MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế giới bước vào thế kỷ XXI đang đứng trước xu thế của thời đại:
Hội nhập, hợp tác, toàn cầu hóa trên tất cả các lĩnh vực để cùng phát triển.
Tri thức, tài năng và nguồn lực con người là con đường để đổi mới và phát
triển. Vấn đề đặt ra cho tất cả các quốc gia trên thế giới những thời cơ và
thách thức lớn đối với bản lĩnh và trình độ của mỗi dân tộc. Cả thế giới đang
chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, đó là quá trình
chuyển đổi từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào vốn và tài nguyên thiên nhiên
sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức con người.
Việt Nam đang đứng trước một xã hội tương lai: xã hội thông tin,
xã hội học tập, ở đó mỗi người phải nỗ lực học tập, học tập suốt đời trong
một nền giáo dục tốt nhất để có được những phẩm chất, năng lực mới xứng
đáng ở vị trí trung tâm của sự phát triển.
Giáo dục và đào tạo là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp cách mạng
của Đảng, Nhà nước và của dân tộc Việt Nam. Mục tiêu tổng quát của Chiến
lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001-2010 do Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX đề ra và Đại hội X kế thừa là: Để đạt được các yêu cầu về
con người và nguồn nhân lực – nhân tố quyết định sự phát triển đất nước
trong thời kỳ công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước – cần phải tạo chuyển
biến cơ bản và toàn diện về giáo dục. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
trong báo cáo chính trị đã khẳng định một lần nữa: “Đổi mới toàn diện giáo
dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao” và “Đảm bảo
đủ số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp học, bậc
học”. Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
X nhấn mạnh: “Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm
trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của
1
Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội
ngũ trí thức là đầu tư cho sự phát triển bền vững”.
Trong Chỉ thị số 40/CT-TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã nêu
(THPT), có 6 trường THPT công lập, trong đó có 3 trường THPT công
lập đóng trên địa bàn vùng ven của thành phố. Các trường phổ thông vùng
ven có điều kiện đặc thù về địa bàn và nguồn lực. Cũng như các trường
THPT trong tỉnh cũng đã có nhiều cố gắng trong công tác xây dựng và phát
triển đội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lý giáo dục với mục tiêu xây
dựng trường học đạt chuẩn quốc gia. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công
đã đạt được, các trường vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được với
những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về việc đào tạo nguồn nhân lực có chất
lượng cao đáp ứng công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội, xây
dựng và bảo vệ tổ quốc. Vì vậy, giải pháp về phát triển và nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên THPT đóng vai trò quan trọng, một nhân tố quyết
định cho sự phát triển của mỗi nhà trường.
Chính vì những lý do trên, bản thân chọn đề tài nghiên cứu: “Phát
triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông vùng ven thành phố
Đà Lạt đáp ứng xây dựng trường chuẩn quốc gia”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, đề tài nhằm đề
xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT công
lập ở địa bàn vùng ven thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đáp ứng yêu cầu
xây dựng trường chuẩn quốc gia.
3. Khánh thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác phát triển đội ngũ giáo viên của
Hiệu trưởng trường trung học phổ thông.
3
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Công tác phát triển đội ngũ giáo viên
trường THPT vùng ven thành phố Đà Lạt.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công
tác phát triển đội ngũ giáo viên vùng ven thành phố Đà Lạt thuộc 3 trường
THPT công lập: Trường THPT Tà Nung, THPT Xuân Trường và THPT
Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm những phương
pháp nghiên cứu sau đây:
7.2.1. Phương pháp điều tra
Thông qua phiếu điều tra để khảo sát Hiệu trưởng, giáo viên, học sinh
các trường THPT vùng ven thành phố Đà Lạt về thực trạng chất lượng giáo
viên và công tác phát triển đội ngũ giáo viên
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn Hiệu trưởng, giáo viên, học sinh 3 trường trung học phổ
thông để làm rõ hơn và lý giải nguyên nhân thực trạng.
7.2.3. Phương pháp quan sát
Dự giờ dạy của giáo viên và các hoạt động ngoài giờ lên lớp để đánh
giá chất lượng giáo viên.
7.3. Nhóm phương pháp toán thống kê
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu của
phiếu hỏi.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng đội
ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. Việc tạo mọi điều
kiện để mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời
để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp
với sự phát triển kinh tế - xã hội là phương châm hành động của các cấp
quản lý giáo dục.
Ở Ấn độ vào năm 1988 đã quyết định thành lập hàng loạt các trung
tâm học tập trong cả nước nhằm tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người.
Việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm này đã mang lại
các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện
kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội.
Tại Triều Tiên một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi
dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ giáo viên. Tất cả giáo viên đều phải tham gia
học tập đầy đủ các nội dung về chương trình về nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ theo quy định. Nhà nước đã đưa ra “Chương trình bồi dưỡng giáo
viên mới” để bồi dưỡng đội ngũ giáo viên được thực hiện trong 10 năm và
“Chương trình trao đổi” để đưa giáo viên đi tập huấn ở nước ngoài.
Tại Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục như:
M.I.Kônđacốp, P.V. Khuđominxki…đã rất quan tâm tới việc nâng cao chất
lượng dạy học thông qua các biện pháp quản lý có hiệu quả. Muốn nâng cao
chất lượng dạy học phải có đội ngũ giáo viên có năng lực chuyên môn. Họ cho
7
rằng kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ
chức đúng đắn và hợp lý công tác quản lý bồi dưỡng, phát triển đội ngũ.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ngay từ thời xa xưa, ông cha ta đã rất coi trọng vai trò của người thầy
giáo như: “Không thầy đố mày làm nên”, không có thầy giáo thì sẽ không có
giáo dục. Điều đó nhắc nhở mọi người phải quan tâm mọi mặt và toàn diện
đến giáo dục mà chủ thể đóng vai trò quan trọng nhất đó chính là đội ngũ
giáo viên.
Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đã
được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong thư gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô
giáo, công nhân viên, HS, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới ngày 16
tháng 10 năm 1968 rằng: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự
nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành các cấp
Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải
chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bước
phát triển mới” [24], “Cán bộ và giáo dục phải tiến bộ cho kịp thời đại mới
làm được nhiệm vụ, chớ tự túc tự mãn cho là giỏi rồi thì dừng lại” [25, 489].
trước, do giáo dục của Tỉnh phải đương đầu với quy mô học sinh tăng nhanh
(chủ yếu do di dân, tăng dân số cơ học), dẫn đến sự mất cân đối nghiêm
trọng về nhiều mặt, trong đó có đội ngũ giáo viên. Cũng như hầu hết các địa
phương trên cả nước, tỉnh Lâm Đồng phải đối phó với việc phải tăng nhanh
số lượng giáo viên để đáp ứng cho sự nghiệp giáo dục của Tỉnh nhà bằng
nhiều giải pháp tình thế như: Đào tạo giáo viên cấp tốc, vừa đào tạo vừa
giảng dạy, tuyển dụng trái chuyên môn hoặc tuyển những người chưa qua các
lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm hoặc là cho nợ chuẩn chuyên môn…Tất cả
những giải pháp tình thế trên đã làm cho chất lượng đội ngũ bị giảm sút
nghiêm trọng, thậm chí có những lúc, những nơi chất lượng đội ngũ giáo viên
9
đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến cả một thế hệ HS. Nhiều loại hình đào tạo,
nhiều hình thức bồi dưỡng đã được mở rộng thiếu tính quy hoạch, kế hoạch đã
làm sai lệch cơ cấu đội ngũ giáo viên. Và hiện nay ảnh hưởng của những hạn
chế về chất lượng đội ngũ giáo viên vẫn còn tồn tại trên địa bàn tỉnh Lâm
Đồng mà chưa có giải pháp nào tháo gỡ một cách triệt để.
Ở địa bàn Đà Lạt là thành phố đô thị loại I thuộc Tỉnh, tuy chất lượng
đội ngũ được quan tâm đầu tư hơn các địa bàn khác trong Tỉnh và hầu hết
đều đạt chuẩn về trình độ. Nhưng vẫn còn một bộ phận nhỏ đội ngũ giáo
viên còn có những hạn chế, đòi hỏi phải có giải pháp để nâng cao chất lượng
đội ngũ đáp ứng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên
cho đến nay còn ít những công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo
viên THPT dựa trên chuẩn giáo viên đặc biệt là những nghiên cứu về đội ngũ
giáo viên THPT nhất là đội ngũ giáo viên các trường vùng ven thành phố Đà
Lạt đáp ứng xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.
1.2. Quản lí nhà trường trung học phổ thông
1.2.1. Khái niệm Quản lý
Quản lý: Trong từ điển tiếng Việt “quản lý” là tổ chức điều khiển hoạt
động của một số đơn vị, một cơ quan [40, 1363].
Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ xưa cho đến nay, có 3 yếu
đồng cấp và có tính bắt buộc. Tuy nhiên, quản lý có khả năng thích nghi giữa
chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại.
- Tác động của quản lý thường mang tính chất tổng hợp, hệ thống tác
động quản lý gồm nhiều giải pháp khác nhau nhằm đưa hệ thống tiếp cận
mục tiêu, và nếu xét về mặt công nghệ là sự vận động thông tin.
- Cơ sở của quản lý là các quy luật khách quan và điều kiện thực tiễn
của môi trường.
11
- Mục tiêu cuối cùng của quản lý là tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi ích
của con người, bởi thực chất của quản lý là quản lý con người và vì lợi ích
của con người.
1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
Có thể khẳng định, giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại song hành.
Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài
người thì cũng có thể nói như thế về quản lý giáo dục. Giáo dục xuất hiện
nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người,
của thế hệ đi trước cho thế hệ sau và để thế hệ sau có trách nhiệm kế thừa,
phát triển nó một cách sáng tạo, làm cho xã hội, giáo dục và bản thân con
người phát triển không ngừng. Để đạt được mục đích đó, quản lý được coi là
nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên.
Ở cấp vĩ mô (quản lý một nền giáo dục): “Quản lý giáo dục được hiểu
là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống,
hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ
cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất
lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội
đặt ra cho ngành Giáo dục” [17, 10].
Ở cấp độ vi mô, quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường có thể
xem đồng nghĩa với quản lý nhà trường: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ
thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến các hoạt động giáo
dục, đến con người (Cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh), đến các
tích cực, cùng nhằm thực hiện mục tiêu chung.
Tóm lại, từ những khái niệm nêu trên về quản lý giáo dục cho ta thấy
bản chất đặc thù của hoạt động quản lý giáo dục chính là sự hoạt động có
mục đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý
13
theo những quy luật khách quan nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống
giáo dục đạt tới kết quả mong muốn.
1.2.3. Quản lý trường Trung học phổ thông
Quản lý nhà trường nói chung là quản lý giáo dục được thực hiện
trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện
nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội. Quản lý nhà trường
Trung học phổ thông phải căn cứ trên điều lệ trường THPT, quy định vị trí
vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường này.
Theo Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và
trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Quyết định số:
07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo): Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục
quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng.
Trường trung học có những nhiệm vụ:
1. Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của
Chương trình giáo dục phổ thông.
2. Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều
động giáo viên, cán bộ, nhân viên.
3. Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường,
quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
4. Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng.
5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục.
Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
6. Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy
định của Nhà nước.
15
được hưởng các quyền lợi theo Luật giáo dục và các Luật khác được nhà
nước quy định.
Khái niệm đội ngũ giáo viên là khái niệm chung cho những người làm
nghề dạy học – giáo dục, ta còn có khái niệm đội ngũ riêng cho từng bậc
học, cấp học như: Đội ngũ giáo viên mầm non, đội ngũ giáo viên tiểu học,
đội ngũ giáo viên THCS, đội ngũ giáo viên THPT, đội ngũ giáo viên dạy
nghề, đội ngũ giáo viên trung học chuyên nghiệp.
Phát triển đội ngũ giáo viên THPT
Phát triển theo triết học là sự vận động đi lên, cái mới thay thế cái cũ,
sự vận động đó có thể xảy ra theo các hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển là nguyên tắc
chung nhất chỉ đạo hoạt động nhận tức và hoạt động thực tiễn, ...
Trong một tổ chức, khoa học quản lý bàn đến vấn đề phát triển nguồn
nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực là tạo ra sự phát triển bền vững về hiệu
năng của mỗi thành viên và hiệu quả chung của tổ chức, gắn liền với việc
không ngừng tăng lên về mặt chất lượng và số lượng của đội ngũ cũng như
chất lượng sống của nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực được đặt
trong nhiệm vụ quản lý nguồn nhân lực và là một nội dung quan trọng trong
quản lý nguồn nhân lực.
Trong nhà trường, phát triển đội ngũ giáo viên được coi là vấn đề
trọng tâm của nhà quản lý. Nó có quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn
nhân lực nói chung. Phát triển đội ngũ giáo viên là tạo ra một đội ngũ nhà
giáo đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu chuyên môn,
độ tuổi, giới tính nhằm đáp ứng yêu cầu nhân lực giảng dạy và giáo dục của
nhà trường, thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục, đào tạo của nhà trường.
Cụ thể đối cấp THPT, với vấn đề số lượng đội ngũ giáo viên cần phải
căn cứ trên tỷ lệ học sinh/ giáo viên theo yêu cầu của trường THPT chuẩn
quốc gia; chất lượng phải hướng tới chuẩn trình độ, chuẩn nghề nghiệp, yêu
16
Một nội dung quan trọng khi xem xét số lượng giáo viên là những biến
động liên quan chi phối đến việc tính toán số lượng, chẳng hạn như: Việc bố
trí, sắp xếp số lượng đội ngũ, bố trí, sắp xếp học sinh/lớp cũng như định mức
về giờ dạy, định mức về lao động của giáo viên, chương trình môn học đều
có ảnh hưởng, chi phối đến số lượng đội ngũ giáo viên.
Trong điều kiện đa dạng hóa các loại hình trường/lớp, có trường công
lập, trường ngoài công lập. Do vậy, giáo viên có thể dạy nhiều trường thuộc
nhiều loại hình trường/lớp khác nhau (dạy trường công lập và dạy trường
ngoài công lập), họ chấp nhận một định mức dạy cao hơn quy định để tăng
thu nhập. Chính vì vậy đã làm sai lệch so với chuẩn quy định. Trong phạm vi
cả nước, việc đào tạo đội ngũ giáo viên hiện nay là cho toàn xã hội, riêng đối
với ngành sư phạm lại do nhà nước bao cấp cũng cần phải có các biện pháp
cần thiết để không tạo ra một lượng giáo viên dư thừa làm lãng phí đến ngân
sách nhà nước và làm nảy sinh các vấn đề liên quan.
Số lượng giáo viên là một yếu tố định lượng của đội ngũ. Nó rất quan
trọng nhưng chưa nói lên tất cả mà bên cạnh số lượng còn vấn đề chất lượng
và cơ cấu.
1.3.1.2. Đồng bộ về cơ cấu
Cơ cấu đội ngũ giáo viên THPT sẽ được nghiên cứu trên các tiêu chí
có liên quan đến biện pháp phát triển đội ngũ. Các nội dung cơ bản gồm:
- Cơ cấu chuyên môn (theo môn dạy) hay còn gọi là cơ cấu bộ môn:
Đó là tình trạng tổng thể về tỉ trọng giáo viên của các môn học hiện có
ở cấp THPT, sự thừa, thiếu giáo viên ở mỗi môn học. Các tỉ lệ này vừa phải
phù hợp với định mức quy định thì ta có được một cơ cấu chuyên môn hợp
18
lý. Ngược lại thì phải điều chỉnh nếu không sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả của
các hoạt động giáo dục.
- Cơ cấu theo trình độ đào tạo:
Cơ cấu giáo viên theo trình độ đào tạo là sự phân chia giáo viên theo tỉ
trọng của các trình độ đào tạo. Các trình độ đào tạo của giáo viên THPT có
Tuy nhiên, về các khía cạnh như: Điều kiện để đào tạo, bồi dưỡng
thường xuyên và nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên nữ ảnh hưởng rất
nhiều như thời gian nghỉ dạy do sinh đẻ, con ốm…lại là các yếu tố có tác
động đến chất lượng đội ngũ. Do đó, cơ cấu về giới tính có liên quan đến
chất lượng giáo dục và đào tạo.
Tóm lại, nghiên cứu cơ cấu giới tính trong đội ngũ giáo viên là để có
tác động cần thiết thông qua quản lý đội ngũ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
suất công tác của từng cá nhân và của cả đội ngũ giáo viên.
1.3.1.3. Đạt chuẩn về trình độ và chất lượng
Chất lượng đội ngũ giáo viên bao hàm nhiều yếu tố: Trình độ được
đào tạo của từng thành viên trong đội ngũ, thâm niên làm việc trong tổ chức,
thâm niên trong vị trí làm việc mà người đó đã và đang đảm nhận, sự hài hòa
giữa các yếu tố… Các vấn đề này có thể đề cập ở 2 nội dung sau:
- Trình độ đào tạo: đạt chuẩn hay vượt chuẩn, đào tạo chính quy hay
không chính quy, chất lượng và uy tín của cơ sở đào tạo.
- Sự hài hòa giữa các yếu tố trong đội ngũ:
+ Hài hòa giữa chức vụ, ngạch bậc và trình độ đào tạo; giữa phẩm chất
đạo đức và năng lực chuyên môn.
20
+ Sự hài hòa giữa nội dung công việc và vị trí mà thành viên của đội
ngũ đang đảm nhận với thời gian thâm niên và mức độ trách nhiệm của mỗi
thành viên.
Từ việc phân tích, xác định nội dung, nhiệm vụ nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên THPT, những biện pháp cần được nghiên cứu nằm
trong nhóm công việc: đào tạo cơ bản ban đầu; đào tạo để đạt chuẩn và nâng
chuẩn; bồi dưỡng thường xuyên để cập nhật tri thức trong điều kiện khối
lượng tri thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng, sự thay đổi của nhà
trường, của ngành giáo dục cũng đang diễn ra không ngừng với tốc độ
nhanh; các biện pháp về tổ chức nhân sự để hoàn thiện bộ máy nhằm tạo ra
môi trường tốt cho hoạt động.
lành mạnh, là tấm gương tốt cho học sinh.
- Thương yêu, tôn trọng, đối xử công bằng với học sinh, giúp học sinh
khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt.
- Đoàn kết, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp; có ý thức xây dựng tập
thể tốt để cùng thực hiện mục tiêu giáo dục.
- Có lối sống lành mạnh, văn minh, phù hợp với bản sắc dân tộc và
môi trường giáo dục; có tác phong mẫu mực, làm việc khoa học.
2. Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục:
- Có phương pháp thu thập và xử lí thông tin thường xuyên về nhu
cầu và đặc điểm của học sinh, sử dụng các thông tin thu được vào dạy học,
giáo dục.
- Có phương pháp thu thập và xử lí thông tin về điều kiện giáo dục
trong nhà trường và tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa
phương, sử dụng các thông tin thu được vào dạy học, giáo dục.
3. Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục:
22
- Các kế hoạch dạy học được xây dựng theo hướng tích hợp dạy học
với giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học phù hợp
với đặc thù môn học, đặc điểm học sinh và môi trường giáo dục; phối hợp
hoạt động học với hoạt động dạy theo hướng phát huy tính tích cực nhận
thức của học sinh.
- Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục khác đảm bảo khả thi, sát
hoàn cảnh và điều kiện, thể hiện khả năng hợp tác, cộng tác.
4. Năng lực thực hiện kế hoạch dạy học:
- Làm chủ kiến thức môn học, đảm bảo nội dung dạy học chính xác,
có hệ thống, vận dụng hợp lý các kiến thức liên môn theo yêu cầu cơ bản,
hiện đại, thực tiễn.
- Thực hiện nội dung dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu
về thái độ được quy định trong chương trình môn học.
- Vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích
đức, chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học
và giáo dục.
- Phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt
động nghề nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu mới trong giáo dục.
Yêu cầu về chất lượng giáo viên và công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
trong trường THPT đạt chuẩn quốc gia.
Theo Thông tư số 06/2010/QĐ-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2010
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy chế công nhận trường
trung học cơ sở và trung học phổ thông có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia.
Tại Điều 6. Tiêu chuẩn 2 – Quy định về: Cán bộ quản lý, giáo viên và
nhân viên
24
1. Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng đạt tiêu chuẩn quy định theo
Điều lệ trường trung học; thực hiện tốt quy chế dân chủ trong hoạt động của
nhà trường; được cấp quản lý giáo dục trực tiếp xếp loại từ khá trở lên theo
quy định về chuẩn hiệu trưởng trường trung học.
2. Có đủ giáo viên các bộ môn đạt trình độ chuẩn đào tạo theo quy
định, trong đó ít nhất có 30% giáo viên đạt tiêu chuẩn dạy giỏi từ cấp cơ sở
trở lên; có 100% giáo viên đạt chuẩn loại khá trở lên theo quy định về chuẩn
nghề nghiệp giáo viên trung học.
3. Có đủ giáo viên hoặc viên chức phụ trách thư viện, phòng bộ môn,
phòng thiết bị dạy học được đào tạo hoặc bồi dưỡng về nghiệp vụ, hoàn
thành tốt nhiệm vụ.
Yêu cầu đặc thù của địa phương và Nhà trường
Công tác phát triển đội ngũ giáo viên căn cứ trên chuẩn nghề nghiệp
giáo viên và yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia nhưng cũng cần phải
tính đến đặc điểm tình hình của địa phương và yêu cầu phát triển của từng
nhà trường.
Với mỗi vùng miền đều có những lợi thế cũng như những khó khăn
khác nhau ảnh hưởng tới vấn đề phát triển đội ngũ. Ví dụ ở những địa bàn