Câu 4: Nhận xét của anh/chị về thực trạng Du lịch Việt Nam.?
Trả lời:
Ngày nay đời sống của con người ngày càng cao, họ không những có nhu
cầu đầy đủ về vật chất mà còn có nhu cầu được thoả mãn về tinh thần như
vui chơi, giải trí và du lịch. Do đó, du lịch là một trong những ngành có triển
vọng. Ngành du l ịch Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước khác trên
thế giới nhưng vai trò của nó thì không thể phủ nhận. Du lịch là một ngành
“công nghiệp không có ống khói”, mang lại thu nhập GDP lớn cho nền kinh
tế, giải quyết công ăn việclàm cho hàng vạn lao động, góp phần truyền bá
hình ảnh Việt Nam ra toàn thế giới.
Một vấn đề đặt ra làm đau đầu các nhà lãnh đạo không chỉở trong ngành du
lịch là hoàn thiện hệ thống pháp luật. Có lẽ đây là một rào cản lớn cho sự
phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành du lịch Việt Nam
nói riêng. Chúng ta chưa có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn
chỉnh, thống nhất điều chỉnh việc tổ chức, kinh doanh, trách nhiệm, quyền
hạn, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, địa phương, cá nhân tham gia kinh
doanh du lịch cũng như khách du lịch. Bên c ạnh đó, nguồn nhân lực đóng
vai trò quan trọng quyết định đến sự phát triển thì cho đến nay, chúng ta vẫn
chưa đào tạo được đội ngũ nhân viên du lịch (lái xe, tiếp viên, hướng dẫn
viên…) có nghiệp vụ, có văn hoá, biết ngoại ngữ đủ để đáp ứng yêu cầu của
thị trường đang ngày càng tăng. Hoạt động du lịch ngày càng đa dạng hoá về
sản phẩm du lịch, loại hình du lịch và chất lượng các sản phẩm du lịch. Điều
này đòi hỏi đội ngũ lao động phải không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ.
Những người làm công tác quản lý trong ngành du lịch có trình độ không
đồng đều, một số chưa qua đào tạo về quản lý doanh nghiệp du lịch. Tuy
tiềm năng du lịch rất lớn nhưng hệ thống cơ sở đào tạo du lịch còn quá ít.
Điển hình nhưở Hà Nội- một trung tâm văn hoá- chính trị lớn của cả nước
cũng chỉ có vài trường đào tạo du lịch là trung học nghiệp vụ du lịch, khoa
du lịch trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, khoa du lịch trường đại
học văn hoá, khoa du lịch viện đại học mở Hà Nội. Trong khi ngu ồn nhân
lực có chuyên môn, nghiệp vụ còn thiếu thì sự sắp xếp bộ máy cán bộ không
tranh giành khách, móc túi, lừa đảo, gây mất thiện cảm đối với du khách.
Ngành du lịch Việt Nam cũng cần phải có những biện pháp phù hợp để giải
quyết vấn đề này, để nó không trở thành vết đen của du lịch Việt Nam.
Trong khi m ột lượng lớn khách không quay trở lại Việt Nam lần thứ hai,
công tác quảng bá du lịch Việt Nam còn nhiều hạn chế nên chưa thực sự đưa
được hình ảnh Việt Nam đến được với bạn bè trên thế giới. Chúng ta chỉ tập
trung khai thác những thị trường cũ như khu vực Đông Á, Âu- Mỹ. Để du
lịch Việt Nam phát triển nhanh hơn nữa thì Việt Nam cần phải có một chiến
dịch quảng bá có chiều sâu, dài hơn vào thị trường khách trọng điểm. Nhưng
cho đến nay những việc mà ngành du lịch làm được chỉđơn giản là đăng ký
hội trợ, kêu gọi các doanh nghiệp đăng ký rồi sauđó cửđoàn đi roadshow và
trưng bày tại hội chợ. Nên chú trọng thị trường nào thì cử tăng số lượng hội
chợ. Đơn cử như tại hội chợ ITB được tổ chức thường niên tại Đức, mặc dù
ngành du lịch Việt Nam tham gia khá đều đăn nhưng lượng khách Đức đến
Việt Nam trong thời gian qua cũng chẳng tăng được là bao nhiêu. Nếu so
sánh với các nước khác thìchiến lược của ta từ logo, đến cách phát động lễ
hội, hội chợ…còn thiếu sự sáng tạo, chiều sâu. Trước thực trạng này chúng
ta cần phải có sự học tập sáng tạo công nghệ quảng bá của nước ngoài, sử
dụng loại hình quảng bá mới…để mọi người biết đến Việt Nam như một
điểm đến an toàn, thân thiện, hấp dẫn. Giải quyết được những hạn chế trên
không chỉ là công việc của riêng ngành du lịch mà đòi hỏi phải có sự giúp
sức của các ngành, các cấp. Nó đòi hỏi nhiều thời gian, tiền của nhưng
chúng ta phải làm bởi lợi ích mà du lịch mang lại còn lớn hơn nhiều. Trong
những năm gần đây, Đảng và nhà nước đã quan tâmđể phát triển du lịch bền
vững và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.