Bài thuyết trình: cản trở nhập
cá tra, cá ba sa việt nam vào
mỹ trái với ggieepj định
thương mại
Bài thuyết trình ngoại thương
Cản trở nhập cá tra, cá ba sa VN vào Mỹ trái với HĐTM
11/06/2001 - Quan hệ Việt Mỹ
1.Ngày 4-10-2001, Hạ viện Mỹ đã thông qua dự luật HR 2964 không cho phép
bất cứ loài cá nào không thuộc họ cá nheo Mỹ Ictaluridae (họ cá được nuôi
phổ biến tại Mỹ) được mang tên thương mại là cá "catfish". Tiếp theo đó,
ngày 25-10-2001
Thượng viện Mỹ lại thông qua dự luậT HR 2330 về phân bổ ngân sách tài
chính cho khu vực nông nghiệp năm 2002, trong đó có điều khoản sửa đổi số
SA 2000 với nội dung: "Không cho phép Cục quản lý thực phẩm và dược
phẩm (FDA) sử dụng bất kỳ khoản ngân sách nào vào việc cho phép nhập
khẩu cá hoặc sản phẩm cá có tên "catfish", trừ các sản phẩm cá thuộc họ
Ictaluridae.
Việc Thượng viện Mỹ thông qua điều khoản sửa đổi SA 2000 và việc Hạ viện
Mỹ thông qua dự luật HR 2964 là việc làm sai trái, nhằm mục đích bảo hộ và
dành độc quyền cho ngành sản xuất cá nheo của Mỹ, hoàn toàn đi ngược lại
tinh thần của Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ.
Tại khoản 3 Điều II Chương I của Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ quy định, mỗi bên
dành cho hàng hóa có xuất xứ tại lãnh thổ của bên kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn
sự đối xử dành cho hàng hóa nội địa tương tự về mọi luật, quy định và các yêu cầu khác
có ảnh hưởng đến việc bán hàng, chào bán, mua, vận tải, phân phối lưu kho và sử dụng
trong nước. Có thể kể nhiều điểm quy định trong Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ về việc
mỗi bên phải dành cho hàng nhập khẩu từ lãnh thổ bên kia sự đối xử không kém thuận lợi
hơn sự đối xử tốt nhất dành cho hàng nội địa tương tự.
Quy định về tên cá tại dự luật HR 2964 do Hạ viện Mỹ thông qua ngày 5-10-2001 xuất
phát từ yêu cầu của Hiệp hội Chủ trại nuôi cá nheo của Mỹ (CFA). Hiệp hội này cho rằng
bắt nguồn từ sự bực tức của các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ do việc giá cá nheo Mỹ bị giảm
khoảng 10% trong thời gian gần đây. Hiệp hội Chủ trại nuôi cá nheo Mỹ (CFA) cho rằng
đó là do cá tra và ba sa của Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ quá nhiều (!). Với sản lượng cá
nhập khẩu từ Việt Nam chiếm không tới 2% sản lượng cá nheo tiêu thụ tại Mỹ, làm sao
có thể nói là giá cá nheo Mỹ giảm là do cá nhập khẩu từ Việt Nam.
Theo bản báo cáo "Tình hình nuôi thủy sản" ngày 10-10-2001 của Cơ quan Nghiên cứu
Kinh tế thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ và những kết luận của công trình nghiên cứu "Xu
hướng hiện tại trên thị trường cá nheo Mỹ" do Công ty Consulting Trends International
của Mỹ công bố ngày 26-10-2001, dựa trên việc phân tích các tài liệu chính thức của
Chính phủ Mỹ, thì nguyên nhân chủ yếu gây nên việc giảm giá cá nheo ở Mỹ là do các
chủ trại nuôi loài cá này đã tăng đầu tư quá mức cho các ao nuôi, khiến sản lượng cá
thương phẩm tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm ngoái, đồng thời do cá nheo phải cạnh
tranh với sản phẩm gia cầm đang giảm giá và do tình hình suy giảm nói chung của nền
kinh tế Mỹ.
Hiệp hội Chủ trại nuôi cá nheo Mỹ đã bỏ ra rất nhiều công sức và tiền của để tiến hành
những chiến dịch tuyên truyền rộng lớn trên các mạng thông tin đại chúng để bôi xấu
hình ảnh của cá tra và cá ba sa Việt Nam và chống lại việc nhập khẩu các loại cá này. Họ
cố tình không thừa nhận một sự thật hiển nhiên là các loại cá của Việt Nam có chất lượng
cao, thơm ngon, cơ thịt mềm mại, được xuất khẩu sang nhiều thị trường trên thế giới và
được người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng. Đồng thời chất lượng sản phẩm và chất
lượng nước để nuôi cá hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu về an toàn vệ sinh và sức khỏe của
người tiêu dùng Mỹ. Từ năm 1998, Chương trình Kiểm soát dư lượng thủy sản nuôi đã
được thực hiện trên các vùng nuôi tập trung của Việt Nam, kết quả giám sát thường
xuyên được gửi đến FDA và Chương trình này đã được chính cơ quan FDA của Mỹ công
nhận.
Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ là cố gắng lớn của cả hai phía trong việc bình thường
hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai
nước, tạo cho giới doanh nghiệp niềm tin vào khả năng phát triển thương mại và đầu tư
giữa hai bên. Rõ ràng, việc Hạ viện Mỹ thông qua Dự luật HR2964 và việc Thượng viện
Mỹ thông qua điều khoản SA 2000 bổ sung vào Dự luật HR2330 là việc làm đi ngược lại
dụng phương thức khác để giảm chi phí, dẫn đến rủi ro về phía bán hàng. Dù xuất khẩu cá
tra có thể tiến triển tốt hơn ở thị trường Ucraina, nhưng không phải vì vậy mà có thể cho
rằng đã khởi sắc. Nhưng theo các DN chế biến thủy sản, Ba Lan và Hà Lan mới là “đại
diện” thật sự của mảng tối trong bức tranh xuất khẩu cá tra năm 2009. Tỷ lệ sụt giảm 2 thị
trường này ngày càng cao, giảm lần lượt 45,5% và 29% so với cùng kỳ 2008, góp phần lớn
vào sự sụt giảm xuất khẩu cá tra ở thị trường EU.
Trong khi đó, mảng sáng của việc xuất khẩu cá tra lại khá ấn tượng, khi mức tăng tại thị
trường Mỹ và ASEAN nhập khẩu cá tra có 2 con số, tăng 70% (116 triệu USD) và tăng
13% (75,6 triệu USD). Nhưng rất tiếc, sau khi thua trong vụ kiện chống bán phá giá, Mỹ
không còn là thị trường chính của cá tra Việt Nam hiện nay, ASEAN càng không. Do vậy,
thay vì lợi dụng cơ hội để bứt phá, cá tra Việt Nam năm 2009 lại trải qua giai đoạn khó
khăn nhất không chỉ với người nuôi mà cả với nhà chế biến.
• Tiên trách kỷ, hậu trách nhân
Sự phát triển vượt bậc và ngày càng có nhiều thị trường tiêu thụ cá tra, ba sa VN (lên đến
khoảng 140 quốc gia), lại xuất hiện nguy cơ bị nói xấu. Không ít nước đã và đang sử dụng
phương tiện truyền thông nhằm “hạ bệ” sản phẩm cá tra, ba sa nhằm bảo vệ sản phẩm các
nước sở tại thay vì dùng biện pháp chống bán phá giá để tăng thuế như Mỹ. Có điều cũng
phải thừa nhận: “Nếu không có lửa làm sao có khói?” Sự bất ổn tại một số thị trường nhập
khẩu như Nga và thông tin xấu “bôi bẩn” cá tra ở không ít quốc gia như Tây Ban Nha, Ý,
Ai Cập… đều có nguyên nhân từ chính DN Việt Nam.
Hiện nay, một số DN xuất khẩu (chủ yếu không có nhà máy chế biến và xuất ủy thác)
chuyên mua gom cá chết, cá ngộp trong quá trình thu hoạch và vận chuyển, cá dạt tại nhà
máy sau đó nhờ gia công chế biến và trộn vào sản phẩm chất lượng để xuất khẩu. “Ổ dịch”
này tập trung ở An Giang và TP Cần Thơ, kế đến là Tiền Giang, Đồng Tháp… Phó Chủ
tịch VASEP, ông Nguyễn Hữu Dũng nhiều lần phát biểu, một số DN đã tự “bôi bẩn” uy tín
cả ngành khi “tàn phá” chất lượng cá tra, ba sa xuất khẩu, mùi vị cá không còn mà chỉ
có… nước do tỷ lệ mạ băng lên đến 20%-30% thay vì 10%. Và chỉ cần 1 nước “la lên” lập
tức ảnh hưởng đến những nước nhập khẩu khác.
Đó là hậu quả của sự cạnh tranh không lành mạnh, thay vì nâng cao chất lượng, đa dạng
sản phẩm, tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng, không ít DN lại dùng chiêu giảm giá bán.
(USDA) đề xuất. Một quyết định không chỉ có ý nghĩa về mặt ngôn từ mà căn cứ
theo Đạo luật Nông nghiệp, cá da trơn sẽ phải chịu kiểm tra chặt chẽ hơn nhóm cá
tra, basa (pangasius).
Thứ ba, 22 Tháng bảy 2003, 08:52 GMT+7
Bộ Thương mại Mỹ (DOC) vừa ra quyết định tăng biên độ thuế chống bán phá giá
đối với sản phẩm cá basa filê đông lạnh đến từ VN, bất chấp dư luận trong nước
đang lên tiếng phản đối vụ kiện này. Trong số các công ty thủy sản VN bị đề xuất
áp thuế, Agifish chịu mức tăng lớn nhất, từ 44,76% lên 47,05%.
Mức thuế mới dành cho các công ty còn lại trong vụ kiện là:
Tên công ty
Mức thuế theo
quyết định
ngày18/6/2003
Mức thuế
mới
Nam Việt 52.90% 53.68%
CATACO 45.55% 45.81%
Vĩnh Hoàn 36.84% 36.84%
7 công ty nhỏ 44.66% 45.55%
Các nhà nuôi cá da trơn của Mỹ đã thành công trong việc kiện lên Washington quyết định áp đặt thuế
chống bán phá giá với biên độ từ 36% đến 64%. Nhưng những cái tên “basa”, “tra” và “swai”
đã không làm giảm sức mua của người tiêu dùng Mỹ. Trên bàn ăn của cả người dân bản địa đến người
Việt hay các quốc gia khác đều lựa chọn mặt hàng cá tra, basa Việt Nam vì chất lượng thơm ngon, giá cả
phải chăng. Và trên hết, ngay chính những người dân Mỹ lại phải móc hầu bao thêm từ vài xen đến vài
đôla cho cái gọi là: “Gọi tên đúng bản chất”.
Phía những người phản đối lo ngại một khi Bộ Nông nghiệp Mỹ đưa cá tra, cá ba sa vào định nghĩa
"catfish" đồng nghĩa với việc "cấm cá Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ". Một số quan chức tại Bộ Ngoại giao
và Bộ Thương mại Mỹ cũng cho rằng, cá da trơn nhập khẩu đang là mục tiêu xem xét không công bằng,
đặt biệt là cá tra, cá ba sa của Việt Nam. Người phát ngôn của Hiệp hội thủy sản Mỹ, ông Gavin Gibbons
nói, đây là vấn đề hoàn toàn mang tính thương mại, không liên quan gì đến an toàn vệ sinh thực phẩm vì
hơn ai hết Hiệp hội Nghề nuôi và Chế biến thủy sản An Giang (AFA) hiểu rõ, việc phản
đối quyết định áp tên cá tra, basa Việt Nam từ Pangasius vào dạng Catfish sẽ lắm
chông gai. Phó Chủ tịch Hiệp hội Nghề nuôi và chế biến thủy sản An Giang Lê Chí Bình
đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo An Giang xoay quanh vấn đề đã nêu.
Phóng viên (P.V): Thưa ông, việc áp tên gọi cá tra, basa Việt Nam từ Pangasius thành
Catfish nhằm áp thuế chống bán phá giá và chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt hơn về chất
lượng, một lần nữa khiến con cá tra, basa Việt Nam càng khốn khó để chen chân vào
thị trường Mỹ. Với tư cách Phó Chủ tịch Hiệp hội Nghề nuôi và chế biến thủy sản An
Giang, những người bảo vệ cho người nuôi và chế biến mặt hàng cá tra, basa ông
đánh giá như thế nào?
Ông Lê Chí Bình (L.C.B): Việc áp hai tên gọi không đồng nhất cho
thấy mấu chốt của các chính sách của người Mỹ vẫn là bảo hộ. Chính sách này đã đi
ngược lại lợi ích của Hiệp định Thương mại Việt Mỹ (BTA) và Tổ chức Thương mại
quốc tế (WTO) mà cả Việt Nam và Mỹ đều là thành viên. Cần nhấn mạnh rằng, tên gọi
chính thức hiện nay của cá tra, basa Việt Nam vẫn là Pangasius và cá tra Việt vẫn sẽ
đến thị trường Mỹ theo xu thế chung của kinh tế thị trường. Thực chất của việc áp tên
gọi như chúng ta biết nhằm mục đích hạn chế việc nhập khẩu cá tra vào Mỹ, bảo hộ
một số ít nông dân Mỹ đang nuôi loại cá nheo theo yêu cầu của Hiệp hội cá Nheo Mỹ.
Phía Việt Nam, ở đây là người nuôi cá tra, basa, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu với
sự đại diện của Hiệp hội Nghề nuôi và chế biến thủy sản An Giang xin khẳng định rằng:
Việc áp tên gọi từ Pangasius thành Catfish là bất hợp lý, các chính sách bảo hộ cần
nhanh chóng gỡ bỏ và phía Mỹ phải đảm bảo sân chơi công bằng trong tự do thương
mại. Do đó, chúng tôi mong Bộ Nông nghiệp và Chính phủ Mỹ cần có những động thái
xem xét thấu tình, đạt lý và đảm bảo tính khách quan của vụ việc.
Định nghĩa lại cá da trơn
Không phải ngẫu nhiên mà Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lẫn hàng trăm
doanh nghiệp và hàng vạn hộ nông dân nuôi cá tra, cá ba sa của Việt Nam lại chỉ quan
tâm tới điều khá đơn giản là định nghĩa con cá tra, cá ba sa của Mỹ. Theo Đạo luật
Nông nghiệp Mỹ 2008 (Farm Bill 2008) có một điều khoản mà theo ông Nguyễn Hữu
| 13-03-2010, 03:40 pm |
- Ngày 12-3, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã chính thức công bố kết quả xem xét hành chính
về thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm philê cá tra đông lạnh của VN lần thứ năm
(giai đoạn từ 1-8-2007 đến 31-7-2008).
Theo đó, có bốn công ty của VN có biên độ bán phá giá 0% là Công ty TNHH thực phẩm QVD (QVD),
Công ty CP Vĩnh Hoàn (Vinh Hoan Corp), Công ty CP chế biến và XNK thủy sản Cadovimex II
(Cadovimex II) và Công ty TNHH thủy sản Sài Gòn - Meking (Samefico). Ngoài ra, có hai công ty là bị
đơn tự nguyện chịu mức thuế suất 0,02 USD/kg gồm Agifish và East Sea. Kết quả này được giữ nguyên
sau khi DOC công bố kết quả xem xét sơ bộ vào đầu tháng 9-2009.
Theo ông Trương Đình Hỏe - tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP), đây là
một kết quả rất phấn khởi vì trong số sáu công ty được xem xét lần này có bốn công ty không phải đóng
thuế chống bán phá giá.
Trong năm 2009 xuất khẩu thuỷ sản của cả nước đạt 1,216 nghìn tấn, trị giá 4,25 tỷ
USD, giảm 1,6% về lượng và 5,7% về giá trị so với năm 2008. Tuy nhiên, đây vẫn
được coi là kết quả khả quan trước những khó khăn về nguồn nguyên liệu, thị
trường tiêu thụ, những rào cản về kỹ thuật và thuế quan của các nước nhập khẩu
Cũng trong năm 2009, Việt Nam xuất khẩu 85 loại sản phẩm thuỷ sản sang 163 thị
trường. Số lượng sản phẩm và thị trường xuất khẩu đều tăng. Trong đó, tôm đông
lạnh là mặt hàng chiếm tỉ trọng cao nhất (39,4%), cá tra 31,6%, mực, bạch tuộc
6,45%, cá ngừ 4,26%, hàng khô 3,77%, cá biển và các loại hải sản khác chiếm
14,5%
: Năm 2009 xuất khẩu cá tra vào thị trường Mỹ là 41.000 tấn, trong số 600.000 tấn xuất khẩu của Việt
Nam trên thế giới, chiếm khoảng 7%. Như vậy con số này không phải là lớn. Nếu không xuất khẩu vào
thị trường Mỹ, con số này không ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Tuy
nhiên nó có thể ảnh hưởng lớn đến uy tín của hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam.
Thị trường Mỹ là một thị trường mà chúng tôi đánh giá là tiềm năng. Vì vậy, chúng ta nỗ lực, tiếp tục vận
động từ phía chính phủ Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cũng như chính phủ
Mỹ và Bộ Nông nghiệp Mỹ làm thế nào để việc xuất khẩu này được bình thường, giúp cho mối quan hệ
thương mại giữa 2 nước ngày càng phát triển tốt hơn trong tương lai.
Bên cạnh đó, nếu cá tra, cá ba sa Việt Nam bị định nghĩa lại là catfish thì việc xuất khẩu cá tra và cá ba sa của nước ta sẽ bị
đạt 3654,1 nghìn tấn, tăng 5,3%; tôm 537,7 nghìn tấn, tăng 7,2%.
Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng năm 2009 ước tính đạt 2569,9 nghìn tấn, tăng 4,2% so với năm trước,
chủ yếu do các địa phương tiếp tục chuyển đổi và mở rộng diện tích nuôi trồng theo hướng kết hợp đa
canh, đa con. Bên cạnh đó, mô hình nuôi thuỷ sản lồng, bè tiếp tục phát triển, đặc biệt là nuôi lồng, bè
trên biển ở các tỉnh: Kiên Giang, Quảng Nam, Ninh Thuận, Phú Yên, Hải Phòng. Tính chung số lồng bè
nuôi thuỷ sản năm 2009 của cả nước đạt 98,4 nghìn chiếc, tăng 12,6 nghìn chiếc (tăng 14,7%) so với
năm 2008.
Nuôi cá tra vẫn gặp nhiều khó khăn do giá cá nguyên liệu và thị trường tiêu thụ không ổn định. Diện tích
nuôi thả cá tra năm nay ước tính đạt 9 nghìn ha, giảm 12,4% so với năm trước, trong đó nuôi cá tra công
nghiệp 6,6 nghìn ha, giảm 10,3% (Diện tích nuôi thả cá tra công nghiệp ở Đồng Tháp chỉ còn 1791 ha,
giảm 28%; Cần Thơ 999 ha, giảm 16,7%; Tiền Giang 123 ha, giảm 12,1%; An Giang 1108 ha, giảm 9%).
Sản lượng cá tra thu hoạch năm 2009 ước tính đạt 1006,3 nghìn tấn, giảm 6,9% so với năm 2008.
Cho đến thời điểm này, xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt 4,2 tỉ USD, tăng 200 triệu USD so với dự báo
hồi đầu năm nhưng lại giảm khoảng 300 triệu USD so năm 2008. Sau 10 năm tăng trưởng liên tục thì
năm 2009, xuất khẩu thủy sản đã bị âm. Nhiều bất cập đã nẩy sinh từ vùng nuôi, chế biến các sản phẩm
thủy sản xuất khẩu là Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Vấn đề đặt ra để cho ngành thủy sản ở
ĐBSCL phát triển bền vững là cần tổ chức lại quy trình sản xuất và tiêu thụ SẢN LƯỢNG XUẤT KHẨU
GIẢMTheo ước tính của Bộ Công thương, năm nay xuất khẩu cá tra sẽ đạt khoảng 1,3 tỉ USD thế nhưng
đến nửa đầu tháng 11-2009, lượng cá tra xuất khẩu chỉ gần 1,171 tỉ USD, giảm 10% so với cùng kỳ năm
2008.
Năm 2009, Việt Nam xuất khẩu thuỷ sản sang 35 thị trường chính, nhưng chủ yếu sang Nhật Bản, Hoa Kỳ. Đứng thứ nhất
về kim ngạch xuất khẩu là thị trường Nhật Bản với 760.725.464 USD, chiếm 17,89% tổng kim ngạch; tiếp theo là thị
trường Hoa Kỳ với 711.145.746 USD, chiếm 16,73%.
Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tháng 12 sang các thị trưòng so với tháng 11 không biến động mạnh. Dẫn đầu về tăng trưởng kim
ngạch trong tháng 12 là xuất khẩu sang Mexico đạt 7.355.437 USD, tăng 65,13% so tháng 11; tiếp theo là xuất khẩu sang Trung
Quốc đạt 20.654.621 USD, tăng 62,83%; Irắc tăng 45,43%, đạt 767.856 USD.
Đứng đầu về mức độ sụt giảm kim ngạch so với tháng 11 là xuất khẩu sang thị trường Nga giảm 43,87%, đạt 3.897.334 USD; sau
đó đến kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Bồ Đào Nha giảm 39,42%, đạt 2.903.204USD; Séc giảm 39,32%, đạt
1.077.698USD.
Pháp 8.258.158 83.315.217 +4,08
Hồng kông 8.679.545 79.250.123 +34,04
Mexico 7.355.437 72.196.759 +65,13
Ucraina 3.020.511 70.842.123 -38,07
Thái Lan 4.209.103 67.258.820 -38,15
Ai cập 6.226.540 59.717.130 -11,53
Singapore 6.000.347 58.221.964 +11,60
Ba Lan 5.012.028 53.021.304 +27,75
Bồ Đào Nha 2.903.204 48.176.272 -39,42
Thuỵ Sĩ 2.993.020 38.763.442 -1,82
Malaysia 2.643.932 31.683.343 +31,87
Ả Rập Xê út 3.823.367 29.688.750 +41,98
Tiểu vương quốc Ả Rập thống
nhất
1.969.434 27.119.358 -14,54
Đan Mạch 2.807.518 24.594.325 +2,05
Campuchia 1.484.511 17.244.635 -5,99
Thuỵ Điển 1.542.974 16.641.005 +19,78
Philippines 1.804.413 16.429.730 +2,61
Hy Lạp 2.361.792 16.034.493 +26,25
CHSéc 1.077.698 13.379.585 -39,32
Chính sách thủy sản của Việt Nam
Chính sách đối với ngành thủy sản
thị trường cho hàng thuỷ sản Việt Nam, dễ thấy nhất là hiệp định Đối tác kinh tế Việt
Nam – Nhật Bản (VJEPA) đã chính thức có hiệu lực. Theo đó, từ 1.10.2009, trên 86%
hàng nông sản, thuỷ sản của Việt Nam được hưởng ưu đãi rất lớn về thuế, trong đó
các mặt hàng tôm đã được giảm thuế suất nhập khẩu xuống 1 – 2%. Cho nên, từ vị trí
là thị trường nhập khẩu thuỷ sản lớn thứ hai của Việt Nam (sau EU), Nhật có khả năng
trở thành thị trường số một của Việt Nam ngay trong năm tới. Còn với thị trường Mỹ,
đứng thứ ba về nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam, theo bộ Công thương, năm sau, Việt
Ngoài ra, Hội cũng kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần tăng cường
hơn nữa vai trò quản lý nhà nước về chất lượng, giá cả thức ăn nuôi và thuốc thú y
thủy sản, tránh tình trạng giám sát thiếu chặt chẽ như hiện nay.
Hiện ĐBSCL là vùng nuôi cá ba sa, cá tra lớn nhất của cả nước. Tính đến hết tháng 7,
tổng sản lượng cá tra, cá ba sa ước đạt 480 ngàn tấn với năng suất bình quân đạt 240
tấn/héc ta.