Một số mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung trong KTQT - Pdf 17

Một số mô hình phân bổ chi phí
sản xuất chung trong KTQT

Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là vấn đề
cơ bản, là hạt nhân của KTQT nói chung. Mục tiêu của kế toán
quản trị CPSX và GTSP là xác định được giá phí của các loại sản
phẩm, dịch vụ sản xuất ra nhằm cung cấp các thông tin hữu ích,
trợ giúp các nhà quản trị ra được các quyết định phù hợp. Trong
các tài khoản chi phí sản xuất, việc quy nạp khoản CPNCTT,
CPNVLTT cho từng loại sản phẩm không quá phức tạp vì chúng
thường liên quan trực tiếp tới từng loại sản phẩm, từng dịch vụ cụ
thể. Riêng đối với tài khoản CPSXC, do có liên quan đến nhiều
loại sản phẩm, nhiều loại dịch vụ nên việc phân bổ, quy nạp
khoản mục này là rất phức tạp. Để xử lý vấn đề này, lý luận và
thực tiễn KTQT đã phát triển một số mô hình phân bổ chi phí sản
xuất chung sau:

1. Mô hình sử dụng một tiêu chuẩn phân bổ duy nhất
Vào những năm đầu của thế kỷ 20, khi các hệ thống xác định giá
phí trong KTQT bắt đầu được xây dựng và phát triển, hoạt động
sản xuất còn mang nặng tính thủ công. Tại thời điểm này, các
nhà quản trị cho rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa việc sử dụng
nhân công với sự phát sinh chi phí sản xuất chung. Do vậy, chi
phí nhân công (hoặc là các nhân tố liên quan đến nhân công như:
số giờ công ) đã được sử dụng là tiêu chuẩn duy nhất để phân
bổ chi phí sản xuất chung cho từng loại sản phẩm, dịch vụ.

Những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự ứng dụng mạnh

trung tâm chi phí là các bộ phận, các đơn vị trực thuộc theo mô
hình tổ chức sản xuất của doanh nghiệp. Ở giai đoạn thứ hai,
CPSXC được phân bổ từ các trung tâm đó cho từng loại sản
phẩm, dịch vụ cụ thể. Để phân bổ CPSXC, kế toán sử dụng nhiều
tiêu chuẩn phân bổ khác nhau phù hợp với bản chất của các
công việc được thực hiện ở từng bộ phận (trung tâm chi phí).

Ưu điểm của mô hình này là việc sử dụng nhiều tiêu chuẩn phân
bổ khác nhau tương ứng với từng trung tâm chi phí, mô hình
phân bổ chi phí sản xuất chung theo bộ phận đã cho phép xác
định giá phí của từng loại sản phẩm, dịch vụ một cách chính xác
hơn. Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất nhiều
loại sản phẩm khác nhau về tính chất, kích cỡ, quy trình sản xuất
phức tạp thì mô hình này vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Do vậy, mô
hình này có thể vận dụng khi có những điều kiện sau:

+ Có sự gia tăng của CPSXC, sự phong phú của các yếu tố chi
phí.

+ Doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm có sự đa dạng về mẫu
mã, chủng loại.

Sơ đồ 2: Mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung theo bộ
phận. Các khái niệm cơ bản của mô hình ABC:

Mô hình xác định giá phí trên cơ sở hoạt động hình thành một hệ
thống gồm nhiều khái niệm đặc trưng, dưới đây là một số khái

đó, chi phí sản xuất chung còn tiếp tục được quy nạp theo từng
hoạt động của quá trình sản xuất.
2. Giai đoạn 2: Phân phối chi phí cho từng loại sản phẩm, dịch
vụ. Ở giai đoạn này, chi phí đã được tập hợp theo các hoạt động
sẽ tiếp tục được phân phối cho từng sản phẩm, dịch vụ.

Sơ đồ 3: Mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung trên cơ sở
hoạt động
Kỹ thuật vận dụng mô hình ABC:

Việc vận dụng mô hình ABC phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể về
công tác tổ chức quản lý sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất
sản phẩm, năng lực quản lý của từng doanh nghiệp. Tuy nhiên,
có thể khái quát quá trình vận dụng mô hình này thành 4 bước cơ
bản sau:

1. Phân tích quá trình sản xuất thành các hoạt động: Quá trình
vận dụng mô hình ABC bắt đầu bằng việc phân tích quá trình sản
xuất của doanh nghiệp. Đó là việc phân tích một cách có hệ
thống các hoạt động hợp thành quá trình sản xuất sản phẩm,
cung ứng dịch vụ. Thông qua việc phân tích, KTQT nhận diện
được các hoạt động tiêu dùng nguồn lực, gây ra sự phát sinh
CPSXC. Thông thường, các hoạt động gây ra sự phát sinh
CPSXC bao gồm: hoạt động sử dụng nhân công quản lý sản
xuất, hoạt động sử dụng máy móc, hoạt động tiêu thụ năng
lượng, động lực, hoạt động giám sát, kiểm tra chất lượng Việc
phân tích quá trình sản xuất thành các hoạt động là rất quan

cho từng loại sản phẩm phải đồng thời cân nhắc hai nhân tố sau
đây:

- Kế toán quản trị phải có dữ liệu phong phú về nguồn phát sinh
chi phí định lựa chọn, chẳng hạn muốn chọn số lượng sản phẩm
được kiểm tra là nguồn phát sinh chi phí của trung tâm “hoạt
động kiểm tra sản phẩm” thì KTQT phải có dữ liệu về số lượng
sản phẩm, cơ cấu sản phẩm đã thực hiện kiểm tra trong kỳ.

- Nguồn phát sinh chi phí phải phản ánh được mức độ tiêu dùng
các hoạt động của từng loại sản phẩm. Chẳng hạn, nếu sự vận
động của chi phí phù hợp với số lượng sản phẩm được kiểm tra
thì nguồn phát sinh chi phí có thể được xác định là số lượng sản
phẩm.

Sau khi đã xác định được nguồn phát sinh chi phí, kết hợp với dữ
liệu về mức độ tiêu dùng các hoạt động (thực chất là tiêu dùng
nguồn phát sinh chi phí) của từng loại sản phẩm, CPSXC đã
được tập hợp ở các trung tâm hoạt động sẽ được phân phối cho
từng loại sản phẩm, dịch vụ.

Ưu - nhược điểm và điều kiện vận dụng mô hình ABC:

Mô hình ABC đã góp phần cải tiền hệ thống xác định chi phí, giá
thành của KTQT, đặc biệt ở những khía cạnh sau:

- Theo mô hình ABC, chi phí được tập hợp theo các hoạt động,
tức là chi phí đã được tập hợp theo nguồn phát sinh chi phí. Điều
đó tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, kiểm soát chi phí
và chỉ có nhận thức được nguyên nhân gây ra chi phí thì mới có


1.Sản phẩm được sản xuất có sự đa dạng về chủng loại, mẫu
mã, phức tạp về kỹ thuật. Quy trình chế tạo sản phẩm đòi hỏi
phải có sự kết hợp nhiều giai đoạn công nghệ, nhiều hoạt động,
2.Chi phí sản xuất chung chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng
chi phí sản xuất và ngày càng có xu hướng tăng lên.
3.Tính không chính xác của mô hình mà doanh nghiệp đang áp
dụng khá lớn làm cho thông tin được cung cấp ít có tác dụng đối
với các quản trị trong việc ra quyết định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status