gắn với những điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị,… Ngoài ra, còn
có loại ODA ràng buộc một phần, tức là một phần ở cấp viện trợ, phần còn lại có
thể chi tiêu ở các cấp khác tuỳ theo nước nhận tài trợ.
a. ODA không ràng buộc
ODA không ràng bu
ộc nghĩa là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc
bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng mà có thể chi tiêu ở bất kỳ lĩnh vực nào
hay khu vực nào.
b. ODA có ràng buộc
ODA có ràng buộc nghĩa là bắt buộc phải chi tiêu ở cấp, ở lĩnh vực viện trợ.
Nước nhận ODA có thể bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hoặc m
ục đích sử dụng.
ODA bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng: nghĩa là việc mua sắm hàng hoá hay

Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính thức, có thể liên
quan đến hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, và thông thường các dự án phải được
chuẩn bị rất kỹ lưỡng trước khi thực hiện.
Hỗ trợ cơ bản: chủ yếu là các dự án về xây dựng (đường xá, cầu cống, đê đậ
p,
điện năng, viễn thông, trường học, bệnh viện,...). Thông thường các dự án này có
Thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vân tải Việt Nam
Nguyễn Thái Vũ A1 – CN8

11
kèm theo một bộ phận của viện trợ kỹ thuật dưới dạng thuê chuyên gia nước ngoài
để kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó của dự án hoặc để soạn thảo xác
nhận các báo cáo cho đối tác viện trợ.
Hỗ trợ kỹ thuật: chủ yếu là các dự án tập trung vào chuyển giao tri thức (know-
how) hoặc tăng cường cơ sở lập kế hoạch, c
ố vấn, nghiên cứu tình hình cơ bản
trước khi đầu tư.
1.4 Nguồn và đối tượng của ODA
1.4.1 Nguồn cung cấp ODA
Như đã đề cập trong định nghĩa về ODA, nguồn cung cấp ODA có thể đến từ
các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ. Như vậy, hiện
nay, nguồn viện trợ ODA đối với các nước đang phát triển gồm các loại sau:
+ Chính phủ n
ước ngoài và các cơ quan đại diện cho hợp tác phát triển của
chính phủ nước ngoài ví dụ như: Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản - JICA, Ngân
hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản - JBIC, Cơ quan phát triển quốc tế Australia -
AUSAID, Hội đồng viện trợ hải ngoại Australia ACFOA; Cơ quan viện trợ chính
thức Nauy - NORAD,...
+ Các tổ chức phát triển Liên hiệp quốc (LHQ), bao gồm: Chương trình Phát
triển Liên hiệp quốc (UNDP), Quỹ Nhi đồ

USD/người, năm. Điều kiện về thu nhập luôn luôn được nhắc đến trong việc cấp
ODA nhưng đó chỉ là điều kiện cần chứ không h
ẳn là điều kiện đủ để một quốc gia
trở thành nước được nhận viện trợ. Do vậy, năng lực của bộ máy lãnh đạo của một
quốc gia cũng chính là điều kiện quyết định khả năng thu hút ODA của quốc gia đó
vì đôi khi việc tăng hoặc giảm quyết định viện trợ cũng do các lý do chính trị chứ
không phải lý do viện trợ
kinh tế theo đúng nghĩa của nó.
Sau khi đã ký các cam kết viện trợ, để được tiếp nhận nguồn viện trợ ODA, các
nước phát triển phải tuân theo các điều kiện của nguồn hỗ trợ và từng dự án,
chương trình.
Một yêu cầu nữa đối với nước nhận viện trợ là uy tín của nước đó và những
tiến bộ đạt được thông qua quá trình sử dụng vố
n viện trợ của các nước này. Đây là
Thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vân tải Việt Nam
Nguyễn Thái Vũ A1 – CN8

13
tiền đề quan trọng tạo thuận lợi cho nước tiếp nhận ODA có được sự tin tưởng từ
phía các nhà tài trợ qua đó tiếp tục và nhận được nhiều sự ủng hộ hơn nữa.
Ngoài những yêu cầu được đặt ra ở trên, nước nhận viện trợ, thường là những
nước đang phát triển còn gặp một khó khăn không nhỏ đó là nguồn vốn đối ứ
ng
theo yêu cầu của từng dự án, từng giai đoạn của dự án. Khi các nước đó gặp phải
khó khăn về kinh tế hoặc do sự yếu kém của các cơ quan thi hành, việc không đáp
ứng đủ nguồn vốn đối ứng sẽ làm chậm tiến độ giải ngân, làm chậm thời gian đưa
công trình vào sử dụng, tăng chi phí thực hiện dự án và làm giảm sút uy tín đối với
nhà tài trợ.
2. Vai trò củ
a ODA đối với các quốc gia trên thế giới

nước nghèo với thu nhập dưới mức 1 USD/ngày (theo thời giá 1985), tỷ lệ tử vong
sơ sinh năm 1967 là 0,84%. Tuy nhiên nước này đã có những biến đổi mạnh mẽ,
nhất là những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90. Những thành tựu này được
đánh giá là có vai trò quan trọng của vi
ện trợ ODA.
ODA giúp đầu tư vào con người mà vấn đề quan trọng nhất là các dự án liên
quan đến phổ cập giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Vấn đề này càng trở
nên cấp thiết vì theo thống kê gần đây của WB trong số gần 5 tỷ người sống ở các
nước đang phát triển là thành viên của WB thì có:
 3 tỷ người sống dưới mức 2 USD/ngày và khoảng 1,3 tỷ người sống d
ưới
mức 1 USD/ngày.
 Mỗi ngày có 40.000 người chết do các bệnh liên quan đến hô hấp.
 130 triệu trẻ em trong độ tuổi không có cơ hội đến trường.
 1,3 tỷ người không có cơ hội tiếp cận với nguồn nước sạch.
ODA cũng có vai trò đối với công cuộc cải tổ kinh tế của chính phủ các nước
đang phát triển qua các dự án, chương trình hỗ trợ năng lực, cải t
ổ cơ cấu các tổ
chức, các cơ quan chức năng của chính phủ.
Hơn nữa việc sử dụng ODA còn mang lại nhiều thuận lợi khác cho các quốc gia
đang phát triển trong công cuộc cải cách kinh tế nhờ những ưu điểm sau:
 Vốn ODA sẽ giúp nước nhận tài trợ có cơ hội ứng dụng các thành tựu khoa học
kỹ thuật và công nghệ trên thế giới. Tuy các nước công nghiệ
p phát triển không
Thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vân tải Việt Nam
Nguyễn Thái Vũ A1 – CN8

15
muốn chuyển giao công nghệ cao cho các nước nhận viện trợ nhưng những công
nghệ được chuyển giao cũng tương đối hiện đại so với trình độ của các nước


16
nhiều vào viện trợ tài chính của nước ngoài, đặc biệt là các khoản vay nợ, hiện vẫn
đang nằm trong danh sách những nước mất cân đối và lệ thuộc vào nước ngoài.
Trong xu hướng phát triển hiện nay, toàn cầu hoá là một xu hướng không thể
tránh khỏi, các nước phát triển hay các nước đang phát triển cũng đều muốn thúc
đẩy quá trình này vì về bản chất nó đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia. Nếu xem
xét mộ
t cách cụ thể, các nước đang phát triển đều phải trả giá cho tiến trình hội
nhập vì đều phải chấp nhận các điều kiện để được nhận viện trợ. Các điều kiện này
đôi khi không thể thực hiện được hoặc nếu thực hiện được thì hậu quả về mặt xã
hội mà nó gây ra còn to lớn hơn lợi ích mà nó mang lại. Có các yêu sách để viện trợ
đi ng
ược lại với lợi ích quốc gia hoặc không phù hợp với đường lối phát triển kinh
tế của quốc gia đó. Chính điều này đã khiến chính phủ nhiều nước từ chối các
khoản viện trợ do sức ép từ bên trong.
Với các lý do nêu trên, các nước đang phát triển luôn phải cân nhắc để vừa có
thể tận dụng tối đa các nguồn viện trợ lại không bị rơi vào nguy cơ
lệ thuộc. Các
nước đang phát triển phải luôn có chính sách mềm dẻo và linh hoạt để tranh thủ tối
đa các nguồn viện trợ không hoàn lại đồng thời sử dụng có hiệu quả nhất các khoản
vay.
Các nước đang phát triển cần chọn lọc đúng các dự án có hiệu quả kinh tế, đảm
bảo hoàn vốn để có thể xây dựng lộ trình trả nợ hợp lý. Đồng thời
đẩy mạnh các
hình thức đầu tư khác nhằm phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu thu ngoại
tệ để trả nợ vì đôi khi lãi suất vay thấp không đủ để bù lại những thiệt hại do sự
thay đổi tỷ giá.
2.2 Vai trò của ODA đối với việc mở rộng thị trường của các nước cung cấp
Xu thế đầu tư quốc tế trong những năm cuối của th

trong tổng trị giá dự án... Ví dụ như Nhật bản, một đối tác song phương lớn nhất
thế giới về ODA, thì 1/2 kim ngạch ngoại thương năm 1997 là buôn bán với các
nước đang phát triển là những nước nhận ODA từ Nhật bả
n. Viện trợ ODA chính là
sự mở đường cho các loại hình đầu tư trực tiếp khác.
Thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vân tải Việt Nam
Nguyễn Thái Vũ A1 – CN8

18
3. Vai trò của ODA đối với phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam
Từ sau năm 1990, kinh tế xã hội nước ta bắt đầu thay đổi, công cuộc xây dựng
phát triển kinh tế của chúng ta có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp phải không ít khó
khăn.
Trong bối cảnh như vậy, chúng ta đã biết phát huy những thành tựu đã đạt được,
vượt qua những khó khăn và đã thu được thắng lợ
i trên tất cả các lĩnh vực. Những
sự kiện nổi bật của quan hệ đối ngoại có ý nghĩa quan trọng đối với hợp tác phát
triển trong thời gian này là:
- Tháng 10 năm 1993, Việt Nam nối lại quan hệ với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF),
Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB).
- Tháng 11 năm 1993, Hội nghị lần thứ nhất các nhà tài trợ cho Việt Nam họp tại
Pari mở ra giai
đoạn hợp tác phát triển giữa nước ta với cộng đồng các nhà tài
trợ. Từ đó đến nay đã có 6 Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt
Nam được tổ chức.
- Tháng 12 năm 1993, Hội nghị các nước thành viên Câu lạc bộ Pari ra khuyến
nghị xoá và giảm nợ cho Việt Nam.
- Ngày 3 tháng 2 năm 1994, Mỹ xoá bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam. Tháng 8
năm 1994, Thượ
ng nghị viện Mỹ bãi bỏ lệnh cấm viện trợ cho Việt Nam áp

Thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vân tải Việt Nam
Nguyễn Thái Vũ A1 – CN8

20
Biểu đồ 1: ODA cam kết và ODA giải ngân giai đoạn 1993 đến 2002

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu Tư)
(3)
Kể từ khi nguồn ODA được chính thức viện trợ trở lại cho Việt Nam trong
những năm gần đây, ODA cam kết tuy có giảm trong hai năm 1997 và 1998 do ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực nhưng đã tăng lại từ năm 1999 đến
nay. Nhìn chung nguồn ODA dành cho Việt Nam có xu hướng tăng, đặc biệt là
nguồn ODA đã giải ngân, đây là dấu hiệu đáng mừng trong khi ODA đang có xu
thế giả
m ở các nước và các khu vực khác.
Qua biểu đồ trên ta thấy rõ sự tăng đều đặn qua các năm của ODA đã giải ngân.
Điều này chứng tỏ năng lực của các cơ quan chức năng liên quan đến việc triển
khai và thực thi các dự án ODA đã có những bước tiến bộ, thu nhặt được nhiều
kinh nghiệm và đẩy nhanh tốc độ giải ngân qua các năm.
Năm 1993, năm đầu tiên sau nhiều năm gián
đoạn, Việt Nam tiếp nhận và quản
lý nguồn ODA, lượng giải ngân chỉ đạt 413 triệu USD trên tổng số 1.810 triệu USD
cam kết, chiếm tỷ lệ rất thấp là 22.8%. Đến năm 1998, lượng giải ngân đạt 1.242
1810
1940
2600
2430

21
triệu USD trên 2.200 triệu USD cam kết, chiếm tỷ lệ 56.5%. Tỷ lệ này đã đạt 66.9
% vào năm 2000 với 1.650 triệu USD đã giải ngân trên 2.600 triệu USD cam kết.
Bảng 1: Tổng hợp phân tích ODA giai đoạn 1993 - 2002 Năm
ODA cam
kết
(Triệu
USD)
Tỷ lệ tăng
ODA cam kết
năm sau so
với
năm trước
(%)
ODA đã giải
ngân từng
năm
(Triệu USD)
T
ỷ lệ tăng ODA
giải ngân năm
sau so với
năm trước
(%)
Tỷ lệ ODA
giải
ngân/cam kết

lại. Các nhà tài trợ dẫ
n đầu là Nhật Bản chiếm 45.3% (652,5 triệu USD), WB
chiếm 18.7% (280,5 triệu USD), ADB chiếm 13.1% (196,5 triệu USD), phần còn
lại 22.9% (343,5 triệu USD) là của các nhà tài trợ khác. Tiếp đó vào năm 2002
Thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vân tải Việt Nam
Nguyễn Thái Vũ A1 – CN8

22
bằng các hiệp định ký kết với đại diện các nhà tài trợ số vốn ký kết đạt hơn 1.574
triệu USD, giảm 26% so với kết quả của năm 2001. Trong đó vốn vay là gần
1.334,7 triệu USD, viện trợ không hoàn lại khoảng 239,4 triệu USD.
Theo Bộ kế hoạch và đầu tư, nguyên nhân đạt thấp chủ yếu do vốn vay cho một
số dự án qui mô lớn chưa ký kết được hiệp
định. Nhưng kết quả lớn hơn đạt được
là kết quả giải ngân vốn hiệp định, tức là số vốn đã được luật hoá. Số vốn này được
giải ngân vào khoảng 1.527 triệu USD vào năm 2002 bao gồm 1.207 triệu USD
vốn vay và 320 triệu USD không hoàn lại, nghĩa là vốn viện trợ được giải ngân khá
tốt nhưng vốn vay đạt thấp.
Như vậy kể từ năm 1993
đến nay, tổng vốn ODA được các nhà tài trợ cam kết
dành cho Việt Nam lên đến 22,43 tỷ USD, chưa kể phần tài trợ riêng để cải cách
kinh tế. Trong đó tính đến hết năm 2002 tổng số vốn được hợp thức hoá bằng các
hiệp định đạt khoảng 16,5 tỷ USD và tổng số vốn đã được giải ngân đạt khoảng
11,4 tỷ USD. Rõ ràng tỷ lệ vốn giải ngân đạt chưa cao so với vố
n hiệp định và so
với vốn cam kết thì còn thấp hơn nữa, chỉ đạt 49,2%. Theo "Chiến lược toàn diện
về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo" đã được chính phủ phê duyệt và công bố tại
văn bản số 2685/VPCP-QHQT ngày 21 tháng 5 năm 2002 thì trong thời kỳ 2001-
2005 Việt Nam cần thực hiện số vốn ODA trị giá khoảng 9 tỷ USD (theo giá năm
2000), bao gồm khoảng 7,5 tỷ USD vốn vay và khoảng 1,5 tỷ USD vốn việ

(FDI). Điều đó có thể cho thấy nhu cầu và vai trò bổ xung quan trọng của ODA
trong tổng vốn đầu tư củ
a Việt Nam.
Việt Nam đã có mức tăng trưởng kinh tế cao từ 7% - 9% (1992 - 1997), đặc
biệt là sự vượt lên thử thách và tiếp tục tăng trưởng trong điều kiện khó khăn do
tác động của khủng hoảng kinh tế khu vực thêm vào đó là tình hình thiên tai bão lũ
từ năm 1995 đến nay. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 1998 tăng 5,8% so với
năm 1997 trong khi tăng trưởng ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương chỉ đạt
0,7%. T
ăng trưởng của Việt Nam năm 1999 đạt 4.8% trong khi tăng trưởng ở
Malaysia, Thái Lan khoảng 1%, Hàn Quốc khoảng 2,5%, Singapore khoảng 0,5%,
năm 2000 đạt 6.75%, quý I năm 2001 là 7.2%. Hai năm trở lại đây, mức tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam cũng đạt 7 – 8%, rất cao so với các nước khác trong
khu vực.
(6)
Thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vân tải Việt Nam
Nguyễn Thái Vũ A1 – CN8

24
Những thành tựu về kinh tế - xã hội mà Việt Nam đạt được trong 10 năm tiến
hành đổi mới là do nhiều yếu tố trong đó có sự đóng góp quan trọng của nguồn
ODA. Nguồn vốn này đã giúp Việt Nam tăng trưởng kinh tế, phát triển cơ sở hạ
tầng kinh tế - xã hội phát triển nguồn nhân lực, điều chỉnh cơ cấu kinh tế. ODA đã
có đóng góp trên hầu h
ết các lĩnh vực quan trọng. Dưới đây là cơ cấu ODA đã giải
ngân đối với các ngành kinh tế.
Bảng 3: Cơ cấu ODA theo ngành
Lĩnh vực Cơ cấu(%)
1. GTVT 27,28%
2. Điện 24,57%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status