Bài thuyết trình hệ thống thông tin quản lý thực trạng và xu hướng phát triển của thương mại điện tử ở việt nam - Pdf 23

1
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP MÔN:
Hệ thống thông tin quản lý
Chủ đề: Thương mại điện tử – Thực trạng và xu hướng phát
triển ở Việt Nam
Nhóm 4: Lê Anh Sơn
Lưu Hồng Nhung
Đinh Thị Minh
Cao Thị Anh Tuyết
Bùi Phúc Bình
Đào Anh Tuấn
Lớp: CLC – Kinh doanh quốc tế K54

LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại công nghệ thông tin ngày càng phát triển như hiện nay, những khái
niệm mới cũng từ đó liên tục được ra đời và hoàn thiện. Một trong số đó chính là
“Thương mại điện tử”(TMĐT), tuy không còn mới đối với thế giới nhưng ở Việt Nam,
khái niệm này vẫn chưa hoàn toàn được hiểu và tiếp nhận một cách đúng đắn.
Thương mại điện tử nói chung là hình thái hoạt động kinh doanh bằng các phương
pháp điện tử; là việc trao đổi "thông tin" kinh doanh thông qua các phương tiện công
nghệ điện tử. Công nghệ tiên tiến hiện nay giúp doanh nghiệp biến Website của
mình thành những siêu thị hàng hóa trên Internet, biến người mua thực sự trở thành
những người chủ với toàn quyền trong việc chọn lựa sản phẩm, tìm kiếm thông tin,
so sánh giá cả, đặt mua hàng, ký kết hợp đồng với hệ thống tính toán tiền tự động,
rõ ràng, trung thực.
Thương mại điện tử ở Việt Nam chập chững vào những năm 2000, thế nhưng từ
năm 2010, ngành thương mại “phi truyền thống” này mới thực sự bùng nổ. Nó được
coi là “đòn bẩy” để phát triển của các doanh nghiệp, nhất là khi công nghệ di động,
Internet đang đến với mọi ngõ ngách của cuộc sống.

tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các
mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thuật ngữ bao gồm
việc đặt hàng và dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá
trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc
bằng phương pháp thủ công".
2. Lịch sử hình thành.
Tiền thân của Thương mại điện tử là EFT (Electronic Fund Transfer: chuyển tiền điện
tử) giữa các tổ chức, được phát triển vào những năm 70 của thế kỷ trước. Tiếp theo
là EDI (Electronic Data Interchange: trao đổi dữ liệu điện tử) – công nghệ dùng để
chuyển văn bản, dữ liệu giữa các doanh nghiệp lớn.
Rồi đến lượt Internet ra đời vào năm 1969, ban đầu chỉ dùng trong chính phủ Mỹ,
sau đó là đến các trường đại học, viện nghiên cứu, sau đó Internet được thương mại
hóa dẫn đến sự ra đời của World Wide Web(WWW) vào những năm đầu 1990 và
hình thành tên gọi Thương mại điện tử. Các tổ chức, cá nhân đã tích cực khai thác,
phát triển thêm WWW, trong đó có các doanh nghiệp Mỹ. Các doanh nghiệp nhận
thấy WWW giúp họ rất nhiều trong việc trưng bày, cung cấp, chia sẻ thông tin, liên
lạc với đối tác một cách nhanh chóng, tiện lợi, kinh tế. Mặc dù Internet trở nên phổ
biến khắp thế giới vào khoảng năm 1994 với sự đề nghị của trình duyệt web Mosaic,
nhưng phải mất tới 5 năm để giới thiệu các giao thức bảo mật (mã hóa SSL trên trình
duyệt Netscape vào cuối năm 1994) và DSL cho phép kết nối Internet liên tục. Vào
cuối năm 2000, nhiều công ty kinh doanh ở Mỹ và Châu Âu đã thiết lập các dịch vụ
thông qua World Wide Web. Từ đó con người bắt đầu có mối liên hệ với từ
4
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
"ecommerce" với quyền trao đổi các loại hàng hóa khác nhau thông
qua Internet dùng các giao thức bảo mật và dịch vụ thanh toán điện tử.
5
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Chúng ta có thể điểm qua một số mốc thời gian quan trọng về sự phát triển của
thương mại điện tử như sau:

bởi Amazon.com với 500 triệu USD tiền mặt cộng với 45 triệu nợ và các nghĩa
vụ khác. GSI Commerce, công ty chuyên tạo ra, phát triển và thực thi trang
web mua sắm trực tuyến cho dịch vụ gạch và vữa trong kinh doanh, được mua
lại bởi eBay với 2.4 tỉ USD.
• 2012: Thương mại điện tử và Doanh số bán lẻ trực tuyến của Mỹ dự kiến đạt
226 tỷ USD, tăng 12%so với năm 2011.
3. Tình hình phát triển thương mại điện tử trên thế giới.
3.1. Toàn thế giới.
Nền tảng cũng như hạ tầng cơ sở mang tính chất tiên quyết của TMĐT quốc tế
là Internet và các phương tiện truyền thông hiện đại (vệ tinh viễn thông, cáp, vô
tuyến, các khí cụ điện tử ) đang phát triển rất nhanh chóng cả về phạm vi bao phủ,
phạm vi ứng dụng lẫn chất lượng vận hành. Nếu như điện thoại cần hơn 70 năm để
đạt mức 50 triệu người sử dụng thì Internet chỉ cần khoảng 3 năm.
Nguồn: ITU, “Internet for development”, 1999.
Internet đã đi qua 2 giai đoạn và đang bước vào giai đoạn phát triển thứ 3
7
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
• Giai đoạn 1 đặc trưng cho giai đoạn hình thành và phát triển từ đầu 1970 đến
cuối 1997. Vào thời điểm cuối 1997, tốc độ truy cập trung bình khoảng
1.5Mbps. Nội dung truyền tải chủ yếu là văn bản và đồ họa.
• Giai đoạn 2 nâng cấp hạ tầng kỹ thuật của Internet giai đoạn 1 lên tốc độ
chuẩn 35 Mbps, phát triển công nghệ ATM vào thể hiện nội dung.
• Giai đoạn 3 là thời điểm công nghệ mạng di động mở rộng phạm vi hoạt động
của Internet bằng hệ thống vô tuyến sử dụng vệ tinh với mục tiêu ứng dụng
mọi lúc, mọi nơi. Đồng thời, công nghệ “Đường thuê bao số hóa không đồng
bộ” (ASDL: asynchronous digital subscriber line) cho phép tăng tốc độ tải dữ
liệu từ Internet xuống rất nhiều. Các hệ thống truyền tải băng thông rộng
(wide band) được ứng dụng phổ biến ở các nước công nghiệp phát triển và
đang được đưa vào các nước đang phát triển.
Theo ước tính của các chuyên gia công nghệ thông tin trên thế giới, cứ 12 tháng,

Trong tổng khối lượng TMĐT toàn thế giới, thương mại B2B chiếm khoảng 50%, dịch
vụ tài chính và các dịch vụ khác khoảng 45%, bán lẻ khoảng 5%. Tuy nhiên, TMĐT chỉ
10
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
được áp dụng tương đối rộng rãi ở các nước công nghiệp phát triển (Mỹ hiện chiếm
gần 50% tổng doanh số TMĐT toàn cầu). Theo biểu đồ 6, các nước đang phát triển
mặc dù chiếm 1/3 số người sử dụng Internet nhưng hoạt động TMĐT ở các nước này
là không đáng kể.
Nguồn: UNCTAD, “ E-commerce and Development Report 2002”, Geneva.
Mặc dù con số doanh thu của TMĐT những năm qua là khá ấn tượng, tỷ lệ của TMĐT
trong thương mại toàn thế giới vẫn ở mức khiêm tốn, con số đạt cao nhất là 3.78%
tổng khối lượng giao dịch thương mại quốc tế. Theo giải thích của các tổ chức nghiên
cứu về TMĐT, điều này là do các doanh nghiệp sử dụng Internet như một công cụ
marketting nhiều hơn là một công cụ thương mại, còn người tiêu dùng vẫn chưa
mạnh dạn mua hàng qua mạng, xuất phát từ thực tế những điều kiện về kinh tế kỹ
thuật và pháp lý hiện nay cho TMĐT vẫn chưa hoàn thiện đầy đủ.
11
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
3.2. Thương mại điện tử ở các khu vực.
Tình hình kết nối Internet ở Châu Phi đang được cải thiện. Số thuê bao dial-up tăng
30% năm 2001 và đạt mức 1.3 triệu. Mặc dù vậy, chỉ 1 trong 118 người ở Châu Phi có
điều kiện tiếp xúc với Internet. Chi phí thuê đường truyền vẫn còn là một trở ngại
lớn. Thương mại B2B hầu như chỉ diễn ra ở Nam Phi, tuy nhiên tiềm năng phát triển
đã được xác định trong lĩnh vực dịch vụ trực tuyến và ngoại tuyến. Các sản phẩm thủ
công và dịch vụ nhắm đến khách hàng là người Châu Phi ở hải ngoại đang chiếm ưu
thế trong thương mại B2C.
Ở Châu Mỹ La tinh, TMĐT tập trung ở 4 thị trường Internet phát triển nhất là
Argentina, Brazil, Chile và Mexico. Nhìn chung, khoảng 50-70% doanh nghiệp ở khu
vực này có điều kiện tiếp xúc với Internet. Internet được sử dụng rộng rãi trong thu
thập thông tin và tạo lập quan hệ kinh doanh, nhưng chỉ một số ít các doanh nghiệp

ở Mỹ, thương mại B2C đã đóng góp đến 18% doanh số của một số ngành như phần
mềm máy tính, dịch vụ du lịch và âm nhạc. Điều này mở ra cơ hội tốt cho các nhà
cung cấp từ các nước đang phát triển.
13
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
4. Lợi ích Thương mại điện tử đem lại.
4.1. Lợi ích đối với các tổ chức.
 Mở rộng thị trường: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại
truyền thống, các công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận người
cung cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới. Việc mở rộng mạng lưới
nhà cung cấp, khách hàng cũng cho phép các tổ chức có thể mua với giá thấp
hơn và bán được nhiêu sản phẩm hơn.
 Giảm chi phí sản xuất: Giảm chi phí giấy tờ, giảm chi phí chia xẻ thông tin, chi
phí in ấn, gửi văn bản truyền thống.
 Cải thiện hệ thống phân phối: Giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong phân
phối hàng. Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ
bởi các showroom trên mạng, ví dụ ngành sản xuất ô tô (Ví dụ như Ford
Motor) tiết kiệm được chi phí hàng tỷ USD từ giảm chi phí lưu kho.
 Vượt giới hạn về thời gian: Việc tự động hóa các giao dịch thông qua Web và
Internet giúp hoạt động kinh doanh được thực hiện 24/7/365 mà không mất
thêm nhiều chi phí biến đổi.
 Sản xuất hàng theo yêu cầu: Còn được biết đến dưới tên gọi “Chiến lược
kéo”, lôi kéo khách hàng đến với doanh nghiệp bằng khả năng đáp ứng mọi
nhu cầu của khách hàng. Một ví dụ thành công điển hình là Dell Computer
Corp.
 Mô hình kinh doanh mới: Các mô hình kinh doanh mới với những lợi thế và giá
trị mới cho khách hàng. Mô hình của Amazon.com, mua hàng theo nhóm hay
đấu giá nông sản qua mạng đến các sàn giao dịch B2B là điển hình của những
thành công này.
 Tăng tốc độ tung sản phẩm ra thị trường: Với lợi thế về thông tin và khả năng

hóa được như phim, nhạc, sách, phần mềm việc giao hàng được thực hiện
dễ dàng thông qua Internet.
 Thông tin phong phú, thuận tiện và chất lượng cao hơn: Khách hàng có thể dễ
dàng tìm được thông tin nhanh chóng và dễ dàng thông qua các công cụ tìm
15
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
kiếm (search engines); đồng thời các thông tin đa phương tiện (âm thanh, hình
ảnh).
 Đấu giá: Mô hình đấu giá trực tuyến ra đời cho phép mọi người đều có thể
tham gia mua và bán trên các sàn đấu giá và đồng thời có thể tìm, sưu tầm
những món hàng mình quan tâm tại mọi nơi trên thế giới.
 Cộng đồng thương mại điện tử: Môi trường kinh doanh TMĐT cho phép mọi
người tham gia có thể phối hợp, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm hiệu quả và
nhanh chóng.
 “Đáp ứng mọi nhu cầu”: Khả năng tự động hóa cho phép chấp nhận các đơn
hàng khác nhau từ mọi khách hàng.
 Thuế: Trong giai đoạn đầu của TMĐT, nhiều nước khuyến khích bằng cách
miến thuế đối với các giao dịch trên mạng.
4.3. Lợi ích đối với xã hội.
 Hoạt động trực tuyến: Thương mại điện tử tạo ra môi trường để làm việc, mua
sắm, giao dịch từ xa nên giảm việc đi lại, ô nhiễm, tai nạn.
 Nâng cao mức sống: Nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp tạo áp lực giảm giá
do đó khả năng mua sắm của khách hàng cao hơn, nâng cao mức sống của mọi
người.
 Lợi ích cho các nước nghèo: Những nước nghèo có thể tiếp cận với các sản
phẩm, dịch vụ từ các nước phát triển hơn thông qua Internet và TMĐT. Đồng
thời cũng có thể học tập được kinh nghiệm, kỹ năng được đào tạo qua
mạng.
 Dịch vụ công được cung cấp thuận tiện hơn: Các dịch vụ công cộng như y tế,
giáo dục, các dịch vụ công của chính phủ được thực hiện qua mạng với chi

17
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Trong lĩnh vực ngân hàng, liên minh thẻ EMV (Euro Pay, MasterCard và Visa) được
xem là nền tảng để nhiều ngân hàng đầu tư và triển khai giải pháp phát hành thẻ
thông minh. Theo EMVCo, tính đến hết quý I năm 2011, có khoảng 1,2 tỷ thẻ chip
EMV đã được phát hành và 18,7 triệu điểm POS chấp nhận thẻ EMV đang hoạt động
trên toàn thế giới. Con số này tương đương với 40.1% tổng số thẻ thanh toán đang
được lưu thông và 71% số lượng POS đã được cài đặt trên toàn cầu.
Hầu hết các nước trên thế giới đã chuyển đổi sang hệ thống EMV từ lâu. Tiên phong
là châu Âu (chuyển đổi từ năm 1996), mà điển hình là Pháp và Anh. Ở khu vực châu
Á, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng tiến hành từ những năm 2003-2004. Ở Đông Nam Á,
Malaysia và Singapore là những quốc gia đầu tiên chuyển đổi hệ thống thanh toán
thẻ sang chuẩn EMV từ năm 2005, tiếp sau đó là Thái Lan, Indonesia, Philipine và
Việt Nam.
"Dự báo xu hướng thẻ sẽ còn tăng mạnh vào thời gian tới. Tỷ lệ tăng trưởng bình
quân dự kiến của công nghệ thẻ không tiếp xúc từ năm 2011 đến năm 2013 khoảng
24% bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như thanh toán di động, giao thông hay
chứng minh số của chính phủ. Số lượng các ứng dụng của thẻ không tiếp xúc trong
lĩnh vực dịch vụ tài chính cũng nhiều hơn so với các lĩnh vực truyền thông, giao thông
hay dịch vụ công cộng khác, đặc biệt trong thị trường thanh toán trực tuyến. Đây
cũng là xu hướng công nghệ tiếp theo mà các nước trên thế giới đang hướng tới",
một chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng phân tích.
Cũng theo chuyên gia này, sự tăng trưởng của công nghệ không tiếp xúc trong nhiều
mảng thị trường, bao gồm m-payment, vận tải và ID chính phủ, sẽ là yếu tố kích cầu,
làm tăng lượng thẻ thông minh xuất khẩu với tỉ lệ CAGR khoảng 24% từ năm 2011
đến năm 2013. Tại "mặt trận" ứng dụng, các dịch vụ tài chính sẽ chứng kiến tốc độ
tăng trưởng mạnh mẽ trong những khu vực khác nhau như viễn thông, giao thông
18
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
vận tải và các dịch vụ công. "Thị trường thanh toán trực tuyến tăng trưởng thông

• An toàn : Vấn đề an toàn trong giao dịch tiếp tục là vấn đề lớn đối với thương
mại điện tử. Nhiều khách hàng ngần ngại không muốn cung cấp số thẻ tín
dụng qua Internet.
• Toàn vẹn dữ liệu : Bảo vệ dữ liệu và tính toàn vẹn của dữ liệu là một vấn đề
nghiêm trọng. Do sự xuất hiện của các virus máy tính dẫn đến đường truyền
dữ liệu bị nghẽn, các tệp dữ liệu bị phá hủy. Tin tặc truy cập trái phép hệ thống
để lấy cắp thông tin, hủy hoại dữ liệu khiến cho khách hàng lo lắng về hệ thống
thương mại điện tử.
• Lỗi lo lắng về nâng cấp hệ thống (system scalability): Sau một thời gian phát
triển hệ thống website thương mại điện tử, số lượng khách hàng truy cập ngày
một đông sẽ dẫn đến tốc độ truy cập chậm lại, nghẽn mạng. Kết quả là khách
hàng rời bỏ website. Để tránh xảy ra hiện tượng này, các hệ thống thương mại
điện tử thường phải nâng cấp hệ thống. Để duy trì một hệ thống có được 70
triệu truy cập trong vòng hai tuần mà không xảy ra tắc nghẽn cần phải trang bị
một hệ thống phần cứng và phần mềm không rẻ.
5.2. Nhóm hạn chế mang tính thương mại.
• Thương mại điện tử đòi hỏi phải đầu tư xứng đáng: Kinh nghiệm cho thấy các
công ty thành công với thương mại điện tử thường có đầu tư lớn cho việc xây
dựng hệ thống. Các doanh nghiệp nhỏ thường không thể cạnh tranh bằng giá
cả nhất là khi tham gia thị trường rộng lớn của thương mại điện tử. Trong
thương mại truyền thống, vấn đề trung thành với thương hiệu rất quan trọng
nhưng trong thương mại điện tử vấn đề này kém quan trọng hơn.
• Quá trình tìm kiếm thông tin của khách hàng trong thương mại điện tử không
phải hiệu quả về chi phí. Nhìn bề ngoài, các sản giao dịch điện tử có vẻ như là
nơi cho phép người bán và người mua trên toàn thế giới trao đổi thông tin mà
không cần trung gian. Nếu tiếp cận gần hơn sẽ thấy xuất hiện một hệ thống
trung gian mới để đảm bảo về chất lượng sản phẩm, những người dàn xếp, các
21
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
cơ quan chứng thực để đảm bảo tính hợp pháp của các giao dịch. Các chi phí

dung liệu, hàng hóa, dịch vụ qua mạng Internet và các phân mạng của nó) thì sự
tham gia của Việt Nam mới chỉ bắt đầu từ cuối năm 1997.
Tuy những điều kiện cơ sở hạ tần cần thiết cho sự phát triển của thương mại điện tử
chưa hình thành đầy đủ, nhưng do các hoạt động hội nhập của nước ta cùng với xu
thế phát triển chung của thế giới, Việt Nam đã bắt đầu có những bước đi nhất định
để tham gia vào thương mại điện tử.
Tháng 11/1997, Việt Nam chính thức kết nối vào mạng Internet. Ngày 05/05/1997,
Nghị định 21/CP được ban hành kèm theo quy chế tạm thời về quản lý, thiết lập, sử
dụng mạng Internet ở Việt Nam. Đến nay Việt Nam đã có khoảng hơn 200.000 máy
tính có thể truy vập Internet.
Từ đó đến nay khác niệm thương mại điện tử được đề cập nhiều trên các phương
tiện thông tin đại chúng. Là thành viên của ASEAN và APEC, Việt Nam đã tham gia các
buổi thảo luôn và cam kết quốc tế về thương mại điện tử ở hai tổ chức này.
Để xúc tiến hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam, tháng 6/1998, Ban chỉ đạo
quốc gia về Công nghệ thông tin thành lập Tổ công tác thương mại điện tử nằm
trong ban này. Đến tháng 12/1998, Bộ Thương mại (cơ quan được Thủ tướng Chính
phủ giao là đầu mối chủ trì phối hợp các hoạt động về thương mại điện tử) đã thành
lập Ban thương mại điện tử trực thuộc Bộ với các chức năng giúp Bộ trưởng quản lý
chung và xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử.
Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam năm 2012 cho thấy mức độ và hiệu quả của
thương mại điện tử đối với doanh nghiệp đã rõ ràng và xu hướng ứng dụng ngày
càng tăng. Có gần 90% số doanh nghiệp Việt Nam đã thiết lập hệ thống nội bộ thông
qua thương mại điện tử để nhận đơn hàng từ khách hàng. 45% số doanh nghiệp đã
24
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
xây dựng trang mạng riêng, 15% doanh nghiệp tham gia vào các sàn giao dịch
thương mại điện tử. Hầu như tất cả doanh nghiệp đã có máy tính với tỷ lệ kết nối
internet gần 100%. Có thể thấy, trong những năm tới, mức độ ứng dụng thương mại
điện tử trong doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục tăng. Thương mại điện tử đã đi vào
thực chất, giúp doanh nghiệp có doanh thu cụ thể.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status