Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) tỉnh Thái Bình.
1. Đặc điểm tình hình:
Thái Bình là tỉnh nông nghiệp, trên 80% dân số gắn kết với sản xuất
nông nghiệp. Trên cơ sở có Nghị quyết 12 của tỉnh Đảng bộ về đẩy mạnh phát
triển chăn nuôi giai đoạn 2004 - 2010, tỉnh đã có cơ chế chính sách hỗ trợ
nhằm phát triển chăn nuôi nh: đaats đai, vốn, hỗ trợ con giống, Vì vậy, sản
xuất chăn nuôi đã có những bớc phát triển khá mạnh Tính đến tháng 12/2006,
toàn tỉnh đã có 10.264 gia trại và 419 trang trại chăn nuôi. Thống kê
01/8/2006, tổng đàn lợn là 1.054.972 con, trong đó khoảng 230.000 lợn nái,
lợn sữa xuất khẩu và bán ra tỉnh ngoài khoảng 2 triệu con/năm. Mật độ chăn
nuôi cao, số lợng đàn gia súc tăng những đòi hởi việc thực hiện các biện pháp
phòng chống dịch bệnh cũng nh đảm bảo vệ sinh môi trờng trong chăn nuôi
càng khắt khe. Bên cạnh đó, việc vận chuyển, buôn bán lợn ngày càng gia
tăng và diễn ra liên tục giữa các địa phơng trong và ngoài tỉnh rất dễ để dịch
bệnh phát sinh trên đàn lợn. Đây là xu hớng tất yếu trong quá trình phát sinh
dịch bệnh truyền nhiễm và là nguyên nhân dẫn tới PRRS xuất hiện trên đàn
lợn của tỉnh.
2. Diễn biến dịch:
Dịch PRRS bắt đầu xảy ra tại Thái Bình vào cuối tháng 3/2007, khi số
đầu lợn trong tỉnh tăng cao sau dịp tết Nguyên Đán và xảy ra sau khi dịch
bệnh đã phát sinh trên đàn lợn tại các tỉnh nh Hải Dơng, Hng Yên. Dịch bắt
đầu tại các trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại ở một số địa phơng trong tỉnh (xã
Đông La huyện Đông Hng; Quỳnh Châu, Quỳnh Hội huyện Quỳnh Phụ). Chi
cục Thú y tỉnh đã kiểm tra lâm sàng và gửi xét nghiệm xác định bệnh.
Sau một số trang trại, dịch lây lan phát sinh ra 20 xã của 03 huyện
Quỳnh Phụ (13 xã), Đông Hng (2 xã) và Thái Thuỵ (5 xã) gây thiệt hại lớn cho
ngời chăn nuôi. Tổng số lợn mắc bệnh/tổng đàn của các trang trại, gia trại, hộ
gia đình có lợn bệnh là rất cao: 8.651/9.703 con chiếm tỷ lệ 89,15%; số chết
và xử lý là 5.538/8.651 con, chiếm tỷ lệ 64,02%. Uớc tính ban đầu thiệt hại về
số gia súc ốm, chết phải xử lý do dịch bệnh gây ra khoảng 3.720 (Ba nghìn
bảy trăm hai mơi) triệu đồng.
độ và diễn biến của dịch nặng nề hơn và mức độ gây hại lớn hơn.
Nhận xét, đánh giá:
- Dịch xảy ra đầu tiên ở đàn lợn nái, đàn đực giống; phần lớn trên đàn
nái ngoại sinh sản;
Sau đó đến đàn lợn con theo mẹ và lợn mới cai sữa;
Đàn lợn thịt ảnh hởng rất nhỏ, nhất là những đàn đã tiêm phòng các loại
vắc xin phòng bệnh thông thờng và đàn lợn thịt nuôi phân tán trong các nông
hộ;
Dịch xảy ra chủ yếu là nơi mật độ chăn nuôi cao, số lợng đàn lớn và thực
hiện việc phòng bệnh cha triệt để, nhất là đàn lợn có tỷ lệ tiêm phòng các bệnh
đỏ còn thấp.
2
- Nhận định nguyên nhân xuất hiện dịch:
+ Khách quan:
Do tính chất lây lan của dịch là có khả năng lây theo gió, Thái Bình có
dịch ngay sau khi các địa phơng của các tỉnh bạn có dịch;
Công tác kiểm soát vận chuyển gia súc, thức ăn gia súc của các địa ph-
ơng cha đợc chặt chẽ, không ngăn chặn xử lý đợc việc bán chạy lợn bệnh,
lợn đã nhiễm bệnh của ngời chăn nuôi (Ban đầu dịch không trong danh mục
bệnh phải công bố dịch, chỉ đạo của Cục Thú y là giết huỷ lợn bệnh nặng, giữ
lại con ốm nhẹ để điều trị. Do lợn bệnh điều trị chậm hồi phục, ngời chăn nuôi
đã hoang mang bán chạy).
+ Chủ quan:
Chuồng trại trại, trang thiết bị chăn nuôi ở một số trang trại, gia trại cha
thật sự đảm bảo, mật độ chăn nuôi cao, số lợng lợn lớn, nhiều trang trại cha có
hệ thống xử lý chất thải, gây ô nhiễm môi trờng.
Việc quản lý trang trại kém, ngời, phơng tiện vận chuyển thức ăn gia súc,
lợn, ra vào tuỳ tiên; công tác vệ sinh phòng bệnh kém: nhiều trang trại, gia
trại không có hố sát trùng trớc khi vào trang trại, trớc vào dãy chuồng nuôi, cha
thờng xuyên thực hiện tiêu độc khử trùng; Đặc biệt là công tác tiêm phòng các
; Glucoza 5% truyền tĩnh mạch. Việc truyền tĩnh mạch dung dịch glucosa 5%
có hiệu quả rõ rệt trong điều trị nhất là đối với lợn nái sinh sản (có tác dụng
hơn truyền phúc mạc rất nhiều).
Kháng sinh: điều trị chống bội nhiễm, sử dụng một trong các loại kháng
sinh hoạt phổ rộng, tác dụng kéo dài:
Hanmocylin - LA hoặc Flophenicol - LA; hoặc cho uống T.Tere (colistin
sulfat và spectinomycin HCl) đối với lợn con.
Điều trị tích cực ngày 2 lần; sau khi tiêm xong khoảng 15-20 phút lợn hạ
sốt, tỉnh táo hơn phải chuẩn bị sẵn sàng thức ăn tốt nhất cho lợn ăn nhằm
nâng cao sức đề kháng
tự nhiên cho đàn lợn và kích thích lợn tiết dịch vị, lấy lại cảm giác thèm ăn cho
gia súc bệnh.
Hộ lý, chăm sóc chu đáo, cho lợn ăn ít một, với mục đích là vừa làm mới
thức ăn, vừa kích thích đợc tính thèm ăn; lợn mắc bệnh PRRS thờng rất thèm
ăn rau xanh, chuẩn bị nguồn rau đảm bảo cho lợn ăn thờng xuyên.
+ Vệ sinh tiêu độc khử trùng bằng hoá chất nhầm giảm thiểu mầm bệnh
ngoài môi trờng: hàng ngày ở trại, chuồng có dịch.
Chi cục thú y đã hỗ trợ thêm cho các trang trại, xã có dịch 2,5 tấn hoá
chất.
+ Thực hiện nghiêm ngặt công tác quản lý trong các trang trại, gia trại
chăn nuôi: Hớng dẫn các chủ trang trại, gia trại quản lý nghiêm túc việc ngời,
phơnng tiện ra vào trại, công nhân chăn nuôi trong trại; thực hiện chăn nuôi
kín, không ra vào tự do giữa các khu chăn nuôi.
+ Thực hiện việc tiêm phòng thử nghiệm vắc xin PRRS: dịch lần đầu tiên
xuất hiện tại Thái Bình nói riêng và khu vực miền Bắc nói chung, việc sử dụng
4
vắc xin phòng chống dịch PRRS cha chủ động đợc về hiệu quả. Tuy nhiên,
Thái Bình đã thử nghiệm một số lô vắc xin phòng PRRS của Singapo: BSL-
PS-100 để tiêm cho đàn lợn nái và lợn thịt. Hiệu quả sử dụng của vắc xin cha
đợc đánh giá cao trong việc khống chế dịch bệnh.