1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304 THỬ NGHIỆM ƯƠNG CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG
(Anabas sp.) GIAI ĐOẠN BỘT LÊN HƯƠNG
VỚI MẬT ĐỘ VÀ THỨC ĂN KHÁC NHAU
Sinh viên thực hiện
Đinh Thành Đồng
MSSV: 0753040023
Lớp: NTTS K2
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
ThS. Trần Ngọc Tuyền Đinh Thành Đồng
MSSV: 0753040023
L
ớp: NTTS K2 Cần Thơ, 2011
3
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài: Thử nghiệm ương cá Rô đầu vuông (Anabas sp.) giai đoạn bột lên hương với
các mật độ và thức ăn khác nhau.
Sinh viên thực hiện: ĐINH THÀNH ĐỒNG
Lớp: Nuôi trồng thủy sản K2
Luận văn đã được hoàn thành theo yêu cầu của Cán bộ hướng dẫn và Hội đồng bảo vệ
luận văn tốt nghiệp đại học của Khoa Sinh Học Ứng Dụng Trường Đại Học Tây Đô.
TÓM TẮT
Thí nghiệm 1 bố trí với các mật độ khác nhau nhằm xác định mật độ thích hợp khi
ương cá Rô đầu vuông giai đoạn bột lên hương, thí nghiệm gồm có 3 nghiệm thức,
NT1 (2 con/lít); NT2 (4 con/lít) và NT3 (6 con/lít), mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, thời
gian thí nghiệm 5 tuần. Kết quả cho thấy, ở NT1 cá có tỷ lệ sống (97,5%) và tốc độ
tăng trưởng (22,21 %/ngày) cao nhất. Ngược lại, ở NT3 ương với mật độ 6 con/lít cá
có tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng lần lượt là 54,7%; 21,4%/ngày thấp hơn so với các
nghiệm thức khác. Kết quả tăng trưởng và tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Như vậy mật độ ương có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và
tốc độ tăng trưởng của cá Rô đầu vuông giai đoạn bột lên hương.
Thí nghiệm 2 bố trí nhằm xác định thức ăn có hàm lượng đạm thích hợp khi ương cá
Rô đầu vuông giai đoạn bột lên hương. Thí nghiệm được tiến hành với 2 nghiệm thức
sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau: 40%, 42%. Mỗi nghiệm thức lặp lại 3
lần, có cùng mật độ ương 4 con/lít, thời gian thực hiện thí nghiệm 5 tuần. Sau khi kết
thúc thí nghiệm cho thấy, hiệu quả sử dụng protein của cá ở NT2 đạt 2,33 ± 0,05 cao
hơn so với cá ở nghiệm thức sử dụng thức ăn 40% đạm PER chỉ đạt 2,04 ± 0,07, đồng
thời cá ở NT2 có tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống lần lượt là 22,03% và 75,4% cao
hơn so với cá ở nghiệm thức 1 có tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống lần lượt là 21,75%;
67,1%. Khi phân tích thống kê tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá ở các nghiệm
thức khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Từ kết quả thu được sau khi kết thí
nghiệm có thể khẳng định rằng, hàm lượng đạm trong thức ăn có ảnh hưởng đến tỷ lệ
sống và tốc độ tăng trưởng của cá Rô đầu vuông giai đoạn bột lên hương.
Từ khóa: Cá Rô đầu vuông, mật độ, thức ăn, tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng
6
CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của tôi và
kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác.
2.2.1 Một số kết quả nghiên cứu về cá Rô đồng 6
2.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cá 8
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 10
3.1.1 Thời gian nghiên cứu 10
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 10
3.2 Đối tượng nghiên cứu 10
3.3 Vật liệu nghiên cứu 10
3.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm 11
3.4.1 Thí nghiệm 1 11
3.4.2 Thí nghiệm 2 13
3.5 Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu 15
8
3.5.1 Các chỉ tiêu môi trường 15
3.5.2 Các chỉ tiêu của cá 15
3.5.3 Phương pháp sử lí số liệu 16
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 Thí nghiệm 1: So sánh ảnh hưởng mật độ ương 17
4.1.1 Các yếu tố môi trường của thí nghiệm 1 17
4.1.2 Ảnh hưởng của mật độ ương lên tăng trưởng và tỷ lệ sống 18
4.1.2.1 Ảnh hưởng của mật độ ương lên tỷ lệ sống 18
4.1.2.2 Ảnh hưởng của mật độ ương lên tăng trưởng khối lượng 19
4.1.2.3 Ảnh hưởng của mật độ lên tăng trưởng chiều dài 20
4.1.3 Ảnh hưởng của mật độ ương lên tốc độ phân đàn 21
4.1.3.1 Ảnh hưởng của mật độ lên phân đàn theo khối lượng 21
4.1.3.2 Ảnh hưởng của mật độ lên phân đàn theo chiều dài 23
4.2 Thí nghiệm 2: So sánh ảnh hưởng của các loại thức ăn 24
4.2.1 Các yếu tố môi trường của thí nghiệm 2 24
Bảng 4.2: Tỷ lệ sống của cá Rô đầu vuông (thí nghiệm 1) 18
Bảng 4.3: Tăng trưởng khối lượng của cá Rô đầu vuông (thí nghiệm 1) 19
Bảng 4.4: Tăng trưởng chiều dài của cá Rô đầu vuông (thí nghiệm 1) 20
Bảng 4.5: Một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí nghiêm (thí nghiệm 2) 24
Bảng 4.6: Tỷ lệ sống của cá Rô đầu vuông (thí nghiệm 2) 25
Bảng 4.7: Tăng trưởng khối lượng của cá Rô đầu vuông (thí nghiệm 2) 26
Bảng 4.8: Tăng trưởng chiều dài của cá Rô đầu vuông (thí nghiệm 2) 27
Bảng 4.9: Hệ số tiêu tốn thức ăn của cá Rô đầu vuông (thí nghiệm 2) 27
Bảng 4.10: Hiệu quả sử dụng protein (thí nghiệm 2) 28 10
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Hình thái bên ngoài của cá Rô đầu vuông 3
Hình 3.1: Hệ thống bể thí nghiệm (thí nghiệm 1) 11
Hình 3.2: Theo dõi nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm 13
Hình 4.1: Mức độ phân đàn theo khối lượng (thí nghiệm 1) 21
Hình 4.2: Mức độ phân đàn theo chiều dài (thí nghiệm 1) 23
Hình 4.3: Mức độ phân đàn theo khối lượng (thí nghiệm 2) 29
Hình 4.4: Mức độ phân đàn theo chiều dài (thí nghiệm 2) 30 11
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là nơi có hệ thống sông ngòi chằng chịt tạo
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nghề nuôi trồng thủy sản, trong đó nghề nuôi cá
cho người nuôi cả về số lượng và chất lượng con giống, giảm giá thành sản xuất nhằm
12
hoàn thiện qui trình sản xuất giống để nghề nuôi cá Rô đầu vuông ổn định. Một trong
những hướng nghiên cứu cho mục tiêu này là xác định mật độ ương thích hợp để giảm
hao hụt trong quá trình ương, tìm ra loại thức ăn phù hợp khi ương cá ở giai đoạn cá
bột lên cá hương. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, đề tài “Thử nghiệm ương cá Rô
đầu vuông (Anabas sp.) giai đoạn bột lên hương với các mật độ và thức ăn khác
nhau” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bổ xung thêm những thông tin về kỹ thuật ương cá Rô đầu vuông trong các dụng cụ
có diện tích nhỏ.
Xác định được mật độ và thức ăn phù hợp khi ương cá Rô đầu vuông giai đoạn từ bột
lên hương.
1.3 Nội dung nghiên cứu
So sánh ảnh hưởng mật độ ương khác nhau lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Rô
đầu vuông (Anabas sp.) giai đoạn bột lên hương.
So sánh ảnh hưởng của các loại thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm khác nhau lên
tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Rô đầu vuông (Anabas sp.) giai đoạn bột lên hương.
13
CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá Rô đồng
Năm 2008, trong ao nuôi cá Rô đồng nhà ông Nguyễn Văn Khải (ngụ ấp 5, xã Vĩnh
Thuận tây, Huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang) xuất hiện 70 cá thể có tốc độ tăng trưởng
nhanh hơn các cá thể khác trong ao, khi trưởng thành phần đầu của các cá thể này có
dạng hình khá vuông nên được gọi là cá Rô đầu vuông. Cá Rô đầu vuông xuất hiện từ
vẩy lược; miệng hơi trên, rộng vừa; rạch miệng xiên kéo dài đến đường thẳng đứng kẽ
qua giữa mắt, răng nhỏ và nhọn, mỗi bên đầu có hai lỗ mũi. Mắt to, tròn nằm lệch về
nửa trên của đầu và gần chót mõm hơn gần điểm cuối nắp mang, cạnh sau xương nắp
mang có nhiều gai nhỏ nhọn, tạo thành răng cưa. Trên đầu cá có nhiều lổ cảm giác.
Mặt lưng của đầu và thân có màu xám đen hoặc xám xanh và nhạt dần xuống bụng, ở
một số cá thể ửng lên màu vàng nhạt. Cạnh sau xương nắp mang có một hàng da nhỏ
màu đen, vây chẵn và vây lẻ đều có gai cứng, vây đuôi tròn và không chia thùy. Giữa
cuống đuôi có một đám sắc tố đen, khi trưởng thành sẽ nhạt đi. Cá có cơ quan hô hấp
phụ trên mang nên có thể sống trong môi trường có hàm lượng ôxy hòa tan thấp
(Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
2.1.3 Phân bố
Họ Anabantidae sống chủ yếu trong môi trường nước ngọt, phân bố rộng trên thế giới,
chủ yếu sống ở vùng nhiệt đới. Ở Đông Nam Á cá phân bố chủ yếu ở Lào, Thái Lan,
Campuchia, Mianma, Việt Nam. Cá Rô đồng thích sống nơi có mực nước nong, tĩnh,
nhiều cây cỏ thủy sinh và nền đáy giàu mùn bả hữu cơ (Phạm Văn Khánh, 1999).
Ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, giống Anabas phân bố nhiều ở những vùng
trũng, ngập nước quanh năm như: nông trường Phương Ninh (Cần Thơ), rừng U Minh
Hạ (Cà Mau), U Minh Thượng (Kiên Giang) và vùng tứ giác Long Xuyên (An Giang).
Cá thường xuất hiện ở kênh thủy lợi, ao, hồ, mương vườn (Phạm Minh Thành và
Nguyễn Văn Kiểm, 2009).
2.1.4 Dinh dưỡng
Đặc điểm dinh dưỡng của cá Rô đầu vuông (Anabas sp.) tương đối giống với cá Rô
đồng (Anabas testudineus), cá Rô đồng là loài ăn tạp thiên về động vật. Sau khi nở
khoảng 3 ngày cá bắt đầu ăn ngoài thức ăn ưa thích của cá là những giống loài động
vật phù du cỡ nhỏ như Moina và cá có thể ăn các loại thức ăn nhân tạo. Ngày thứ 8 trở
đi cá rượt đuổi những loài động vật nhỏ hơn để ăn thịt, tính ăn động vật của cá thể
hiện 8 – 10 ngày tuổi (Nguyễn Văn Thảo, 2010). Khi trưởng thành, thức ăn ưa thích
của cá là các loài giun ít tơ, ấu trùng, côn trùng, mầm non thực vật.
Các loài cá thuộc giống Anabas hoạt động rất rộng, cá có thể sử dụng thức ăn ở các
thủy vực từ tầng mặt cho đến tầng đáy. Khi phân tích dạ dày cá Rô đồng các nhà khoa
Huế Yến, 2002).
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long cá Rô đồng sinh sản vào mùa mưa, nhưng tập trung
nhất từ tháng 6 – 7 dương lịch, cá thường đẻ tập trung sau những trận mưa lớn. Dấu
hiệu là cá thường tìm tới những nơi có dòng nước mát, chảy chậm, chính dòng nước
này là yếu tố kích thích quá trình hưng phấn và đẻ của cá Rô đồng. Mực nước thích
hợp cho quá trình sinh sản của cá Rô đồng khoảng 0,3 – 0,4m (Dương Nhựt Long,
2003).
Theo Nguyễn Thành Trung (1998), sức sinh sản của cá thay đổi theo điều kiện môi
trường sống, kích cỡ và tuổi. Khi cá được nuôi vỗ tốt, cá sẽ có sức sinh sản cao đạt
khoảng 300.000 – 700.000 trứng/kg cá cái. Cá có thể tái thành thục sau một tháng nếu
được nuôi vỗ tốt. Trứng cá rô đồng thành thục có màu trắng ngà hoặc hơi vàng và
thuộc loại trứng nổi.
16
2.2 Các nghiên cứu về các loài cá thuộc họ Anabantidae
2.2.1 Một số kết quả nghiên cứu về ương và nuôi thương phẩm cá Rô đồng ở Việt
Nam.
Trần Lê Cẩm Tú và Trần Thị Thanh Hiền (2006) đã nghiên cứu khả năng chia sẽ năng
lượng của lipid cho protein trong thức ăn của cá Rô đồng thông qua sự tăng trưởng,
hiệu quả sử dụng thức ăn và thành phần sinh hóa của cá ở giai đoạn giống cỡ 2 – 2,5
g/con. Thí nghiệm được bố trí vào hệ thống bể nhựa có thể tích 100 lít/bể. Mỗi
nghiệm thức lặp lại 3 lần, thời gian bố trí là 40 ngày, cá được bố trí 15 con/bể và được
cho ăn với khẩu phần 6 – 7% khối lượng thân. Thức ăn thí nghiệm được phối chế có
cùng mức năng lượng (4,2 kcal/g) và mức protein – lipid lần lượt là 32% – 6% ; 26%
– 9% và 23% – 12%. Kết quả cho thấy cá tăng trưởng tốt nhất ở nghiệm thức 32%
protein và 6% lipid. Tăng trưởng của cá ở nghiệm thức 26% protein – 9% lipid và
23% protein – 12% lipid khác biệt không có ý nghĩa.
Đặng Khánh Hồng, Đỗ Trung và Nguyễn Tường Anh (2006) đã nghiên cứu kỹ thuật
sản xuất giống cá Rô đồng toàn cái. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm tạo ra cá
2
(0,712 ± 0,3g), tỷ lệ sống đạt thấp nhất.
Ở nghiệm thức 300 con/m
2
cho tỷ lệ sống cao nhất (69%) cá tăng trọng (0,541 ± 0,3g);
tiếp theo là nghiệm thức 600 con/m
2
cho tỷ lệ sống 49% và cá có trọng lượng thấp
17
nhất (0,379 ± 0,2g). Tuy nhiên, thí nghiệm này vẫn chưa xác định được việc sử dụng
thức ăn chế biến trong ương cá Rô đồng từ bột lên hương ở mật độ 300 con/m
2
là tối
ưu.
Hồ Mỹ Hạnh (2003), đã nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và thức ăn lên tốc độ tăng
trưởng và tỷ lệ sống của cá Rô đồng giai đoạn cá bột lên cá hương. Thí nghiệm tiến
hành trên bể xi măng có thể tích 1 x 1x 0,8m. Trong quá trình ương không thay nước,
chỉ cấp thêm nước khi nước trong bể cạn bớt do bốc hơi, thí nghiệm gồm 2 nghiệm
thức: nghiệm thức 1 ương với 3 mật độ khác nhau (500 con/m
2
, 1000 con/m
2
, 1500
con/m
2
); nghiệm thức 2 sử dụng 2 loại thức ăn (bón phân và thức ăn chế biến). Kết
quả cho thấy tăng trưởng của cá khác biệt không có ý nghĩa giữa ương cá bằng bón
phân và thức ăn chế biến. Tuy nhiên, tỷ lệ sống trung bình của cá ở các nghiệm thức
Ngoài ra còn một số nghiên cứu về việc sử dụng thức ăn công nghiệp cho cá Rô đồng
như nghiên cứu của Trần Minh Phú và csv (2006) đã thực nghiệm nuôi thâm canh cá
Rô đồng bằng thức ăn viên với các hàm lượng đạm khác nhau. Thí nghiệm được bố trí
hoàn toàn ngẫu nhiên trong 9 ao đất (100m
2
) tại Ô Môn – Cần thơ từ tháng 5 – 11 năm
2004. Mật độ thả nuôi là 25 con/m
2
, thức ăn viên với 3 hàm lượng đạm khác nhau
(23% CP, 26% CP, 32% CP). Kết quả thí nghiệm cho thấy trong quá trình nuôi tốc độ
tăng trưởng, tỷ lệ sống của cá sau 4 tháng nuôi khác nhau không có ý nghĩa thống kê
(P > 0,05) và trong lượng của cá đạt 54 – 56 g/con khi kết thúc thí nghiệm. Thức ăn
viên thích hợp cho từng giai đoạn được ghi nhận như sau 2 tháng đầu tiên nên cho ăn
18
thức ăn có hàm lượng đạm 32%, tháng thứ 3 là thức ăn 26% và thời gian con lại sử
dụng thức ăn có hàm lượng đạm 23%. Trong thức tế sản xuất cá rô đồng thương
phẩm, với mật độ thả 25 con/m
2
, người nuôi có thể ứng dụng cho ăn thức ăn viên 23%
CP cho mô hình nuôi với hiệu quả lợi nhuận được khẳng định.
Năm 2010, trạm thủy sản Huyện Tam Nông đã hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá Rô đầu
vuông bằng thức ăn công nghiệp cho chủ hộ Lại Thị Thương, ngụ tại xã Phú Thọ,
Huyện Tam Nông, Tỉnh Đồng Tháp. Diện tích ao nuôi cá Rô đầu vuông 5.000m
2
,
trong cả vụ nuôi cho cá ăn thức ăn công nghiệp hiệu AFIEX – An Giang (loại 240V –
230V) với nhiều độ đạm khác nhau, cho cá ăn 2 lần/ngày. Theo chủ hộ Lại Thị
Thương cho biết, khi sử dụng thức ăn công nghiệp hiệu AFIEX – An Giang để nuôi cá
đang được quan tâm và là thức ăn ưa thích của ấu trùng tôm cá là: Moina và trùn chỉ.
19
Moina được biết đến như một loại thức ăn đầu tiên thích hợp cho nhiều loài cá, tuy
nhiên cần phải chú ý đến mật độ cũng như khả năng gia tăng kích thước trong thời
gian ngắn của Moina. Nếu mật độ Moina quá cao sẽ dẫn đến cạnh tranh hàm lượng
ôxy với cá bột (Trần Ngọc Tuyền, 2008).
Trùn chỉ còn gọi là giun đỏ là một loài giun đốt nước ngọt thuộc họ Tubifex, chúng
phân bố chủ yếu ở môi trường nghèo dinh dưỡng. Trùn chỉ là thức ăn tốt nhất cho
ương cá tôm, mặc dù chúng có những điểm bất lợi như không ưa sống trong điều kiện
ương tôm cá, khi chết gây ô nhiễm trong bể ương tôm cá, trùn chỉ có thể mang mầm
bệnh từ nơi chúng sống. Cách dùng trùn chỉ cho cá ăn tùy thuộc vào đặc tính ăn của
cá: có thể cho xuống đáy bể, cho vào khai lửng hay rải từ từ trên mặt (Trần Ngọc
Tuyền, 2008).
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của Moina và trùn chỉ (Evangelista, 2005)
Thành phần (%) Moina Trùn chỉ
Protein 64,1 47,0
Lipid 14,3 18,9
Carbohydrat 23,9 20,5
Tro 11,8 10,8
Xơ 7,4 2,7
Để chủ động nguồn thức ăn và giảm mầm bệnh trong quá trình ương cá giống, các nhà
sản xuất giống đã sử dụng một số loại thức ăn công nghiệp trong qui trình ương tôm
cá như: thức ăn Cargill, Việt Thắng…
20
CHƯƠNG 3
3.4.1 Thí nghiệm 1: So sánh ảnh hưởng mật độ ương lên sinh trưởng và tỷ lệ sống
của cá Rô đầu vuông (Anabas sp.) giai đoạn bột lên hương
Hệ thống thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí vào hệ thống bể nhựa có thể tích 25 lít. Sau khi đã chuẩn bị
xong nguồn nước, cấp 20 lít nước vào mỗi bể ương, thí nghiệm được bố trí trong nhà
có máy che và có hệ thống sục khí liên tục (Hình 3.1). Thời gian tiến hành thí nghiệm
là 35 ngày.
Hình 3.1: Hệ thống bể thí nghiệm (thí nghiệm 1)
Bố trí thí nghiệm
*Chuẩn bị nước ương
Rửa sạch bể ương, phơi 3 – 5 ngày tiến hành cấp nước vào đủ theo thể tích quy định,
dùng phân đạm và lân superphosphat theo tỷ lệ N/P = 2/1 để gây màu nước với liều
lượng 200 g/m
3
nước. Sau 3 – 5 ngày khi nước có màu xanh đọt chuối, tiến hành bố trí
thí nghiệm.
*Kỹ thuật ương cá Rô đầu vuông giai đoạn bột lên hương: Cá bột sau khi mua về đã
Xơ 5
*Chăm sóc và quản lý
Khẩu phần cho cá ăn khoảng 10 – 15% khối lượng thân (tính theo nhu cầu) và mỗi
ngày cho cá ăn 04 lần vào các mốc thời gian 7
h
, 10
h
30, 14
h
và 17
h
30. Bên cạnh đó,
theo dõi và ghi nhận về các hoạt ăn, bơi lội và khả năng bắt mồi của cá.
Trong quá trình thực hiện thí nghiệm, nước trong hệ thống bể ương được thay 2
lần/ngày và thay khoảng 30 – 50%. Theo dõi sự biến động của các yếu tố như: nhiệt
độ, pH trong hệ thống bể thí nghiệm, đồng thời quan sát tình trạng sức khỏe của cá để
có biện pháp phòng bệnh thích hợp, nếu có dấu hiệu bất thường phải kịp thời xử lý.
23
* Ghi nhận các kết quả
Để đánh giá mật độ ương khác nhau khi ương cá Rô đầu vuông giai đoạn bột lên
hương, cần ghi nhận các kết quả về: Tỷ lệ sống, tăng trọng của cá, mức độ phân đàn.
3.4.2 Thí nghiệm 2: So sánh ảnh hưởng của các loại thức ăn công nghiệp khác
nhau lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Rô đầu vuông (Anabas sp.) giai đoạn từ
bột lên hương
Hệ thống thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí vào hệ thống bể nhựa có thể tích 25 lít. Sau khi đã chuẩn bị
Chọn cá thí nghiệm khỏe mạnh, đều cỡ, không dị hình, tiến hành bố trí ngẫu nhiên.
Thí nghiệm gồm có 2 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lập lại 3 lần, các nghiệm
thức được bố trí cùng mật độ (4 con/lít) nhưng sử dụng 2 loại thức ăn khác nhau như
sau:
Nghiệm thức 1: sử dụng thức ăn A (đạm 40 %)
Nghiệm thức 2: sử dụng thức ăn B (đạm 42 %)
Bảng 3.2: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn A và thức ăn B
Thành phần (%) Thức ăn A Thức ăn B
Protein 40 42
Lippid 8 8
Tro 15 15
Xơ 5 6
*Chăm sóc và quản lý
Khẩu phần cho cá ăn khoảng 10 – 15% khối lượng thân (tính theo nhu cầu) và mỗi
ngày cho cá ăn 04 lần vào các mốc thời gian 7
h
, 10
h
30, 14
h
và 17
h
30. Bên cạnh đó,
theo dõi và ghi nhận về các hoạt ăn, bơi lội và khả năng bắt mồi của cá.
Trong quá trình thực hiện thí nghiệm, nước trong hệ thống bể ương được thay 2
lần/ngày và thay khoảng 30 – 50%. Theo dõi sự biến động của các yếu tố như: nhiệt
độ, pH trong hệ thống bể thí nghiệm, đồng thời quan sát tình trạng sức khỏe của cá, có
biện pháp phòng bệnh thích hợp, nếu có dấu hiệu bất thường phải kịp thời xử lý.
là khối lượng của cá lúc thu hoạch (mg)
W
đ
là khối lượng của cá lúc thả ương (mg)
Tăng trưởng khối lượng tuyệt đối theo ngày (Daily weight Gain) Wc – Wđ
DWG (mg/ngày)
=
t
Trong đó t là thời gian thí nghiệm
Tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ngày) (Specific growth rate) [(lnW
c
) – (lnW
đ
)]
SGR (%/ngày) =
___________________________
X 100
t
Tăng trưởng chiều dài (Length gain)
LG (mm) = L
c