Đặc điểm của một số giống trâu trên thế giới và Việt Nam - Pdf 17

Đặc điểm của một số giống trâu trên thế giới và Việt Nam

Trâu là gia súc lớn nhai lại hay gia súc lớn có sừng, lớp động vật có
vú (Malmalia), bộ guốc chẵn (Artiodactyla), bộ phụ nhai lại (Ruminantia),
họ sừng rỗng (Bovidae), tộc bò (Bovini), loài trâu (Bubalus bubalis), giống
trâu đầm lầy (Swamp buffalo).
1. NGUỒN GỐC VÀ THUẦN HÓA
Trâu là gia súc lớn nhai lại hay gia súc lớn có sừng, lớp động vật có
vú (Malmalia), bộ guốc chẵn (Artiodactyla), bộ phụ nhai lại (Ruminantia),
họ sừng rỗng (Bovidae), tộc bò (Bovini), loài trâu (Bubalus bubalis), giống
trâu đầm lầy (Swamp buffalo).
Trâu sống hoang dã ở và. Con cháu của loài này cũng xuất hiện ở phía
bắc. Trâu hoang dã hiện nay còn rất ít, hầu hết trong số chúng đã bị lai tạp.
Thậm chí người ta còn sợ rằng hiện nay không còn loài trâu hoang dã trong
tự nhiên.
Không có tài liệu nào ghi chép lại chính xác sự thuần hóa của trâu bắt
đầu từ khi nào, nhưng nhiều tác giả cho rằng trâu đã được thuần hóa cách
đây rất lâu, khoảng 5000-7000 năm trước. Theo các nhà nghiên cứu thì trâu
được thuần hoá sau bò.
Ở châu Á, trâu được thuần dưỡng ở vùng sông Ấn và vùng Lưỡng Hà
(Irắc) từ giữa thiên niên kỷ thứ ba trước công nguyên (khoảng 30 thế kỷ
trước công nguyên). Trâu nhà được nuôi ở Trung Quốc từ 2000 năm trước
công nguyên và có lẽ được đưa từ phương Nam tới. Trâu đã có mặt ở thung
lũng Jordan lần đầu tiên vào năm 723 sau công nguyên. Chắc chắn là chúng
được người Arập đưa từ vùng Lưỡng hà vào đây và có thể vào cả Ai Cập
Người ta vẫn cho rằng, người Mông Cổ khi xâm lược châu Âu
đã đưa trâu vào đây. Nhưng đúng hơn có lẽ chúng đã được những người
tham gia thập tự chinh đem về. Vào cuối thế kỷ 13, một số lớn trâu đã được
nuôi ở khu vực sông Đanuýp và vùng đầm lầy Pontin ở Italia.
Trâu được thuần dưỡng là một vật nuôi rất quan trọng trong đời sống
người dân một số vùng ở Châu Á. Chúng cho sức kéo, thịt và sữa. Ấn Độ là

được sắp xếp cân đối thích hợp cho việc khai thác sữa. Trâu sông có da lông
đen và bóng hơn trâu đầm lầy. Trâu sông tập trung ở Tây Á, sử dụng chủ
yếu để khai thác sữa, do được chọn lọc và cải tạo nhiều nên hình thành nhiều
giống riêng biệt với các loại hình khác nhau, và nhìn chun có khả năng sản
xuất thịt sữa cao. Đến nay, ở Ấn Độ và Pakistan người ta ước tính có tới 18
giống trâu sông khác nhau và được xếp vào 5 nhóm giống chính là:
- Nhóm trâu Murrah: có các giống Murrah, Nili-Ravi và Kundi.
- Nhóm trâu Gujarak có các giống Surti, Mehsana và Jafarabadi.
- Nhóm trâu Uttar Pradesh có các giống Bhadawari và Tarai.
- Nhóm trâu vùng Trung Ấn có các giống là Nagpuri, Pandharpuri,
Manda, Jerangi, Kalahandi và Sambalpur.
- Nhóm trâu vùng Nam Ấn có các giống Toda và Nam Kanara.
Hai nhóm trâu châu Phi và châu Á tuy giống nhau về mặt ngoại hình
nhưng có sự khác nhau về mặt giải phẫu học, thể hiện sự cách biệt giữa
chúng trong phạm vi nhóm. Chúng giống nhau về đường nét, tầm vóc đều
to, chắc và có lớp lông dầy. Nhóm trâu châu Á mắt bé hơn, hộp sộ rộng và
ngắn hơn. Sự khác nhau rõ nhất là : trâu châu Á có xương lá mía và xương
vòm dính lại với nhau, và các lỗ mũi hoàn toàn cách biệt bởi xương vòm,
còn ở trâu châu Phi, xương lá mía và xương vòm cách biệt nhau và các lỗ
mũi không bị phân chia bởi xương vòm.
Theo Bohlken (1958), có thể chia trâu hoang châu Phi thành 3
loại:
- Syncerus caffer caffer, còn gọi là trâu đen hay trâu vùng Mũi Hảo
vọng, thường tập trung ở vùng đông và nam châu Phi.
- Syncerus caffer namus, còn gọi là trâu đỏ hay trâu Công gô, loại trâu
này tập trung ở vùng xích đạo, có khối lượng thấp hơn loại trâu trên.
- Syncerus caffer acquinocitalis, có kích thước, mầu sắc và dạng sừng
trung gian giữa hai loại trên; sống ở vùng thảo nguyên Bắc và Trung Phi.
Trâu hoang châu Á cũng gồm ba loại:
- Trâu Anoa: cư trú ở Indonesia và hiện nay để lại nhiều hoá thạch.

Trâu đực có phần thân trước nặng, phần sau nhẹ, trâu cái thì phần thân trước
nhẹ và hẹp, phần thân sau nặng và rộng tạo thành hình cái nêm. Lưng rộng,
dài và thon về phía đầu. Xương sườn rất tròn, núm rốn nhỏ, không có u
bướu. Con đực có bắp chân khỏe, gần như thẳng, nhưng con cái thì chân hơi
cong để tạo khoảng rộng cho bầu vú. Đuôi dài, mảnh, dễ vận động. Con cái
có bầu vú phát triển, các tĩnh mạch vú nổi rõ, núm vú dài và cách xa nhau,
cân đối, dễ nắm để vắt sữa và sữa xuống dễ dàng
Trâu đực trưởng thành có khối lượng: 650-730kg/con, có thể tới 1000
kg, cao vây trung bình 142 cm. Trâu cái: 350-400kg/con, có thể tới 900 kg,
cao vây trung bình 133 cm, nghé sơ sinh: 30kg/con.
Trâu Murrah có khả năng cho sữa tương đối cao, sản lượng sữa trung
bình 2.600 - 2.800 kg trong chu kỳ vắt 270-300 ngày, tỷ lệ mỡ sữa trung
bình 7%.
Tuy to lớn nhưng trâu Murrah không thích hợp cho cầy kéo và chịu
nóng kém hơn trâu đầm lầy.
Trâu Murrah có dấu hiệu động dục đầu tiên trung bình lúc 30 tháng
tuổi.
Trâu Nili-Ravi: Còn được gọi với cái tên là trâu Sandal Bar. Thông
thường, da và lông của trâu Nili - Ravi có mầu đen, nhưng có khoảng 15%
số con có mầu nâu, có những chấm trắng trên trán, mặt, mõm, chân và một
chùm lông đuôi trắng.
Sừng ngắn, xoắn, vặn; gốc sừng to
Cổ trâu cái dài và mảnh, cổ trâu đực mập và chắc. Lồng ngực sâu và
phát triển tốt, ức rộng, không có yếm, nếp sâu và rộng. Con cái có hình nêm
nhọn, chân khuỳnh hơn con đực. Đuôi cân xứng, gốc rộg và thon, phần lông
cuối đuôi có một búi lông lớn có thể kéo sát đất. Vú phát triển mạnh, cả về
phía trước và sau, các núm vú dài và đều nhau. Da vú mỏng, mềm mại, lông
vú thô và thưa. Núm vú dài, đều và xếp đặt vuông vắn, tĩnh mạch vú nổi rõ,
dài và khúc khuỷu. Năng suất sữa trung bình 2000 kg/chu kỳ 300 ngày.
Khối lượng trung bình của trâu trưởng thành: trâu đực: 600kg/con,

mọi kẻ thù hung dữ nhất như hổ báo cũng phải bỏ chạy.
Trâu sông thường đầm thành đàn tụm lại với nhau trong khi đó trâu
đầm lầy lại thích đầm ở các bãi bùn và chỉ đủ mình nó hoặc một vài con
khác. Tuy nhiên, việc đầm không phải là tuyệt đối cần để chúng duy trì cuộc
sống.
Trâu thích bóng râm, rừng xanh và nơi có bụi cây. Trâu không chịu
được nóng, nếu như để trực tiếp dưới ánh nắng chỉ một vài giờ chúng sẽ mệt
lả; trâu cũng không chịu được quá rét. Nhiệt độ giảm đột ngột, gió rét mạnh
hoặc gió lùa có thể làm chúng bị cảm lạnh, viêm phổi và có thể chết. Do đặc
điểm sống nửa cạn nên trâu mẫn cảm với một số thể viêm thận và ký sinh
trùng như sán lá gan.
Trâu có khả năng thích nghi cao với sự biến đổi của điều kiện môi
trường. Tuy nhiên khả năng chịu nóng của trâu kém bởi vì thân nhiệt của
trâu thấp, da trâu lại dày và đen nên dễ hấp thụ nhiệt từ mặt trời, tuyến mồ
hôi của trâu lại kém phát triển, nên việc điều tiết thân nhiệt bằng tiết mồ hôi
của trâu rất hạn chế. Vì vậy trâu thích bóng mát và đầm tắm, chúng có thể
đầm tắm tới 4-5 giờ/ngày. Nhiều tác giả đã xác nhận trâu có tỷ lệ động dục
và đậu thai cao trong những tháng mát mẻ và thấp nhất trong những tháng hè
nóng nực, còn ở con đực thì phẩm chất tinh kém nhất vào những tháng hè và
tốt vào tháng đông xuân. Sản lượng sữa bị giảm khi nhiệt độ không khí cao,
còn ẩm độ không khí ảnh hưởng không đáng kể đến các khả năng sản xuất
của trâu.
Trâu đầm lầy thích được đầm đến cổ trong bùn lầy. Vào những lúc
sang và chiều tối, ban đêm nghỉ ở nơi đất khô.
4. TRÂU VIỆT NAM
Trâu Việt Nam thuộc loại hình trâu đầm lầy (Swamp buffalo). Tổ tiên
của chúng là trâu rừng Bubalus arnee còn tồn tại ở nhiều vùng Đông Nam
Ấn Độ, Thái Lan, Sri Lanca, có thể còn một số hiện sống ở vùng rừng núi
Đông Dương. Trâu có sừng dài, thon, cong hình bán nguyệt, đuôi sừng
nhọn. Đầu trâu to, trán phẳng, hẹp, mặt ngắn, mõm rộng, tai to và rộng, cồ

tới 29 năm.
Trâu có tổng số 32 răng, được phân chia như sau: hàm trên có 6 răng
hàm trước, 6 răng hàm sau và không có răng cửa; hàm dưới có 6 răng hàm
trước 6 răng hàm sau và 8 răng cửa. Trâu sơ sinh được 5- 10 ngày đã có răng
sữa, răng sữa nhỏ hơn răng vĩnh viễn; răng vĩnh viễn có thể to gấp rưỡi hoặc
gấp đôi răng sữa, màu hơi vàng và có những vạch đen ở mặt trước. Sự phát
triển của trâu liên quan chặt chẽ với việc mọc và thay răng, người ta có thể
xem răng trâu để xác định tuổi. Trâu có hai răng vĩnh viễn thì khoảng 3 năm
tuổi, bốn răng thì khoảng 4 năm tuổi, sáu răng thì khoảng 5 năm tuổi và tám
răng thì khoảng 6 năm tuổi, khi đó là trâu đã trưởng thành.
Trâu có 32 răng, trong đó có 8 răng cửa và 24 răng hàm. Hàm
trên không có răng cửa.
Người ta có thể xác định được tương đối đúng tuổi của trâu khi
căn cứ vào sự biến đổi của bộ răng, như: sự xuất hiện và bào mòn răng cửa
giữa, sự thay thế răng sữa bằng răng trưởng thành, sự thay đổi hình dạng mặt
phía trên của răng trưởng thành, sự xuất hiện răng hàm trưởng thành và sự
thay thế răng hàm sữa bằng răng hàm trưởng thành
Việc xem răng định tuổi bảo đảm độ chính xác cao hơn (sai số
0,5 đến 1 tuổi) khi trâu được từ 2 đến 5 năm tuổi so với trâu già (sai số có
thể từ 1 đến 2 tuổi)
Muốn xem răng định tuổi trâu thì phải căn cứ vào 3 thời kỳ:
mọc răng, thay răng và mòn răng
- Mọc răng : Bê mới đẻ đã có 2 -3 đôi răng cửa sữa giữa, sau 20 ngày
đã có đủ 8 răng cửa sữa. Ở nghé, hiện tượng mọc răng diễn ra chậm hơn,
phải một tuần sau khi đẻ nghé mới có 2 đôi răng cửa sữa giữa và phải 2-3
tháng sau mới có đủ 8 răng cửa sữa
- Thay răng : Khi trâu đạt tới tuổi nhất định thì răng sữa được thay
bằng răng vĩnh cửu. Trâu thay răng chậm hơn bò.
Trình tự thay các răng cửa hàm dưới của trâu như sau :
- Vào khoảng 3 tuổi : thay 2 răng cửa sữa giữa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status