Để lành bệnh tự nhiên
Chương 2
Ngay ở Vườn Sau Tôi
Lúc tôi chấm dứt những cuộc du hành qua những nước Nam Mỹ vào
năm 1973, tôi bắt đầu tính chuyện "an cư lạc nghiệp" ở một vùng lân cận
chung quanh Tucson, Arizona, nơi mà tôi sống cho đến ngày nay. Tôi cảm
thấy có sự thu hút mạnh mẽ với quang cảnh thiên nhiên của vùng sa mạc này
và tôi có những quan hệ tốt đẹp với cư dân địa phương. Một trong những sự
liên hệ này là sự quen biết với ông Sandy Newmark, một học sinh đã tốt
nghiệp ngành Nhân- chủng- học tại đại học Arizona, ông trở thành người
láng giềng của tôi tại thung lũng Esperero nằm dưới chân rặng núi Catalina.
Mới đây Sandy đã rời ngành Nhân- chủng- học để trở thành một nông gia tại
rặng núi Trắng (White Mountains) ở vùng trung tâm Arizona; rồi ông trở về
Tucson để theo học Y khoa. Ngày hôm nay ông trở thành Bác sĩ nhi khoa
cho gia đình của tôi.
Ông Sandy và bà vợ ông ta tên Linda, bà hiện nay đang là Bác sĩ tâm
thần. Họ có một cô con gái tên Sophia mang bệnh thần kinh chậm phát triển
(retard). Lúc Sophia còn nhỏ, đã có nhiều bạn bè đề nghị những phương
cách chữa trị. Một trong những cách là đưa bé đi tới một Bác sĩ nắn xương
có lối trị bệnh khá lập dị tên là Robert Fulford, ông có một số thành tích khi
điều trị những trẻ em bị hành hạ bởi đủ thứ bệnh tật. Sandy và Linda rất bái
phục ông nên họ đem bé Sophia đến cho ông Bác sĩ này để làm vài buổi điều
trị "về sọ" (cranial therapy), và Sandy lúc ấy đang học năm thứ nhất tại
trường đại học Y khoa tại trường đại học Arizona, và có làm việc với Bác sĩ
Fulford một thời gian. Ông cứ nói với tôi là tôi nên gặp ông ấy, nhưng tôi
cảm thấy không thích thú chuyện gặp gỡ, một phần là do sự thiếu quan tâm
về thuật nắn xương (osteopaths). Vốn có thành kiến với đám bác sĩ Y khoa
xoa nắn xương (osteopathic physician), tôi coi họ như bác sĩ hạng hai vốn
chỉ bày trò khéo léo với cơ thể nhiều hơn so với bác sĩ chỉnh xương thế thôi
(chiropractors). Tôi có lẽ vẫn còn mang một tư tưởng lãng mạn là tìm kiếm
thở của tôi. Rồi ông xoay cái đầu tôi theo nhiều hướng khác nhau. "Hãy lên
nằm trên bàn," ông chỉ thị cho tôi. Tôi nằm trên bàn và nhìn ông xoay trên
một bánh xe với một dụng cụ kỳ lạ nằm trên một sợi dây dài chắc chắn. Cái
dụng cụ này là "cây búa gõ" của ông, nó là cái khoan của nha sĩ được biến
chế lại thêm một cái đĩa tròn và dày có thể rung trên và dưới. Bác sĩ Fulford
ngồi trên một cái ghế nhỏ cạnh cái bàn, điều chỉnh mức độ rung của cái đĩa,
rồi ông để cái đĩa tiếp xúc với vai phải của ta. Tôi có thể cảm thấy những sự
rung động từ toàn thể phía bên phải của thân thể tôi, cảm giác nói chung là
dễ chịu và thư dãn nhưng đây khó có thể là một phương pháp chữa trị quan
trọng. Sau chừng vài phút, tay của Bác sĩ Fulford giật nhẹ và ông lẩm nhẩm,
"Rồi, tới rồi." Với câu nói đó ông di chuyển cái búa gõ tới một chỗ mới vào
hông phải của tôi. Ông tiếp tục kiểu di chuyển này trong vòng hai mươi phút,
trong lúc tôi lơ lửng mơ màng đi từ trạng thái này đến trạng thái khác; rồi
ông tắt máy, di chuyển cái ghế của ông vào phía cuối bàn, rồi đặt hai tay ông
vào hai bên đầu tôi, những ngón tay ông bao chung quanh hai tai của tôi.
Trong vòng vài phút sau đó, ông nâng niu cái đầu của tôi, truyền áp
lực nhẹ nhàng êm ái, khi chỗ này, lúc chỗ khác. Đây là một hình thức yếu
nhất để làm việc với cơ thể mà tôi cảm thấy đầu tiên trong đời, tôi có trải
qua quá nhiều cảm giác như thế này rồi đến nỗi tôi nghi ngờ nó có thể thu
lượm được kết quả gì. Đồng thời tôi cảm thấy yên tâm an ổn vì nó được làm
bởi đôi bàn tay kinh nghiệm, tự tin của Bác sĩ Fulfurd.
Khi giai đoạn điều trị này qua rồi, Bác sĩ Fulford kiểm soát sự chuyển
động của chân tay, rồi nói tôi ngồi dậy. Ông chấm dứt cuộc điều trị bằng vài
động tác khéo léo làm cột sống của tôi kêu răng rắc.
"Làm như thế này là phải tốt thôi, " ông nói.
"Ông tìm thấy gì không?" tôi hỏi.
Ông trả lời, “Không nhiều lắm. Có một số bế tắc nho nhỏ ở vai và đây
có lẽ là nguyên nhân làm cho cổ anh đau. Mạch máu ở sọ của anh rất tốt. "
Tôi cũng không có ý tưởng gì về chuyện mạch máu ở sọ (cranial
impulse) như thế nào, nhưng tôi mừng khi nghe thấy mạch máu sọ của mình
Trong thời thơ ấu anh có bị té cú nào nặng không?. . . . . Anh có biết gì
không về những hoàn cảnh chung quanh lúc anh sinh ra đời?" và có thể vài
câu nữa. Rồi ông nâng bệnh nhân đứng dậy, khám chân tay và hơi thở, xoay
đầu họ, và yêu cầu họ nằm trên bàn. Ông điều trị với đa số mọi người cách
trị giống như tôi đã được chữa: ông dùng búa gõ nhẹ khắp người, nắm một
vài bộ phận khác nhau của cơ thể cho đến khi có sự thư dãn xảy ra (tức là
khi tay cầm dụng cụ của ông bỗng bất thình lình rung lên), rồi đến ông khéo
léo xoa nắn đầu một cách tinh tế, và cuối cùng vài điều chỉnh phía sau lưng.
Ông hiếm khi tự ý giải thích những gì ông nghĩ là sai hay những gì ông cố ý
làm; nhưng nếu ai hỏi, ông sẽ rán giải thích một chút. Đa số bệnh nhân
không hỏi; họ chỉ đặt hết tin tưởng bản thân hay con cái họ vào ông và để
ông làm công việc chữa trị trong im lặng. Mọi người đều cảm thấy thư thái,
êm ái trong bàn tay của Bác sĩ Fulford, ngay cả những đứa bé hiếu động, om
sòm to miệng cũng êm dịu khi ông chạm đến chúng.
Thường vào cuối lúc khám bệnh, ông chỉ cho bệnh nhân những bài
học thể dục hàng ngày để tập, những bài thể dục mà tôi chưa từng thấy trước
đây. Có một lần ông chỉ như sau: Đứng xòe chân ra một khoảng cách bằng
vai và dang ngang hết hai cánh tay ra với bàn tay trái ngửa lên và bàn tay
mặt úp xuống. Hít sâu rồi thở ra đều đều, hãy giữ tư thế này cho đến lúc sự
căng thẳng ở phía hai vai tay và vai trở nên không còn chịu đựng nổi. Rồi từ
từ bạn đưa một cánh tay lên đầu, giữ cho chúng dang thẳng ra hết mức cho
đến lúc chúng chạm nhau. Rồi hạ cánh tay xuống và nghỉ ngơi. Tôi hỏi ông
là bài tập này có dụng ý làm gì? ông trả lời, "Nó mở lồng ngực ra và làm cho
hơi thở mở rộng ra. " Một bài thể dục khác của Bác sĩ Fulford là ngồi trên bờ
ghế, để bàn chân trên mặt đất và để hai vai xa nhau, rồi gập người tới trước
và, với hai tay nằm trong chân, dùng tay nắm lấy bàn chân. Giữ vị trí này
trong vòng vài phút, và rồi nhẹ nhàng kéo dãn ra phía dưới cột sống, làm cho
xương sống đi động dễ dàng hơn. Một đôi khi lúc bệnh nhân trở lại tái khám,
Bác sĩ Fulford khám họ và nói, "Bạn không tập thể dục gì cả” hay "Tốt lắm,
bạn đã có tập thể dục," và bệnh nhân sẽ chứng nhận lời nói của ông.
đồng nghiệp để rồi hướng đến một phương pháp trị bệnh không dùng thuốc
chỉ dựa trên sự nắn bóp khéo léo các xương. Ý hướng của ông là điều chỉnh
cơ thể bằng sự nắn bóp để cho các hệ thống lưu thông và thần kinh làm việc
trơn tru, mang lại sức mạnh lành lặn tự nhiên cho bất cứ bộ phận nào đau
yếu. Ngành trị bệnh mới mà ông thành lập năm 1874 rất thành công trong
những năm đầu, nhưng vào giữa thế kỷ hai mươi, nó phần bị che khuất bởi
sự thăng tiến ngoạn mục của nền Y khoa hiện đại, cũng thường được biết
đến như phép chữa đối chứng (allopathic medicine). Để đáp ứng, những bác
sĩ nắn bóp xương (osteopaths) bỏ đi những lời giảng dạy của Still và bắt đầu
ứng xử như những bác sĩ của nền Y khoa hiện đại (MD). Ngày hôm nay
bằng MD (bác sĩ Y khoa hiện đại) Và DO (Bác sĩ xoa nắn xương) coi như
tương đương; một số bác sĩ bóp nắn xương dựa vào thuốc và giải phẫu, một
số ít dùng sự xoa nắn khéo léo như là một phương thức chính để trị bệnh.
Tuy thế, luôn luôn có một thiểu số truyền thống trong ngành xoa nắn
xương vẫn tiếp tục công việc chữa lành bệnh mà không dùng thuốc và tiếp
tục soi sáng sự sâu sắc, sáng suốt của tổ sư A. T Still vào trong bản chất cơ
thể con người và tiềm năng làm lành lặn chính nó. Một trong những người
này là William Sutherland, vào năm 1939 ông tuyên bố với các bạn đồng
nghiệp rằng ông khám phá ra một phương diện của thể chất con người mà
ông gọi là cơ chế khí quản đầu tiên (primary respiratory mechanism), và một
kỹ thuật để cải tiến nó để rồi trở thành một phương thức được biết tới như
cách trị liệu sọ não (cranial therapy or craniosacral therapy). Sutherland thực
tập lý thuyết của ông trong vòng nhiều năm để bảo đảm sự đúng đắn của nó
trước khi công bố ra công chúng. Tuy thế nó cũng bị chống đối nhiều, và chỉ
một phần nhỏ bác sĩ xoa nắn xương (osteopaths) chấp nhận nó. Một trong
những người chấp nhận lý thuyết chữa trị sọ đó là Bác sĩ trẻ Robert Fulford,
lúc đó ông mới bắt đầu hành nghề chữa bệnh tổng quát tại Cincinati.
Sự sáng suốt của Sutherland tỏ lộ khi ông cho rằng hệ thống thần kinh
trung ương và những cấu trúc liên hợp với nó ở trong trạng thái di chuyển
nhịp nhàng với nhau, và sự chuyển động này là một yếu tố chủ yếu- có lẽ là
Michigan, phân khoa Y khoa xoa nắn đã chứng thực lý thuyết của
Sutherland bằng những phim quang tuyến X chụp sọ người đang sống biểu
hiện rõ chuyển động của sọ. Những chuyển động này được đo bằng những
dụng cụ thật nhạy cảm. Bác sĩ Bob Fulford đưa ra ý kiến rằng dụng cụ nhạy
cảm nhất chính là bàn tay của người bác sĩ hành nghề. Ông ta tự huấn luyện
mình đến mức có thể cảm nhận được một sợi tóc người dưới một chồng giấy
mười bảy tờ, và ông nói rằng bất cứ người nào cũng có thể rèn luyện được
sờ mó nhạy cảm tương tự nếu tập luyện và thực hành đầy đủ.
Dưới sự hướng dẫn của Bác sĩ Fulford, tôi bắt đầu tập trung trí não để
xem tôi có thể khám phá ra nhịp của sọ. Lúc đầu tôi chỉ cảm thấy nhịp của
tôi, nhưng càng thực tập tôi bắt đầu cảm thấy sự chuyển động tinh tế như hơi
thở mà Bác sĩ Fulford coi đó là một sự biểu hiện quan yếu của cuộc sống. Ít
nhất tôi cũng nhận thấy ở những người có cơ cấu khí quản đầu tiên tốt đẹp.
Có lần ông yêu cầu tôi cảm nhận với cái đầu của một người đàn bà mà ông
nói rằng nhịp sọ của bà không phát hiện được. Bà ta bị vài tai nạn hiểm
nghèo, có một lần hai mươi năm trước đây, và giờ đây bà lãnh hậu quả là
cảm thấy mệt mỏi ghê gớm, mất ngủ, nhức đầu kinh niên, thị lực yếu, ăn khó
tiêu, và có mức độ dễ bị nhiễm trùng cao. Cái đầu bà như một cái bao xi-
măng, đó là một khối trọng lượng chết, nhịp đập của cuộc sống không hiện
diện. Sau vài lần điều trị, những chuyển động sọ của bà bắt đầu trở lại, và
lúc chúng trở lại thì sức khỏe bà bắt đầu có tiến bộ.
"Những gì đã gây ra sự suy yếu của hệ thống cơ thể của bà này." Tôi
hỏi Bác sĩ Fulford.
"Sự chấn thương" Bác sĩ trả lời, "Có ba loại chấn thương. Chấn
thương đầu tiên là chấn thương lúc sinh ra đời (birth trauma). Nếu hơi thở
đầu tiên của đời sống không được hoàn toàn đầy đủ, những nhịp điệu của sọ
(cranial rhythms) bị bế tấc từ lúc khởi đầu. Hơi thở đầu tiên rất là quan trọng.
Trong suốt cuộc đời tôi, tôi đã thấy vấn đề này ngày càng gia tăng, và tôi
nghĩ rằng đây là một vết đen đối với ngành sản khoa. Lý do thông thường
thứ hai là chấn thương thể chất, đặc biệt là lúc còn trẻ. Bất cứ sự té ngã hay
một trong những thứ bệnh nhiễm trùng. Thay vào đó, đối với tôi bệnh của
ông có vẻ là bệnh sưng ruột kinh niên (chronic inflammatory bowel disease),
rất có thể là bị viêm ruột (ulcerrative colitis), và tôi thúc dục ông đi gặp một
bác sĩ chuyên đường ruột nổi tiếng tại trung tâm sức khỏe tại đại học
Arizona. Kim là con trai của một bác sĩ trị phổi tại New York và ông đặt
niềm tin rất nhiều vào nền Y khoa hiện đại. Niềm tin này bị thử thách, vì sau
một thời gian làm những loạt những thí nghiệm dài và tốn kém, và sau
những lần phân tách mẫu ruột, bác sĩ cũng không thể tìm ra nguyên ủy của
vấn đề, ngoại trừ chỉ nói rằng ruột của Kim bị tổn hại và bị viêm kinh niên.
Đây có thể là do bệnh viêm ruột. Người bác sĩ đường ruột nói với tôi, "Tôi
nghĩ là chúng ta nên lấy thêm nhiều tế bào khác thì có thể chúng ta mới biết
ông ta mắc bệnh gì. " Những điều phát biểu này có vẻ không được hứa hẹn
lắm, và vì thấy ông Kim ngày càng cháy túi vì móc tiền trả chi phí trị bệnh,
tôi khuyến cáo ông nên tìm một cách chữa trị khác. Rồi tôi chợt nhớ tới bác
sĩ Fulford và gửi ông Kim đến gặp bác sĩ Fulford.
Kim có một lịch sử dài chơi những môn thể thao đụng chạm, bao gồm
cả đánh bốc-ông là võ sĩ đánh bốc hạng nặng trong quân đội - và đã bị chịu
nhiều vết chấn thương. Tôi nhận thấy là ông luôn thở bằng miệng. Thêm vào
với vấn đề đường ruột, ông còn than phiền thêm là bị đau lưng và cổ. Tôi
thấy dường như Bác sĩ Fulford có thể nhìn thấy ý nghĩa của toàn bộ vấn đề,
nhưng phần tôi nhìn thấy trước hai vấn đề. Điều thứ nhất là giai đoạn bây
giờ Bác sĩ Fulford chỉ khám những bệnh nhân dưới ba mươi tuổi, một giới
hạn ông đề ra vì sự chữa bệnh của ông không kiểm soát nổi trong khi danh
tiếng của ông ngày càng lớn mạnh. Một hôm ông nói với tôi, "Tôi gần tám
mươi tuổi rồi, tôi không thể làm việc đến kiệt lực nữa. Năng lực của tôi để
dành cho những người trẻ; sự phản ứng của cơ thể họ đưa đến sự lành lặn
mạnh mẽ hơn, " ông cũng đã sáng chế cái búa gõ để làm cho việc chữa bệnh
của ông được dễ dàng hơn. Ông nói là chuyện chữa bệnh có thể làm bằng
tay không, nhưng phải bỏ nhiều công sức hơn.
Vấn đề thứ hai là Kim lớn lên và quen thuộc với nền Y khoa hiện đại
về căn bệnh này. Ông trả lời tôi, “Ông Cliffton đã không đến sớm hơn. Toàn
bộ cơ cấu hô hấp đầu tiên của ông ta bị ngưng trệ. Tôi nghĩ là ông sẽ xuống
dốc mau chóng. "
"Liệu ông có thể giúp ông ta không."
“Ồ, có chứ, tôi tạo ra một số khai thông chính từ nhiều bộ phận của cơ
thể ông ta, giải tỏa một số nhiều các chấn thương, và làm cho những nhịp
đập (impulses) lưu chuyển trở lại. Khi nào mà dây thần kinh phế vị (vagus
nerve) lên tiếng, thì lúc đó coi như ông ta khỏi bệnh ngay. Giờ này ông ấy
nên thoải mái và để cho cơ thể tự nhiên lành lặn. "
Sáu tiếng đồng hồ sau khi được điều trị, chứng tiêu chảy của Kim
ngừng lại lần đầu tiên trong vòng tám tháng nay, và bệnh này không bao giờ
trở lại nữa. Ba tháng kế tiếp theo ông lấy lại sức nặng và năng lực ngày nào.
Chỗ đau ở sau lưng và cổ mất đi, và ông không còn thở bằng miệng nữa.
Sau này Kim nói với tôi, “Ông ấy đã cứu đời tôi. Tôi phải tin rằng ông
ấy cứu đời tôi." Kể từ đó Kim trở thành người tin tưởng cách chữa ngoại
khoa (alternative medicine) nói chung một cách nồng nhiệt, và khoa nắn bóp
xương (osteopathy) nói riêng. Sự chữa trị này đã tạo nhiều ấn tượng sâu sắc
đến nỗi tôi muốn tạo ra một diễn đàn để thảo luận trường hợp bệnh lý này
với Bác sĩ Fulford, Kim và bản thân tôi, cùng người bác sĩ trị chứng đường
ruột của bệnh viện. Vị bác sĩ này nói ông cũng thích thú với trường hợp này
nhưng không xuất hiện hôm hội thảo. Khi tôi hỏi ông tại sao, ông trả lời,
"Xem đó, tôi không muốn tranh cãi về sự thành công chữa trị, nhưng tôi
không tin là sự chữa trị bằng khoa xoa nắn xương (osteopathic treatment) có
liên hệ gì đến kết quả."
Cách đó không lâu tôi lại có thêm một cơ hội để chứng kiến tài năng
của Bác sĩ Fulford làm việc với cơ thể con người, lần này là lần đầu tiên. Tôi
đang làm việc trong vườn của tôi với một người bạn. Một tai nạn kỳ dị đã
xảy ra mà cho đến giờ này tôi cũng không sao nhớ lại hết toàn diện, anh bạn
tôi đứng dậy lúc tôi đang cúi cong xuống, và vai anh ta đụng mạnh ở phía
bên mặt của mặt tôi, khoảng trên tai tôi một chút. Tôi bị đau điếng người, và
Fulford dùng để trị bệnh nhiễm trùng tai cho trẻ em.
Sự nhiễm trùng tái diễn của tai giữa (bệnh viêm tai giữa: otitis media)
là trường hợp dễ thấy nhất của các bác sĩ trị bệnh trẻ em; nó phổ cập đến nỗi
có một số người ngày càng tăng trong xã hội chúng ta chấp nhận nó như là
một phần bình thường của sự lớn lên. Những cách trị bệnh quy ước
(conventional) thường dùng trụ sinh (antibiotics) và dùng thuốc phá tan sự
tắc nghẽn (deconges- tants) và đôi khi dùng giải phẫu để thay những ống
xuyên qua màng tai đến màng sức ép bằng nhau (equalize pressure). Thông
thường sự điều trị bằng thuốc sẽ chấm dứt các giai đoạn nhiễm trùng dù sớm
hay muộn, để rồi nhường chỗ cho những giai đoạn mới tái diễn xâm nhập
với mức độ thường xuyên.
Bác sĩ Bob Furford thành công một cách vượt bực khi chấm dứt chu
kỳ nhiễm trùng một cách vĩnh viễn ở những trẻ con, thường chỉ với một lần
điều trị trong đó ông tìm cách tập trung giải tỏa chỗ xương cùng (sacrum). "
Tôi đẩy nó ra khỏi chỗ xương cùng." đó là câu nói của ông về cách ông làm,
bởi vì ông nhận thấy phần sọ cuối của hệ thống sọ thường là chỗ bị bế tắc ở
trẻ con, có lẽ là từ sự chấn thương gây ra lúc chào đời. Ông giải thích tình
trạng này như sau:
"Lúc xương cùng bị bế tắc, toàn cơ cấu hô hấp đầu tiên bị hư hại.
Thêm vào chuyện này là hơi thở bị hạn chế, và nó là sức mạnh của hơi thở -
áp suất của nhịp thở thay đổi trong lồng ngực - nó đã bơm hệ thống bạch
huyết cầu (lymphatic circulation). Khi hệ thống bạch huyết cầu không vận
chuyển thích hợp thì sẽ gây ra những chất dung dịch dơ từ đầu và cổ. Những
dung dịch dơ trì trệ tập trung ở tai giữa, tạo thành một nơi lý tưởng cho vi
trùng sinh sôi nẩy nở. Bạn có thể tẩy đi bạn muốn bằng thuốc trụ sinh,
nhưng nếu bạn không sửa cái vấn đề sâu kín (underlying problem) của sự trì
trệ dung dịch trì trệ, chúng sẽ quay trở lại. " Chắc chắn đây là kinh nghiệm
của trẻ con, cha mẹ, và bác sĩ trẻ con; vi trùng vẫn trở lại sau khi dùng trụ
sinh để tẩy sạch chúng.
Tôi đã nhìn thấy rất nhiều trường hợp bệnh này tại phòng mạch của
nhưng rất sáng sủa đi kèm với sự khôn ngoan và đầy những kiến thức ích lợi
thực dụng. Sau đây là những tư tưởng tôi gạn lọc từ những cuộc nói chuyện
với ông mà tôi cảm thấy vô cùng hữu ích trong lúc tôi trị bệnh với tư cách là
một bác sĩ.
* Cơ thể muốn được khỏe mạnh. Sức khỏe có với điều kiện là có sự
thăng bằng toàn hảo, khi tất cả những hệ thống luân lưu thông suốt và năng
lực lưu thông tự do. Đây là điều kiện tự nhiên, là điều kiện trong đó sự cố
gắng yếu nhất được tiêu dùng; cho nên, khi cơ thể mất thăng bằng, nó muốn
trở về tình trạng thăng bằng. Sự điều trị có thể và nên tận dụng khuynh
hướng này để tái tạo điều kiện cho sức khỏe.
* Sự lành lặn là một sức mạnh tự nhiên. Khi Bác sĩ Fulford khuyên
bệnh nhân nghỉ ngơi và "để cho Bà Mẹ già tự nhiên làm công việc của bả,"
ông đang bày tỏ lòng tin chân thành bằng một lối nói bình dân tới câu nói
"Hãy vinh danh sức mạnh lành lặn" (vis medicatrix naturae) của Hippocrates,
một khái niệm dường như bị nền Y khoa quy ước hiện tại quên đi. Trong
những năm tôi học tại trường Y khoa Havard, tôi không bao giờ nghe ai nói
điều đó với tôi và với bạn đồng môn của tôi, cũng như không có giáo sư Y
khoa nào hiện nay nói với sinh viên điều trên. Điều đó dường như đối với tôi
là điều khiếm khuyết khôn ngoan đơn lẻ lớn nhất của nền Y khoa tân tiến,
một sự khiếm khuyết có nhiều sự cụ thể thực tế lớn lao, vì nó góp phần tạo
nên sự bất lực của chúng ta trong khi đi tìm kiếm những phương thức có giá
cả phải chăng cho những vấn đề sức khỏe thông thường của chúng ta.
Cô bạn Linda Newmark nói Bác sĩ Fulford nói với cô rằng điều tốt
nhất mà cô có thể làm cho ông chồng Sandy của cô lúc ông còn ở trong
trường thuốc, là mang ông ra ngoài thiên nhiên để đi bộ thường xuyên. Ông
giải thích với cô, “Ông ấy sẽ cần chuyện đó để cân bằng những thứ khác mà
họ nhét vào đầu ông ta."
* Cơ thể là một khối toàn thể và tất cả những bộ phận đều liên kết với
nhau. Bác sĩ Fulford có một sự hiểu biết sáng suốt, tự nhiên khi cho cơ thể
như một hệ thống làm việc thống nhất (a unified functioning system). Khi
Fulford tin rằng sự chấn thương tâm lý có thể ảnh hưởng đến sự chuyển
động hô hấp của hệ thống thần kinh trung ương, cũng như ông giả định rằng
những sự tác động của thể chất, bởi kết quả của chúng trên hệ thống thần
kinh, sẽ làm cho chức năng thần kinh cải tiến. Ông thường xuyên nâng chỉ
số thông minh IQ của những trẻ em chậm phát triển bằng phương pháp
chỉnh sọ của ông; thực ra ông quá sức thành công về môn này đến nỗi một
bệnh viện dành cho những trẻ em chậm phát triển ở vùng Louisiana mời ông
một năm vài tuần để trị liệu cho những bệnh nhân trẻ em tại bệnh viện họ.
* Niềm tin của người thầy thuốc trị liệu ảnh hưởng mạnh đến sức
mạnh lành lặn của bệnh nhân. Bác sĩ Fulford tin rằng những bệnh nhân ông
trị sẽ khá hơn. Ông có một niềm tin đơn giản, thành thật và đẹp đẽ về tiềm
năng lành lặn của họ mà ông thường liên lạc với họ bằng nhiều cách, dù là
đối thoại hay không đối thoại. Đó là một lý do làm cho nhiều người hướng
về ông. Ông cũng cẩn thận chọn ra những trường hợp bệnh lý mà ông nghĩ
là ông có thể giúp được. Nếu bạn bị gãy xương, ông sẽ nói với bạn như thế
này, "Tôi không thể làm gì được với cái xương gãy. Hãy để cho tự nhiên làm
lành lặn nó, rồi sau đó hãy đến với tôi, và rồi tôi sẽ lấy sự chấn động của vết
thương ra khỏi hệ thống cơ thể của anh." Ông cũng không bao giờ trị những
vấn đề đòi hỏi sự giải phẫu hay những hình thức khác của sự điều trị chăm
sóc có tính cách khẩn cấp.
Khi ông càng lớn tuổi, và sự đòi hỏi ông tăng lên càng nhiều, ông tìm
cách hạn chế số tuổi của bệnh nhân để chữa. Trước đây là hai mươi lăm tuổi,
giờ thì hai mươi. Lý tưởng nhất là ông muốn hạn chế sự chữa trị của ông chỉ
dành cho trẻ em, bởi vì ông cho rằng, " vì khả năng lành lặn của trẻ em rất
lớn, và những sự bế tắc không có thời gian để đóng trụ trong cơ cấu cơ thể. "
Ông cũng có ý nghĩ rằng tất cả những đứa bé mới sinh phải được phòng
bệnh, bởi vì, " có rất nhiều những bệnh sau này trong đời là do những kết
quả tích tụ lâu đời của sự chấn thương lúc sinh ra, và trong hai mươi bốn
tiếng đồng hồ đầu tiên, xương mềm như thạch vậy (jelly); không cần đổ
công sức để sắp xếp trở lại theo hướng chúng phải như thế. "