Luận văn tốt nghiệp bác só y khoa Bộ môn Y học lao động và Môi trường
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
****
Từ thập niên 90 cho đến nay, tình hình kinh tế xã hội ở đất nước ta trong
thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đã có nhiều thay đổi đáng kể. Đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân ngày được cải thiện, chất lượng cuộc sống
ngày được nâng cao.
Thành phố Hồ Chí Minh là một Thành phố đông dân nhất của cả nước, số
lượng học sinh ngày càng gia tăng, số lượng trường học dù đã có được xây thêm
nhiều, cũng chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thành phố. Do đó, một số lớp học ở
các trường đã có số học sinh quá đông, ảnh hưởng tới sức khỏe và chất lượng
học tập của các em.
Hiện nay vấn đề cải thiện điều kiện môi trường y tế học đường đang là một
vấn đề được Bộ Giáo Dục, Bộ Y Tế và lãnh đạo các cấp chính quyền cùng các
phương tiện thông tin đại chúng ở nước ta hết sức quan tâm.
Trong các yếu tố môi trường của lớp học trước tiên phải kể đến yếu tố vi
khí hậu. Nước Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm. Ở
thành phố Hồ Chí Minh, dù trong mùa mưa hay mùa khô, nhiệt độ trung bình
ngày trong phòng cũng xấp xỉ 30
o
C và độ ẩm cũng tương đối cao. Hơn nữa, ở
trong các phòng học đông người không khí ngoại cảnh càng trở nên ngột ngạt
hơn do hoạt động và chuyển hóa vật chất cũng sinh nhiệt của cơ thể con người.
Trong hoàn cảnh đó, phương tiện cải thiện điều kiện vi khí hậu thông dụng
hiện nay là thông khí bằng quạt máy.
Bên cạnh các yếu tố vi khí hậu, vấn đề chiếu sáng cho lớp học cũng hết
sức quan trọng. Khoa học “Ergonomie – Khoa học về tiện nghi ở nơi làm việc
của con người” đã chỉ rõ rằng: chiếu sáng đầy đủ kết hợp với bàn ghế đúng tiêu
chuẩn sẽ làm cho học sinh thoải mái hơn và làm giảm tỷ lệ mắc bệnh cận thò của
các em.
Luận văn tốt nghiệp bác só y khoa Bộ môn Y học lao động và Môi trường
CHƯƠNG 3
TỔNG QUAN Y VĂN
***
1.1 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ THỂ CHẤT CON NGƯỜI VÀ CÁC
NGHIÊN CỨU VỀ THỂ CHẤT CON NGƯỜI TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC:
1.1.1. Một số chỉ tiêu đánh giá thể chất con người:
Từ lâu thể chất được coi là một trong những chỉ tiêu nhận dạng và đánh
giá sức khoẻ con người[1,2,4,9,15]. Nghiên cứu về thể chất con người không chỉ
có những nhà y học mà còn của nhiều nhà khoa học thuộc các lónh vực khác
nhau như [8,19,20,22,26,29,30,31]: Nhân trắc học (Biométrie Humaine), tăng
trưởng học (Auxologie), công thái học (Ergonomie)…. Nghiên cứu về thể chất
không chỉ là nhận xét đơn sơ về tầm vóc bên ngoài mà nó còn có nhiều ý nghóa
và ứng dụng trong thực tiễn hàng ngày như xây dựng con người chuẩn đặc trưng
cho mỗi dân tộc, xây dựng mẫu kích cỡ, mẫu quần áo may sẵn, những mẫu đồng
phục học đường, mẫu phương tiện lao động… sao cho tinh tế nhất và tiện nghi
nhất. Trong nghiên cứu thể chất, người ta tìm ra nhiều chỉ tiêu khác nhau để
đánh giá toàn vẹn thể chất một con người, nhưng số đo chiều cao và cân nặng
vẫn luôn là hai chỉ tiêu quan trọng hàng đầu được WHO theo dõi nghiên cứu một
cách có hệ thống.
Chiều cao đứng của cơ thể con người là một trong những chỉ tiêu rất quan
trọng trong hầu hết các điều tra cơ bản về nhân trắc học, nhân chủng học và y
học. Chiều cao đứng còn được xem như một trong những chỉ tiêu quyết đònh để
phân biệt các chủng tộc trên thế giới. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng
chiều cao là một đại lượng được qui đònh bởi gen nhưng lại thay đổi theo thời
gian. Chiều cao biểu hiện tầm vóc của một người, do đó các nhà y học thường
dựa vào chiều cao để đánh giá sức lớn của trẻ em và tầm vóc của một người.
Chiều cao thường thay đổi theo chủng tộc, giới tính và chòu một phần ảnh hưởng
Trang 4
Luận văn tốt nghiệp bác só y khoa Bộ môn Y học lao động và Môi trường
thu và tiêu hao, một người được dinh dưỡng tốt thì sẽ tăng cân, do đó cân nặng
nói lên phần nào trình độ phát triển thể lực cơ thể.
Chiều cao và cân nặng là những đại lượng có tính tương đối, tự nó không
đủ đưa đến một nhận xét về tầm vóc của một con người. Vì vậy, các nhà khoa
học đã đưa ra những chỉ số có tính tổng hợp từ nhiều chỉ tiêu nhân trắc học khác
nhau. Một trong những chỉ tiêu đó là chỉ số BMI ( Body’s Mass Index)
[13,21,23,24,27,28]. Chỉ số này được hình thành từ hai chỉ tiêu cân nặng và
chiều cao. Chỉ số BMI được dùng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới trong
việc đánh giá tầm vóc một con người đã trưởng thành (trên 18 tuổi) vì ở lứa tuổi
này là lứa tuổi không còn phát triển hay phát triển chậm nên BMI có tính ổn
đònh.
1.1.2 Một số nghiên cứu thể chất con người trong và ngoài nước:
Ở Viêt Nam, nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trưởng chiều cao và cân
nặng ở trẻ em có lẽ là cuốn “Hình thái học và giải phẫu học mỹ thuật” của
Huard và Đỗ Xuân Hợp (1943). Cuốn sách này đã đặt nền móng đầu tiên cho
khoa học nhân trắc học trong nước. Tuy nhiên do điều kiện xã hội Việt Nam lúc
bấy giờ không cho phép nên những nghiên cứu về tăng trưởng ít dần. Đến
khoảng 30 năm gần đây ngành nhân trắc học và tăng trưởng học của Việt Nam
mới phần nào hồi sinh với hàng loạt nghiên cứu có giá trò trong và ngoài nước:
Cuốn “Nhân trắc học và ứng dụng trên con người Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Quang Quyền xuất bản 1974. Đây là cuốn sách đầu tay cho các nhà
nghiên cứu nhân trắc học tại Việt nam, đưa ra các kỹ thuật, các thông số đo
người nhằm đánh giá thể chất con người một cách khoa học nhất.
“Hằng số học sinh người Việt Nam” với sự chủ trì của giáo sư Nguyễn
Tuấn Gi Trọng, tập hợp trên 15 nghiên cứu của các nhà sinh học, y học Việt
Nam, là mốc đánh dấu một đoạn đường trong lòch sử nghiên cứu sinh học ở
Trang 6
Luận văn tốt nghiệp bác só y khoa Bộ môn Y học lao động và Môi trường
nặng(x±SD)
của nam
(kg)
1
Tình hình
phát triển thể
lực của trẻ
em xã Dũng
Tiến
1983 12
13
14
15
1500 130.5±5.1
134.04±4.5
139.80±4.5
143.41±5.4
25.79±3.8
27.74±5.1
31.3±4.5
33.01±4.6
2
Đặc điểm
hình thái và
thể lực học
sinh một
trường PTCS
Hà Nội
1992 12
13
12
13
14
15
146
190
139
74
142.05±14.1
3
148.22±7.00
150.21±6.21
152.30±5.01
32.28+8.82
37.62+7.30
39.70+7.92
41.39+4.64
Trang 8
Luận văn tốt nghiệp bác só y khoa Bộ môn Y học lao động và Môi trường
Bảng 1.2: Những nghiên cứu về chiều cao và cân nặng của nam thiếu
niên từ 12-15 tuổi
STT Tên nghiên
cứu
Năm Tuổi Cỡ
mẫu
Chiều
cao(x±SD)
của nam
(cm)
13
14
15
43
40
38
36
137.67±6.42
144.80±7.21
151.80.±6.9
158.54±4.66
30.75±3.86
35.38±5.15
39.82±5.67
45.96±6.33
3
Người chuẩn
Việt Nam
1990-
1993
15 616 156±5.5 40.6±5.7
4
Nghiên cứu
một số đặc
điểm về thể
chất và sinh
lý học sinh
trường PTCS
Lê Anh Xuân
2000-
Nhân trắc học Mỹ thuật công nghiệp
Cơ sinh học Thiết kế, chế tạo
Xã hội học Tin học
Kỹ thuật Kiến trúc, xây dựng….
An toàn
Như vậy chúng ta thấy là các yếu tố môi trường lớp học rất quan trọng đối
với sức khoẻ và kết quả học tập của học sinh .
1.2 VI KHÍ HẬU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHÍ HẬU LÊN ĐỜI
SỐNG SỨC KHOẺ CON NGƯỜI:
1.2.1 Các yếu tố vi khí hậu
• Các yếu tố vi khí hậu là những yếu tố vật lý trong môi trường không
khí có liên quan đến quá trình điều hoà nhiệt của cơ thể người trong
một không gian nhất đònh[10,11]. Các yếu tố này bao gồm : nhiệt độ,
độ ẩm, vận tốc gió và cường độ bức xạ nhiệt từ các bề mặt xung quanh.
• Đặc điểm của khí hậu Việt Nam[10]: Việt Nam nằm trong khu vực
nhiệt đới gió mùa mà “vó độ và đòa hình đã đem lại những biến dạng
sâu sắc cho khí hậu toàn thể và cho từng vùng”(Buy-Đông và
Láctông). Ở miền Bắc nước ta là gió mùa không thuộc một cơ chế
thuần nhất. Nó được qui đònh bởi nhiều trung tâm tác động khác nhau,
Trang 10
Ergonomie
Luận văn tốt nghiệp bác só y khoa Bộ môn Y học lao động và Môi trường
thường xuyên tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau và căn bản là một chế độ
không ổn đònh. Nói một cách khác, Việt Nam là một nước nhiệt đới, gió
mùa, có khí hậu nóng ẩm, từng vùng có đặc điểm khác nhau và thay
đổi đột ngột theo từng đợt gió mùa.
Trong thực hành vệ sinh, khi nghiên cứu điều kiện vi khí hậu ở một nơi nào
đó, có thể đánh giá theo từng yếu tố riêng rẽ hoặc theo những chỉ tiêu tổng
hợp của hai, ba hoặc tất cả bốn yếu tố kể trên.
C).
Độ ẩm không khí : là lượng hơi nước không nhìn thấy, tan trong không
khí, biểu hiện bằng sức trương hơi nước(mm thuỷ ngân hoặc gam/m
3
không khí).
• Độ ẩm tối đa (E) : là lượng hơi nước tối đa (tính bằng mmHg hoặc
gr/m
3
) mà không khí có thể chứa được ở một nhiệt độ nhất đònh. Trò số
này tăng tỉ lệ thuận với nhiệt độ không khí.
• Độ ẩm tuyệt đối (e) : là lượng hơi nước (tính bằng mmHg hoặc gr/m
3
)
thực tế đã đo được ở một nhiệt độ nhất đònh.
• Độ ẩm tương đối (R) : là tỷ lệ phần trăm giữa độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm
tối đa ở trong cùng một điều kiện nhiệt độ và áp suất.
R =
E
e
x 100 (%)
Như vậy, độ ẩm tương đối biểu thò cho lượng hơi nước thực có trong không
khí so với lượng nước tối đa có thể có trong không khí ấy ở cùng áp suất và nhiệt
độ. Trong nghiên cứu về môi trường, độ ẩm tương đối thường được sử dụng khi
đo đạc.
• Độ ẩm cao làm cản trở thải nhiệt bằng bay hơi mồ hôi khi nhiệt độ
không khí cao. Cơ thể dễ bò tích nhiệt và say nóng. Cùng với nhiệt độ,
độ ẩm không khí cao là điều kiện thuận lợi cho nấm mốc, vi khuẩn, côn
trùng …phát triển mạnh.
• Độ ẩm quá thấp cũng có hại, làm cho da bò khô, nứt nẻ.
• Độ ẩm thích hợp nhất đối với cơ thể là 50% ± 20%. Dưới 30% là khô
Luận văn tốt nghiệp bác só y khoa Bộ môn Y học lao động và Môi trường
Ở tần đối lưu không khí thường xuyên di chuyển theo chiều nằm ngang và
còn chuyển động theo chiều thẳng đứng tạo ra gió. Do mặt đất gồ ghề phức tạp,
có lực ma sát lớn nên gió thường bò thay đổi tốc độ và hướng.
Chuyển động của không khí là một yếu tố khí tượng quan trọng. Không khí
chuyển động ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ thải nhiệt của cơ thể.
Chúng ta đều biết rằng khi khi không có gió người ta có thể chòu đựng được
dễ dàng đối với nhiệt độ rất thấp(đến -30
0
).Trái lại khi trời không rét lắm(-10
0
đến -15
0
) nhưng gió to thì có thể bò lạnh đột ngột. Tất nhiên sự chuyển động của
không khí không phải chỉ là yếu tố có hại. Trong nhiều trường hợp, nó rất có ích
và có khi có tác dụng rất tốt, như trong trường hợp nhiệt độ bên ngoài cao hoặc
khi sinh nhiệt nhiều(lao động nặng). Trong những trường hợp này gió làm tăng
sự thải nhiệt bằng đối lưu. Khi có gió mồ hôi bốc hơi nhanh hơn. Đó là tác dụng
tốt của gió khi nhiệt độ không khí gần bằng nhiệt độ của cơ thể và ngay cả khi
cao hơn nhiệt độ của cơ thể.
Tốc độ chuyển động của không khí thường được tính bằng mét/giây hoặc
bằng kilômét / giờ. Tốc độ này thường thay đổi nên người ta đo trong khoảng
100 giây để tính tốc độ chuyển động của không khí.
1.2.2 Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về vi khí hậu tại nơi làm việc[14]:
Nhiệt độ ẩm không khí 18 – 32
o
C
Độ ẩm tương đối 70%-80%
Tốc độ chuyển động không khí 0.1-0.3 mét/giây
1.2.3 Ảnh hưởng của vi khí hậu đối với cơ thể
luôn luôn thay đổi, người ta gọi là quang lưu (F). Quang lưu (hay dòng ánh sáng)
là phần của năng lượng bức xạ gây nên cảm giác ánh sáng.
– Đơn vò của dòng ánh sáng là Lumen.
Trang 15
Luận văn tốt nghiệp bác só y khoa Bộ môn Y học lao động và Môi trường
Người ta có thể nhận thấy các vật xung quanh là do quang lưu (F) chiếu
vào bề mặt các vật đó phản xạ lại, tới võng mạc mắt, bởi vậy cần phải nghiên
cứu mật độ ánh sáng rọi vào bề mặt, mật độ rọi đó gọi là độ rọi (E).
Độ rọi là tỷ số của dòng ánh sáng F rọi vào bề mặt đối diện có diện tích
(S). Ta có :
E =
S
F
Đơn vò độ rọi(độ chiếu sáng) gọi là Lux. Lux là sự chiếu sáng của dòng ánh
sáng 1 lumen trên 1m
2
.
Danh pháp các đại lượng trên được trình bày theo bảng dưới đây.
DANH PHÁP ĐẠI LƯNG ÁNH SÁNG
(L.Lliboutry-PHYSIQUE DE BASE, MASSON Edt, PARIS, 1963)
Đại lượng (Grandeurs) Năng lượng
(Energetiques)
Ánh sáng (Lumineuses)
Quang thông
(Flux lumineux)
Watt Lumen (lm)
Chiếu sáng
(Éclairement)
Watt-cm
thuộc vào độ mặt trời, độ trong suốt của khí quyển,trạng thái thời tiết và
các vò trí được chiếu sáng. Ở ngoài trời nắng, độ chiếu sáng có thể đạt
tới 10.000 -20.000 lux. Nguồn chiếu sáng tự nhiên trong nhà hay trong
ph2ong không phải là nắng mặt trời mà là ánh sáng tự nhiên được
khuyếch tán từ bầu trời.
Biện pháp có hiệu quả để tăng độ chiếu sáng tự nhiên trong phòng là:
+Tăng số lượng các cửa sổ và diện tích các cửa sổ. Tỷ lệ diện tích
cửa sổ trên diện tích phòng (S
cửa sổ
: S
phòng
) được gọi là hệ số ánh sáng(HSAS).
Các phòng ở cần có HSAS là 1:6~1:8, lớp học, phòng khám bệnh cần có HSAS
là 1:4~1:8.
+Mở rộng góc ánh sáng và góc mảnh trời của các cửa sổ bằng cách
hạn chế các vật che chắn cửa sổ, nâng cao mép trên cửa sổ. Góc ánh sáng của
cửa sổ ít nhất phải bằng 27
0
, góc mảnh trời ít nhất phải bằng 5
0
.
Hình góc ánh sáng và góc mảnh trời
Trang 17
Luận văn tốt nghiệp bác só y khoa Bộ môn Y học lao động và Môi trường
Thường xuyên lau chùi bụi bám ở kính cửa sổ. Cửa kính bám nhiều bụi cản
trở 50% lượng ánh sáng vào phòng, cửa che mành làm giảm 40% ánh sáng.
– Chiếu sáng nhân tạo : để bổ sung cho chiếu sáng tự nhiên, trong nhà
hoặc phòng phải có chiếu sáng nhân tạo. Nguồn sáng nhân tạo có thể là
đèn dầu, đèn điện, nến…Các loại đèn đất, đèn dầu hoả… không tốt bằng
ngày, năng suất phát sáng cao(gấp 2.5-3 lần đèn dây tóc), tuổi thọ lên
tới 3000 giờ, ít toả nhiệt. Hiện nay công ty Điện Qung còn vừa cho ra
mắt bóng đèn huỳnh quang chống cận thò Maxx801(phụ lục 4), sử dụng
bột huỳnh quang hoạt hoá Tricolor Phosphor cho chất lượng ánh sáng
tốt hơn và tiết kiệm năng lượng đáng kể so với bóng huỳnh quang
thường.
– Chiếu sáng hỗn hợp: phối hợp hai loại ánh sáng tự nhiên và nhân tạo.
Có nhiều trường hợp người ta dùng cả ba loại chiếu sáng này trong phòng
làm việc với thời gian khác nhau. Chiếu sáng thiên nhiên có thể áp dụng được ở
mọi nơi vì rẻ tiền, nhưng không bảo đảm đều đặn và đôi khi gây loá mắt, cho
nên có khi phải sử dụng chiếu sáng hỗn hợp. Ở những nơi thiếu ánh sáng, thì
phải sử dụng chiếu sáng nhân tạo và nên được chiếu sáng 30 phút đến 1 giờ
trước khi làm việc.
Trang 19
Luận văn tốt nghiệp bác só y khoa Bộ môn Y học lao động và Môi trường
1.2.4.3 Yêu cầu chiếu sáng tại một số nơi làm việc :
Trích dẫn tiêu chuẩn ILO(1985)[11]
STT Đòa điểm Công việc Độ chiếu sáng
(lux)
1 Văn phòng Vi tính-đánh máy-ký hoạ
Văn thư
Phòng họp-phòng ăn-tiếp tân
Hành lang-cầu thang
Lối đi vào ra
Cửa ra ngoài-cầu thang
1500-2000
750-1000
200-750
100-200
sáng về số lượng và chất lượng mới bảo vệ được thò lực lâu dài, chống mệt mỏi
và rất nhiều trường hợp đủ ánh sáng làm cho năng suất lao động tăng, tránh
được sai sót về thao tác tức là tránh được cả tai nạn lao động.
nh sáng có ý nghóa lớn về phương diện sinh lý và vệ sinh. Từ 80-90%
khối lượng thông tin về thế giới xung quanh được con người thu qua thò giác. nh
sáng đầy đủ khiến con người cảm thấy sảng khoái, dễ chòu và phấn chấn về tinh
thần, các quá trình chuyển hoá trong cơ thể cũng được xúc tiến mạnh. Đó là một
trong những điều kiện tốt để con người làm việc có năng suất cao. nh sáng tự
nhiên còn là nguồn tia tử ngoại phong phú giúp cơ thể chống lại bệnh còi xương,
tiêu diệt các vi khuẩn, hạn chế các bệnh theo đường hô hấp[11].
Ngoài ra, theo khảo sát của Bệnh Viện Mắt Hà Nội, tỷ lệ học sinh cận thò
ngày càng tăng trong lứa tuổi học đường, ở cấp tiểu học là 16%, nhưng lên cấp
trung học đã là 32% và ở cá trường chuyên tỷ lệ này là 80%. nh sáng không
đủ cũng là một trong những nguyên nhân chính gây nên thực trạng này.
Thiết kế bàn ghế cũng là một trong những mục tiêu của ergonomie. Bàn
ghế là nơi học sinh trải qua phần lớn thời gian học tập. Do đó, bàn ghế cần được
thiết kế phù hợp với chiều cao của từng lứa tuổi để tránh các tật về cột sống, các
bệnh mắt học đường sau này…. Theo quyết đònh của Bộ Y Tế [16]thì:
1.Bàn ghế học sinh phải đủ rộng, chắc chắn, các góc bàn cạnh phải
tròn, nhẵn đảm bảo an toàn.
2.Kích thước(chiều cao, bề rộng, chiều sâu) của bàn và ghế phải
tương ứng với nhau đồng thời phải phù hợp với tầm vóc của học sinh.
Các chỉ số(cm) Cỡ bàn và ghế
Trang 21
Luận văn tốt nghiệp bác só y khoa Bộ môn Y học lao động và Môi trường
I II III IV V VI
Chiều cao bàn
46 50 55 61 69 74
Chiều cao ghế
chú ý bài giảng. Nó được hiểu theo nghóa là hoạt động bao gồm sự quan sát liên
tục bằng thính giác hay thò giác và là khả năng của cá thể để phát hiện ra tín
hiệu với các tần số khác nhau khi quan sát[7]. Trong đánh giá mức độ gánh nặng
của hoạt động lao động trí óc cũng như phân loại hoạt động này, thời gian tập
trung chú ý được xem như một chỉ số đáng tin cậy[13].
Tên chỉ số Loại I Loại II Loại III Loại IV Loại V
Thời gian tập
trung chú ý/tổng
thời gian lao
động(%)
<25 26-50 51-75 76-90 >90
Phân loại mức độ gánh nặng lao động theo thời gian tập trung chú ý
(theo Viện Thẩm Mỹ Kỹ Thuật Nga)
Thời gian tập trung chú ý càng cao trong tổng thời gian lao động trí óc thì
loại(mức) mệt mỏi càng cao.
1.2.3Khảo sát sự mệt mỏi:
Chẩn đoán sự mệt mỏi có nhiều phương pháp nhưng độ chính xác còn
nhiều vấn đề[7]:
-Hoạt động thần kinh đòi hỏi có những chất trung gian dẫn truyền thần
kinh như acetylcholine, mà acetylcholine cần có phosphor cho quá trình tổng hợp
nên ta có thể đònh lượng nồng độ phosphor trong máu để gián tiếp khảo sát tình
trạng mệt mỏi.
-Hình ảnh cộng hưởng từ có thể cho biết những vùng của não bộ làm việc
cao độ với những vết lốm đốm ở dưới vỏ.
-Khảo sát điện não đồ.
Trang 23
Luận văn tốt nghiệp bác só y khoa Bộ môn Y học lao động và Môi trường
-Sau cùng là một phương pháp đánh giá độ mệt mỏi mang tính chất khách
quan, dễ sử dụng, tiện lợi. Đó là “ nghiệm pháp xác đònh sự mệt mỏi chức năng
1.03±0.32 0.93±0.25 Nguyễn Thanh
Danh-1997
Nhân viên văn
phòng
1.13±0.35 1.42±0.62 Nguyễn Thanh
Danh-1997
Học sinh cấp 3
1.54±0.44 1.42±0.62 Trần Thò Anh
Tường-2000
Trắc thủ ra
1.52±0.30 1.15±0.03 Trần Công Huấn-
1994
Trang 25