GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN-TRUNG QUỐC VÀ
CHƯƠNG TRÌNH THU HOẠCH SỚM
I. Giới thiệu chung về thị trường các nước ASEAN và thị trường Trung Quốc:
1. Thị trường ASEAN:
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) bao gồm 10 quốc gia, là một thị trường
tiềm năng cho các nhà xuất khẩu Việt Nam cả về quy mô và chất lượng.
Theo thống kê của Ban Thư ký ASEAN, 10 nước ASEAN có tổng cộng 541,787 triệu
dân; tốc độ tăng trưởng dân số bình quân trong những năm gần đây khoảng 1,6; 1,7%.
(ASEAN Statistical Year Book 2003), tổng kim ngạch nhập khẩu của các nước ASEAN duy trì
hàng năm ở mức trên 300 tỷ USD, năm 2000 là 359,271 tỷ USD, năm 2001 là 324,022 tỷ
USD, năm 2002 là 341,590 tỷ USD.
Trước cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, các nước ASEAN đã duy trì được
tốc độ tăng trưởng khá cao là 7,4%/năm (giai đoạn 1990-1995) và có vẻ như chưa coi trọng
việc tập trung vào hội nhập sâu hơn nữa sau AFTA. Sau cuộc khủng hoảng tài chính, do phải
đối đầu với một loạt vấn đề phát sinh, các nước ASEAN đã bắt đầu có những bước đi sau
AFTA, làm sâu sắc hơn quá trình hội nhập trong khu vực, nhằm biến ASEAN thành một cơ sở
sản xuất và thương mại thống nhất hơn, tăng cường khả năng cạnh tranh và hấp dẫn đầu tư.
Nhờ đó, các nước ASEAN đã dần lấy lại đà tăng trưởng, đạt bình quân 3,2% năm 2001; 4,4%
năm 2002. Để có thể tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng như hiện nay, hầu hết các nước
ASEAN đều có nhu cầu nhập khẩu khá lớn để phục vụ cho các chương trình phát triển kinh tế.
Đây là một dịp tốt để các nhà xuất khẩu Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu sang các nước ASEAN.
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là hiện nay lượng hàng hoá Việt Nam xuất khẩu sang thị trường
các nước ASEAN còn chưa tương xứng với tiềm năng (trung bình trong những năm gần đây
khoảng 2,5 tỷ USD/năm) do nhiều nguyên nhân, trong đó có những bất lợi thế về mẫu mã, giá
cả, dịch vụ đi kèm, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của ta và ASEAN có nhiều điểm tương đồng,
v.v. các nước ASEAN lại thường có chỉ có nhu cầu nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị công
nghệ cao từ các nước phát triển để phục vụ sản xuất trong nước.
2. Thị trường Trung Quốc
Thị trường Trung Quốc là một thị trường có sức tiêu thụ rất lớn và tiềm năng với tất cả
các nước trong đó có Việt Nam. Nước ta lại có lợi thế về vị trí địa lý gần gũi khi xuất khẩu
hàng hóa sang Trung Quốc. Sau khi quan hệ hai nước được bình thường hóa năm 1991, quan
Mặt hàng rau quả cũng có điều kiện rất tốt để thâm nhập vào thị trường Trung Quốc.
Việc Trung Quốc gia nhập WTO về ngắn hạn sẽ không làm thay đổi vị thế cạnh tranh của rau
quả Việt Nam. Về dài hạn, rau quả Việt Nam sẽ phải cạnh tranh gay gắt với rau quả của Trung
Quốc nhưng cũng có nhiều cơ hội để thâm nhập thị trường này. Theo thống kê, hiện nay tiêu
thụ rau quả của Trung Quốc chiếm tới 36% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam,
tiếp theo là Đài Loan (17%), Nhật Bản (12%), Mỹ (7%), Nga (4%)
II. Kết quả đàm phán Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc:
Tiến trình đàm phán ACFTA tập trung vào 2 đầu mối là Ủy ban đàm phán thương mại
ASEAN-Trung Quốc (TNC) và Nhóm đàm phán thương mại ASEAN (TNG). Các phiên đàm
phán chính là các phiên họp của TNC và TNG. Phiên họp toàn thể của Nhóm đàm phán
thương mại ASEAN luôn diễn ra trước phiên họp giữa các nước ASEAN và Trung Quốc 1
ngày, trong đó các nước ASEAN tiến hành thảo luận để làm rõ và thống nhất quan điểm về các
vấn đề có liên quan trước khi đưa ra với Trung Quốc. TNC gần đây nhất là TNC 19 vừa diễn
ra ngày 21-23/6/2005 tại Trung Quốc
Song song với phiên họp toàn thể là các cuộc họp của các Nhóm công tác gồm đại diện
cấp chuyên viên của các nước chuyên trách đàm phán về các vấn đề cụ thể. Hiện nay, có 4
Nhóm công tác về dịch vụ, đầu tư, quy tắc xuất xứ và cơ chế giải quyết tranh chấp. Kết quả
đàm phán tại các Nhóm công tác được báo cáo lên phiên họp TNC/TNG xem xét và quyết
định.
Các kết quả chính trong tiến trình đàm phán Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung
Quốc đến nay như sau:
1. Hàng hoá:
Theo quy định của ACFTA, lộ trình tự do hóa thuế quan của các nước ASEAN-Trung
Quốc được chia thành 4 loại danh mục hàng hóa, bao gồm: danh mục loại trừ hoàn toàn, danh
mục thu hoạch sớm, danh mục nhạy cảm và danh mục thông thường. Trong quá trình đàm
phán ACFTA chia làm 2 khối nước, khối thứ nhất sẽ thực hiện tự do hóa nhanh hơn bao gồm
ASEAN 6 và Trung Quốc, trong khi khối thứ 2 bao gồm ASEAN 4 (CLMV) sẽ tiến hành tự do
hóa với thời giam chậm hơn.
1.1. Danh mục loại trừ hoàn toàn:
Đây là danh mục các nước không cam kết tự do hoá thương mại. Theo quy định của
thảo Hiệp định dịch vụ trong khuôn khổ Hiệp định khung đã được định hình và các nước đang
bắt đầu trao đổi các yêu cầu và bản chào để đàm phán gói cam kết ban đầu. Theo dự kiến, đàm
phán dự thảo Hiệp định dịch vụ và gói cam kết ban đầu sẽ được hoàn thành trước tháng 9/2005
để Bộ trưởng kinh tế các nước ASEAN có thể ký kết vào Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN
(AEM) 37 vào cuối tháng 9/2005.
4. Đầu tư:
Cho tới TNC 14, các nước vẫn đang tiếp tục thảo luận những nguyên tắc cơ bản của dự
thảo Hiệp định đầu tư ASEAN-Trung Quốc. Quan điểm của Trung Quốc là Hiệp định
ASEAN-Trung Quốc chỉ nên bao gồm "bảo hộ và tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư". Các
nước ASEAN cố gắng thuyết phục Trung Quốc chấp nhận việc bổ sung nội dung "tự do hóa
hoạt động đầu tư". Nguyên nhân của việc Trung Quốc còn lưỡng lự trong việc bổ sung nội
dung tự do hóa là Trung Quốc chưa thực sự coi trọng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ
ASEAN, không đánh giá cao tiềm năng của các nhà đầu tư xuất xứ ASEAN. Trong khi đó, các
nước ASEAN (đặc biệt là Singapore) muốn biến ASEAN trở thành điểm đến của các tập đoàn
nước ngoài, từ đó đầu tư vào Trung Quốc để hưởng các ưu đãi về đầu tư trong Khu vực mậu
dịch tự do ASEAN-Trung Quốc
Nhìn chung, thái độ dè dặt của Trung Quốc khiến các phiên đàm phán tiến triển chậm
chạp, tuy nhiên các bên nhất trí tăng cường gặp gỡ và trao đổi ở cấp chuyên gia, tiến tới hoàn
thành Hiệp định đầu tư vào cuối năm 2004.
5. Cơ chế giải quyết tranh chấp và quy tắc xuất xứ:
Nhóm đàm phán về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa ASEAN và Trung Quốc đã gần
tiến tới thoả thuận về một số nội dung chính trong Hiệp định về giải quyết tranh chấp như cách
thức thực hiện hòa giải, thủ tục thiết lập cơ quan xét xử, chỉ định ban trọng tài. Hiện còn nhiều
vấn đề khác còn đang được các bên tranh cãi như mối quan hệ giữa cơ chế giải quyết tranh
chấp ASEAN-Trung Quốc với các cơ chế khác, điều khoản bồi thường, khung thời gian cho
các thủ tục pháp lý, tranh chấp khi có nhiều bên tham gia đồng thời Các bên nhất trí sẽ tiếp
tục thảo luận vấn đề này trong các phiên TNC sắp tới để hoàn thiện dự thảo Hiệp định trong
năm 2004.
ASEAN đề xuất áp dụng thêm quy tắc xuất xứ đặc thù, bên cạnh các quy tắc xuất xứ đã
được các bên áp dụng là quy tắc xuất thuần túy và quy tắc xuất xứ theo giá trị gia tăng. Với
Việt Nam có 484 mặt hàng dành thuế suất ưu đãi cho Trung Quốc các nước ASEAN
khác trong Chương trình Thu hoạch sớm, bao gồm các sản phẩm nông sản và thủy sản nằm
trong Chương 1 đến Chương 8 của Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi hiện hành (ban hành theo
Quyết định số 110/2003/QĐ-BTC ngày 25/7/2003 của Bộ Tài chính). Ngày 25/2/2004, Chính
phủ đã ký Nghị định số 99/2004/NĐ-CP ban hành lộ trình giảm thuế nhập khẩu cho danh mục
EHP của Việt Nam giai đoạn 2004-2008. Ngày 10-3-2004, Bộ Tài chính cũng đã có thông tư
số 16/2004/TT-BTC để hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
Sau khi tham khảo ý kiến với các Bộ, ngành hữu quan, Việt Nam loại trừ 15 mặt hàng
nằm trong Chương 1 đến Chương 8 của Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi không tham gia vào
Chương trình Thu hoạch sớm gồm: gia cầm giống vịt, ngan, ngỗng, gà tây, thịt và các bộ phận
nội tạng của gia cầm, trứng chim và trứng gia cầm, và các quả có múi như: chanh, bưởi. Mục
đích của việc loại trừ các sản phẩm này trong Chương trình Thu hoạch sớm là nhằm đảm bảo
an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng và bảo hộ sản xuất trong nước.
Trung Quốc có 531 mặt hàng dành thuế suất ưu đãi cho Việt Nam (và các nước ASEAN
khác) trong Chương trình Thu hoạch sớm (danh mục tiếng Anh các mặt hàng được Trung
Quốc cho hưởng thuế suất ưu đãi kèm theo) bao gồm các sản phẩm nông sản và thủy sản nằm
trong Chương 1 đến Chương 8 của Biểu thuế XNK của Trung Quốc.
Lộ trình cắt giảm thuế trong Chương trình Thu hoạch sớm:
Đối với Trung Quốc(và các nước ASEAN 6): Chương trình Thu hoạch sớm được thực
hiện trong vòng 3 năm. Theo đó, việc cắt giảm thuế sẽ bắt đầu từ 1/1/2004 và hoàn thành
không muộn hơn 1/1/2006 (mức thuế suất vào thời điểm hoàn thành chương trình là 0%)
Đối với các nước thành viên mới của ASEAN (CLMV) thời gian cắt giảm thuế sẽ chậm
hơn với cách thức cắt giảm thuế linh hoạt hơn. Việt Nam bắt đầu thực hiện cắt giảm thuế từ
1/1/2004 nhưng hoàn thành không muộn hơn 1/1/ 2008.
Bảng 1: Lộ trình cam kết cắt giảm thuế của Trung Quốc (và các nước ASEAN 6)
trong Chương trình Thu hoạch sớm
Nhóm mặt hàng
Không muộn
hơn ngày
1/1/2004
muộn
hơn
1/1/2007
Không
muộn
hơn
1/1/2008
Nhóm 1: Các mặt hàng
có thuế suất bằng hoặc
cao hơn 30%
20% 15% 10% 5% 0%
Nhóm 2: Các mặt hàng
có thuế suất từ 15% đến
30%
10% 10% 5% 5% 0%
Nhóm 3: Các mặt hàng
có thuế suất dưới 15%
5% 5% 0-5% 0-5% 0%
III. Đánh giá lợi ích của Chương trình Thu hoạch sớm:
Về tổng thể, Việt Nam đang nhập siêu với Trung Quốc, tuy nhiên riêng đối với các mặt
hàng trong Chương trình Thu hoạch sớm thì ta xuất siêu. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của
ta sang Trung Quốc bao gồm cá ( chương 3 ) và rau, hoa quả ăn được (chương 7 và chương 8)
1. Lợi ích về mặt thuế quan:
Theo thống kê, hiện nay trong 531 dòng thuế Trung Quốc dành ưu đãi cho ta trong
Chương trình Thu hoạch sớm, Việt Nam có 206 dòng thuế xuất khẩu sang Trung Quốc. Trong
đó:
+ Chỉ có 7 dòng thuế có thuế suất MFN 0% (tức là Trung Quốc không phải cắt giảm)
+123 dòng thuế có thuế suất trên 15% thuộc Nhóm 1,2/ Bảng 1 và 76 dòng thuế có thuế
suất từ 5-15% thuộc Nhóm 3/ Bảng 1, Trung Quốc sẽ phải cắt giảm theo lộ trình giảm thuế của
Chương trình Thu hoạch sớm.
gần 400 triệu USD, gấp 14 lần so với giá trị nhập khẩu các mặt hàng thuộc chương 1 đến
chương 8 (khoảng 28 triệu USD). Số liệu thống kê năm 2002 cũng cho thấy ta xuất siêu các
mặt hàng từ Chương 1 đến Chương 8, với giá trị xuất siêu là 212 triệu USD.
Thống kê kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng trong Chương trình Thu
hoạch sớm giữa Việt Nam-Trung Quốc năm 2002, 2003 và 3 tháng đầu năm
2004
Đơn vị: USD
Kim ngạch
12T/2002 12T/2003 3T đầu năm 2004
316.906.957 144.907.774 13.463.396
Tỷ trọng so
với tổng
kim ngạch
xuất khẩu
sang thị
trường
Trung Quốc
21,2 % 8,3 % 2,4% (so với kim
ngạch xuất khẩu sang
thị trường Trung
Quốc 3 tháng đầu
năm 2004)
Nguồn: Vụ Châu Á - TBD, Bộ Thương mại
Theo số liệu của Vụ Châu Á-Thái Bình Dương cung cấp, các mặt hàng nông sản và
thuỷ sản từ chương 1-8, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc với kim ngạch khá cao, chiếm
21,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của ta sang Trung Quốc năm 2002, tuy nhiên, sang năm
2003, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thuộc Chương 1-8 của Việt Nam sang Trung Quốc
chiếm 8,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của ta sang Trung Quốc cùng thời kỳ (có nhiều nguyên
nhân khác nhau cho việc suy giảm kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng từ Chương 1 đến
Chương 8 như giá hàng nông sản giảm, cơ cấu xuất khẩu của ta có sự thay đổi và Trung Quốc
đến năm 2004, khoản thuế này sẽ giảm xuống còn 32,7 triệu USD và chỉ còn 16,3 triệu USD
vào năm 2005. Đến năm 2006, thuế nhập khẩu của Trung Quốc đối với các mặt hàng này sẽ
không còn nữa. Đây là lợi thế quan trọng đối với hàng hoá Việt Nam để mở rộng hơn nữa khả
năng thâm nhập thị trường Trung Quốc.
Tiềm năng xuất khẩu của nước ta đối với các sản phẩm thuộc Nhóm 1 là rất khả quan.
Năm 1999, ta chỉ xuất khẩu có 27 mặt hàng thì năm 2000, ta đã có 51 mặt hàng xuất khẩu và
2001 là 123 mặt hàng. Đây là một tín hiệu cho thấy cơ hội phát triển xuất khẩu của ta sang
Trung Quốc là rất rộng mở.
Những mặt hàng được hưởng lợi nhất trong nhóm này là các loại hoa quả sơ chế (nhãn
khô, hạt điều bóc vỏ), các loại quả tươi (như dâu tây, dưa hấu, chanh, quýt), các loại thuỷ sản
thân mềm (như mực, lươn), các loại động vật thân giáp (như tôm, cua).
+ Nhóm thứ 2 ( các dòng thuế từ 5- 15%):
Số lượng các mặt hàng trong Nhóm 2 là 76 mặt hàng trong số 206 mặt hàng có kim
ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc. Theo tính toán, năm 2001 số thuế nhập khẩu của Trung
Quốc là 6,9 triệu USD. Dự kiến, năm 2004, thuế nhập khẩu của Trung Quốc đánh trên hàng
xuất khẩu của Việt Nam sẽ chỉ còn 3 triệu USD. Đến năm 2005, khoản thuế này sẽ không còn
nữa.
Ta đang khai thác các mặt hàng trong Nhóm này một cách tích cực. Nếu như năm 1999,
ta xuất khẩu chỉ có 15 mặt hàng thì năm 2000 con số này là 24 và 2001 là 76 nhóm mặt hàng.
Mức tăng trưởng như vậy là rất khả quan.
Các mặt hàng chủ yếu trong Nhóm này bao gồm như các loại củ và hạt (như sắn lát, ngô
sơ chế, đậu hà lan, khoai lang), các loại rau tươi (như nấm, măng, ớt, hành tỏi ), cá loại thuỷ
hải sản khác
+ Đối với Nhóm 3 ( Các dòng thuế từ 0-5%):
Các mặt hàng thuộc nhóm này sẽ có thuế suất bằng 0% ngay khi thực hiện nên không
có tác động cụ thể nào đối với nước ta. Bản thân ta xuất khẩu cũng rất ít với 7 nhóm hàng có
kim ngạch không lớn (khoảng 3 triệu USD) như các loại động vật sống hoặc làm giống, đậu hà
lan
III. Tác động của Chương trình Thu hoạch sớm với quan hệ thương mại Việt Nam-
ASEAN