Bài thảo luận:
Đánh giá về nguồn thu và cơ chế quản
lý quỹ bảo hiểm xã hội hiện nay
Mục lục
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 4
Tổng quan về bảo hiểm xã hội 4
Mục đích sử dụng quỹ BHXH 10
1. Một số nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và quản lý quỹ BHXH 10
2. Cơ chế quản lý quỹ BHXH ở nước ta 12
III. ĐÁNH GIÁ CƠ CHẾ QUẢN LÝ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY 20
1. Những kết quả đạt được. 20
1.1. Hình thành hệ thống pháp lí làm cơ sở cho cơ chế quản lí tài chính 21
1.2. Hình thành quỹ BHXH được quản lí tập trung và độc lập với NSNN. 21
1.3 . Công tác thu được phân cấp, tổ chức thu hợp lí an toàn qua hệ thống 22
2. Những tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân. 22
7.Ứng dụng cong nghệ thông tin vào công tác quản lý 28
8.Hợp tác trong nước và quốc tế về BHXH 29
Kết luận 30
Đề tài :
Đánh giá về nguồn thu và cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm xã hội hiện nay
LỜI NÓI ĐẦU
Từ hàng chục năm nay, chính sách Bảo hiểm xã hội đã góp phần quan trọng
trong việc trợ cấp vật chất, hỗ trợ đời sống cho những đối tượng hưởng bảo hiểm
xã hội và gia đình họ khi gặp phải rủi ro, biến cố trong cuộc sống như ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hoặc chết dẫn đến giảm hoặc mất nguồn
thu nhập.
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh
tế nước ta là nền kinh tế thị trường với sự
tham gia của nhiều thành phần kinh tế và
có sự quản lý của Nhà nước theo định
hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia bảo hiểm xã hội, bên bảo hiểm xã
hội và bên được bảo hiểm xã hội. Bên tham gia bảo hiểm xã hội có thể chỉ là
người lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động. Bên bảo hiểm
xã hội (bên nhận nhiệm vụ bảo hiểm xã hội) thông thường là cơ quan chuyên trách
do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được bảo hiểm xã hội là người lao động và gia
đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.
Ba là: Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động mất việc làm trong
bảo hiểm xã hội có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của
con người như: ốm đau, tai nạn lai động, bệnh nghề nghiệp Hoặc cũng có thể là
những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản v.v
Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
Bốn là: Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những
biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung
được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia bảo hiểm xã hội đóng góp
là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.
Năm là: Mục tiêu của bảo hiểm xã hội là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu
của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm.
Với những mục tiêu trên, bảo hiểm xã hội đã trở thành một trong những quyền con
người và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào Tuyên ngôn
Nhân quyền ngày 10/12/1948 rằng:” Tất cả mọi người với tư cách là thành viên
của xã hội có quyền hưởng bảo hiểm xã hội, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thỏa
mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa nhu cầu cho nhân cách và sự tự do
phát triển con người”.
Ở nước ta, bảo hiểm xã hội là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo đảm
xã hội. Ngoài bảo hiểm xã hội, chính sách bảo đảm xã hội còn có cứu trợ xã hội và
ưu đãi xã hội.
Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện
sinh sống khác đối với mọi thành viên của xã hội, trong những trường hợp bị bất
hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo cuộc sống tối thiểu của bản
thân và gia đình. Sự giúp đỡ này được thực hiện bằng các nguồn quỹ dự phòng
để tham gia vào thị trường tài chính với mục đích bảo toàn và phát triển quỹ
bảo hiểm xã hội.
d)Một số nội dung cơ bản về bảo hiểm xã hội.
-Đối tượng BHXH :Là thu nhập của người lao động chứ không phải bản thân
họ. BHXH được hình thành để góp phần cân bằng thu nhập cho người lao động
khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc
khả năng lao động không được sử dụng.
Còn đối tượng đảm bảo của BHXH là người lao động và gia đình họ theo quy
định của pháp luật BHXH.
Đối tượng tham gia BHXH là người lao động, người sử dụng lao động và Nhà
nước trong một số trường hợp.
- Các chế độ BHXH: Các chế độ BHXH là hệ thống các quy định về mức
hưởng của từng trường hợp, điều kiện hưởng, mức hưởng và thời hạn hưởng
cho người lao động khi họ gặp phải những rủi ro thuộc từng phạm vi bảo hiểm.
Tùy theo điều kiện, hệ thống BHXH của mỗi nước có thể có các chế độ BHXH
khác nhau trong số 9 chế độ mà Tổ chức Lao động quốc tế quy định. Hiện nay
pháp luật BHXH của Việt Nam quy định có 5 chế độ: chế độ trợ cấp cho
những trường hợp bị ốm đau (gọi tắt là chế độ ốm đau); chế độ BHXH cho lao
động nữ khi sinh con (gọi tắt là chế độ thai sản); chế độ trợ cấp BHXH cho
người lao động bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (gọi tắt là chế độ
TNLĐ & BNN); chế độ chôn cất và trợ cấp mất người nuôi dưỡng (gọi tắt là
chế độ tử tuất); chế độ bảo hiểm tuổi già (gọi tắt là chế độ hưu trí).
Có thể nói, các chế độ là nội dung cốt lõi nhất của hệ thống BHXH, nó thể hiện
được vai trò và phạm vi trách nhiệm của BHXH đối với người lao động khi họ
tham gia BHXH.
Trong các chế độ BHXH, quy định đối tượng được thụ hưởng, các điều kiện
hưởng BHXH, mức hưởng và thời hạn được hưởng trợ cấp BHXH (sẽ được đề
cập sâu hơn ở những phần sau - tác giả).
Trợ cấp BHXH là khoản tiền từ quỹ BHXH được bên BHXH (cơ quan BHXH)
chi trả cho mọi người được BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập bị giảm,
(Nghi định, quyết định ) và các văn bản dưới luật để thực hiện pháp luật BHXH
thống nhất trong phạm vi quốc gia. Khác với bảo hiểm thương mại, Nhà nước chỉ
ban hành những điều, những nội dung cơ bản nhất còn các chính sách, chiến lược
cụ thể là do các công ty bảo hiểm thực hiện, đối với BHXH, Nhà nước quy định
bằng văn bản pháp luật rất cụ thể và chặt chẽ các nội dung của chính sách BHXH,
các cơ quan BHXH không được tự ý đặt ra bất kỳ chế độ, bất kỳ quy định nào.
Vì vậy, xây dựng pháp luật BHXH có thể coi là chức năng quan trọng nhất của
quản lý Nhà nước về BHXH.
- Định hướng các hoạt động BHXH, bao gồm:
+ Thứ nhất, định hướng chính sách
+ Thứ hai, định hướng tài chính BHXH
- Thực hiện thanh tra, kiểm tra các hoạt động sự nghiệp BHXH
- Bảo hộ và bảo trợ cho các hoạt động BHXH
* Tổ chức hoạt động sự nghiệp BHXH.
Dù mô hình có thể được tổ chức khác nhau, nhưng hoạt động sự nghiệp BHXH có
những chức năng chủ yếu sau:
- Thực hiện thu- chi BHXH:
Thông quan bộ máy của mình và trên cơ sở pháp luật BHXH của mỗi nước, các cơ
quan BHXH tiến hành các nghiệp vụ thu tiền đóng BHXH của các doanh nghiệp
và người lao động (còn gọi là phí BHXH) và triển khai chi trả các trợ cấp cho
người thụ hưởng BHXH và các chi phí quản lý khác.
Thực hiện các nghiệp vụ kế toán - tài chính BHXH theo chính sách tài chính của
mỗi nước.
- Quản lý đối tượng
Trong hoạt động BHXH có hai nhóm đối tượng đó là nhóm đối tượng tham gia
BHXH và nhóm đối tượng thụ hưởng BHXH. Nhóm đối tượng tham gia BHXH
bao gồm các doanh nghiệp và người lao động. Khi tham gia BHXH, doanh nghiệp
(người sử dụng lao động) và người lao động đều phải đóng phí BHXH. Vì vậy, để
đảm bảo nguồn thu cho quỹ BHXH, các cơ quan BHXH phải nắm chắc được số
lượng các đơn vị tham gia BHXH, những di biến động trên từng địa bàn và trong
Quỹ BHXH tập trung những đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH
hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những người được hưởng
BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng
lao động hoặc mất việc làm.Như vậy quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời
là một quỹ dự phòng; nó vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là
điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH
tồn tại và phát triển.Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo khả năng giải
quyết những rủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp
cho việc giàn trải rủi ro được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian,
đồng thời giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm
chi cho cả Ngân sách nhà nướcvà ngân sách gia đình.Quỹ được hình thành từ
nhiều nguồn khác nhau:
- Thứ nhất, đó là phần đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và
Nhà nước, đây là nguồn chiếm tỉ trọng lớn nhất và cơ bản của quỹ.
- Thứ hai, là phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ được tổ chức
BHXH chuyên trách đưa vào hoạt động sinh lời.
- Thứ ba, là phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế vi phạm luật lệ về
BHXH. Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các
nguồn nêu trên. Tuy nhiên phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên
tham gia có khác nhau.
Mục đích sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho hai mực đich sau đây:Chi trả và trợ cấp
cho các chế độ BHXH,chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH được sử dụng
để trợ cấp cho các đối tượng tham gia BHXH, nhằm ổn định cuộc sống cho bản
thân và gia đình họ, khi đối tượng tham gia BHXH gặp rủi ro. Thực chất là trợ cấp
cho 9 chế độ mà tổ chức này đã nêu lên trong công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại
Giơnevơ:Chăm sóc y tế,Trợ cấp ốm đau ,Trợ cấp thất nghiệp ,trợ cấp tuổi già, trợ
cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình cấp sinh đẻ, trợ cấp khi
tàn phế, trợ cấp cho người còn sống ( trợ cấp mất người nuôi dưỡng) .9 chế độ trên
vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Bảo đảm chắc chắn, an toàn tuyệt đối, có khả năng thanh khoản cao.
+ Phải có lãi.
+ Phải đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên việc chi trả các chế độ
BHXH phát sinh.
Vì thế, các hình thức đầu tư phải linh hoạt, đa dạng nhưng phải chặt chẽ
theo những nguyên tắc và yêu cầu nêu trên. Thực hiện tốt việc đầu tư vốn nhàn
rỗi, quỹ BHXH không chỉ có tác dụng bảo toàn và phát triển vốn mà còn bảo đảm
quyền lợi cho người lao động trên thực tế. Tổ chức quản lý quỹ đầu tư tăng trưởng
vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH phải tuân theo nguyên tắc hạch toàn kinh doanh.
- Phải bảo đảm quyền lợi của người lao động tương ứng với nghĩa vụ đóng
góp của họ. Trong nền kinh tế thị trường, người lao động thuộc mọi thành phần
kinh tế đều bình đẳng hưởng chế độ BHXH. Song người lao động muốn được
hưởng quyền lợi về BHXH thì họ phải có nghĩa vụ đóng góp BHXH theo các
phương thức thích hợp (bắt buộc hay tự nguyện, ít chế độ hay nhiều chế độ
BHXH ) thường xuyên đều đặn trong những tháng, năm còn tuổi lao động.
Quyền lợi được hưởng phải phù hợp với mức đóng góp và thời gian đóng góp
BHXH của từng người lao động theo quy định của pháp luật. Vì thế, để tạo nguồn
tài chính ổn định cho quỹ BHXH, ngoài sự đóng góp của người lao động, người sử
dụng lao động Nhà nước cũng phải đóng góp vào quỹ BHXH. Trong trường hợp
Nhà nước thay đổi chính sách kinh tế - xã hội làm mất cân đối quỹ, hoặc do các
rủi ro bất khả kháng, Nhà nước phải có trách nhiệm trợ giúp quỹ BHXH để đảm
bảo chi trả có các đối tượng hưởng chế độ BHXH. Số tiền đóng góp phảo được
tính trên cơ sở số tiền lương hoặc thu nhập và được hạch toán vào giá thành sản
phẩm. Do vậy, những đơn vị sử dụng lao động trốn tránh nghĩa vụ đóng góp
BHXH, phải xử lý thật nghiêm túc. Vì họ trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH không
những xâm phạm đến quyền lợi BHXH của người lao động, mà còn gây ra bất
bình đẳng với các đơn vị sử dụng lao động thực hiện nghiêm túc đóng BHXH.
Thực hiện nguyên tắc này sẽ xoá bỏ được bao cấp trong chế độ BHXH, tạo
ra sự bình đẳng giữa người lao động trong các thành phần kinh tế, tạo ra khả năng
mất cân đối thu, chi quỹ BHXH.
Trên đây là một số nguyên tắc cơ bản cần phải quán triệt trong tổ chức và
quản lý quỹ BHXH làm cơ sở cho việc cải tiến, hoàn thiện các chế độ, chính sách
BHXH ở nước ta trong thời gian tới.
2. Cơ chế quản lý quỹ BHXH ở nước ta
. Giai đoạn trước 1995
Quỹ BHXH hoạt động dưới sự quản lý của Bộ Lao động – Thương binh &
Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đây chính là 2 cơ quan trực tiếp
quản lý BHXH. Cơ chế quản lý quỹ BHXH do 2 ngành đảm nhiệm được thống
nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến điạ phương theo 3 cấp:
Cấp Trung ương : Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội; Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam.
Cấp tỉnh : Sở Lao động - Thương binh & Xã hội; Liên hiệp Công đoàn tỉnh,
thành phố.
Cấp huyện : Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội; Các Công đoàn cơ
sở.
Cơ quan thứ hai cùng phối hợp quản lý quỹ BHXH là cơ quan Tài chính
các cấp. Cơ quan này có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của quỹ BHXH. Vì
cơ quan Tài chính có nhiệm vụ cung cấp đầy đủ và kịp thời nguồn kinh phí để 2
ngành là Bộ Lao động thương binh và xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam phân phối chi trả cho các đối tượng được hưởng. Cơ quan Tài chính cũng
được chia ra làm 3 cấp tương ứng là:
Cấp Trung ương : Bộ Tài chính
Cấp Tỉnh : Sở Tài chính
Cấp Huyện : Phòng Tài chính
Ngoài 2 ngành có liên quan chính đến hoạt động của quỹ BHXH chúng ta
còn thấy vai trò rất quan trọng của các cấp chính quyền địa phương. Đó là UBND
tỉnh, huyện và xã. Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội và Công đoàn Việt
Nam muốn quản lý tốt các đối tượng được hưởng BHXH thì phải thông qua
UBND ở từng địa phương.
chủ yếu sau: Chỉ đạo và giám sát, kiểm tra việc thu, chi, quản lý quỹ BHXH; quyết
định các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH; thẩm tra quyết
toán và thông qua dự toán hàng năm; kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan
quản lý Nhà nước có liên quan bổ sung sửa đổi các chính sách, chế độ BHXH; giải
quyết các khiếu nại của người tham gia BHXH; đề xuất việc bổ nhiệm, miễn
nhiệm Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Các thành viên
Hội đồng quản lý là đại diện có thẩm quyền của Bộ Bộ Lao động – Thương binh
& Xã hội, Bộ Tài chính, và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Uỷ viên Hội
đồng quản lý là Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Các thành viên này do Thủ
tướng Chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ Trưởng, Trưởng
ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ.
- BHXH Việt Nam, là cơ quan điều hành trực tiếp cao nhất của hệ thống
BHXH Việt Nam, do Tổng giám đốc trực tiếp điều hành và các Phó Tổng Giám
đốc giúp việc.
- Cơ chế quản lý quỹ BHXH Việt Nam được tổ chức thành hệ thống ngành
dọc từ trung ương đến địa phương theo 3 cấp:
+ Ở Trung ương là cơ quan BHXH Việt Nam
+ Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là các BHXH tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là BHXH tỉnh).
+ Ở các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là các BHXH quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là BHXH huyện).
Tuy nhiên, để BHXH Việt Nam hoạt động có hiệu quả thì ngành BHXH
còn phải kết hợp với Bộ Tài chính, Chính quyền, UBND các cấp và mạng lưới các
ban chi trả BHXH ở các địa phương.
*Quỹ BHXH Việt Nam được hình thành từ các nguồn sau:
- Nguồn sử dụng lao động đóng bằng 15% tổng quỹ lương của những người
tham gia BHXH trong đơn vị.
- Người lao động đóng bằng 5% tiền lương hàng tháng của mình.
- Ngân sách Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các chế
độ BHXH đối với người lao động.
Tổng Quỹ
BHXH thu
được (20%
tiền lương)
(tỷ đồng)
Trong đó
Ghi chú
Quỹ hưu trí,
tử tuất
(16% tiền
lương)
(tỷ đồng)
Quỹ ÔĐ, TS,
TNLĐ, BNN
(4% quỹ tiền
lương)
(tỷ đồng)
1
Năm 2008 30.810 24.802 6.008
Tăng so với
2007
7.055 = 29,7% 5.743 =
30,1%
1.243 = 26,1%
2
Năm 2009 37.011 29.609 7.402 Ước thực
hiện
Tăng so với
2008
6.201 = 20,1% 4.730 = 19% 1.471 = 24,8%
TT ĐỐI TƯỢNG
TIỀN LƯƠNG BÌNH
QUÂN ĐÓNG BHXH
(Triệu đồng/người/tháng)
Năm 2008 Năm 2009
Chung tất cả các đối tượng 1,519 1,712
Trong đó:
1
Hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp trong nước
và các tổ chức, cá nhân trong nước
1,326 1,564
2 Lực lượng vũ trang: - Người hưởng lương 3,311 3,986
- Người hưởng phụ cấp 0,54 0,65
3
Doanh nghiệp FDI và Văn phòng, tổ chức nước
ngoài
1,453 1,671
- Tiền lương hưu bình quân của các đối tượng (số liệu thống kê của BHXH Việt
Nam)
Đối tượng
Năm 2008 Năm 2009
Tuổi
nghỉ
Số năm
tham
Số đối
tượng
(người)
Lương
hưu bình
do quỹ BHXH chi
trả
20.448 1,658 21.525 1,740 54,6 31,5
Qua giám sát và phân tích số liệu cho thấy tình hình duy trì của quỹ
BHXH:
Thứ nhất, tổng quỹ thu BHXH bắt buộc năm sau đều cao hơn năm trước
nhưng thấp hơn tốc độ điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu và tổng số đối tượng
tăng thêm.
Thứ hai, tốc độ tăng thu quỹ BHXH tăng nhanh nhưng vẫn thấp hơn nhiều
so với tốc độ tăng chi quỹ BHXH (không kể phần kinh phí ngân sách nhà nước
chuyển để chi cho người nghỉ hưu, nghỉ mất sức trước năm 1995): năm 2008 thu
tăng 29,7% so với năm 2007 (30.810 tỉ đồng/23.755 tỉ đồng), trong khi chi tăng
47,7% (21.360 tỉ đồng/14.465 tỉ đồng); năm 2009: thu tăng 20,1% so với năm
2008 (37.011 tỉ đồng/30.810 tỉ đồng) trong khi chi lại tăng 45,9% so với năm 2008
(31.155 tỉ đồng/21.360 tỉ đồng).
Thứ ba, so sánh chi - thu quỹ hằng năm cho thấy, tốc độ chi quỹ tăng rất
nhanh và xu hướng tất yếu sẽ dẫn đến phải lấy vào quỹ kết dư để bảo đảm cân đối
thu-chi hằng năm, về lâu dài sẽ dẫn tới mất an toàn quỹ BHXH.
Cụ thể, năm 2007, chi chiếm 61% so với quỹ thu được trong năm (14.465 tỉ
đồng/23.755 tỉ đồng), thì năm 2008 là 69% (21.360 tỉ đồng/30.810 tỉ đồng) và năm
2009 là 84% (31.155 tỉ đồng/37.009 tỉ đồng). Nếu chỉ so sánh chi - thu quỹ hưu
trí, tử tuất thì chỉ số này còn cao hơn nữa và việc mất cân đối quỹ dài hạn ngày
càng rõ hơn: năm 2007, chi chiếm 64% so với quỹ thu được (12.244 tỉ
đồng/19.004 tỉ đồng) thì năm 2008 là 73% (18.236 tỉ đồng/24.879 tỉ đồng) và năm
2009 đã lên tới mức 88,5% (26.204 tỉ đồng/29.609 tỉ đồng).
Thứ tư, trong khi cân đối thu - chi quỹ hưu trí, tử tuất ngày càng thu hẹp thì
quỹ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp vẫn kết dư khá lớn:
năm 2008 kết dư 2.885 tỉ đồng (6.008 tỉ đồng - 3.123 tỉ đồng), năm 2009 số kết dư
là 3.375 tỉ đồng (7.402 tỉ đồng - 4.027 tỉ đồng). Theo thống kê của BHXH Việt
Nam, quỹ kết dư này, từ năm 1995 đến trước năm 2007 là 13.864 tỉ đồng được
Nhà nước vay 21,02%; mua trái phiếu Chính phủ 29,95%; mua công trái giáo dục
0,21% và cho các ngân hàng thương mại của Nhà nước vay 48,82%.
Năm 2008, số lãi đầu tư đã thu được gần 9 nghìn tỷ đồng với tỷ lệ lãi bình
quân năm là 11,76%. Năm 2009, số lãi ước thu được khoảng 8,4 nghìn tỷ đồng với
tỷ lệ lãi bình quân năm là 9,1% . Ước tính đến cuối năm 2009, tồn quỹ BHXH trên
95 nghìn tỷ đồng.
Nhìn chung, hoạt động đầu tư quỹ BHXH đảm bảo an toàn và có khả năng
thu hồi được khi cần thiết. Tuy nhiên, hình thức đầu tư quỹ chủ yếu tập trung vào
mua trái phiếu Chính phủ, cho ngân sách Nhà nước vay, cho các ngân hàng
thương mại của Nhà nước vay.
III. ĐÁNH GIÁ CƠ CHẾ QUẢN LÝ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
1. Những kết quả đạt được.
1.1. Hình thành hệ thống pháp lí làm cơ sở cho cơ chế quản lí tài chính
BHXH:
Từ ngay sau 1995, Chính phủ đã ban hành hàng loạt các Nghị định về
BHXH quy định và hoàn thiện dần các quy chế quản lí cũng như hoạt động
của ngành nói chung và của tài chính BHXH nói riêng. Đây chính là nền
tảng, là định hướng quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách BHXH.
Hơn nữa trong quá trình hoạt động hệ thống pháp lí của BHXH Việt Nam
luôn được sửa đổi bổ xung cho phù hợp với sự thay đổi của điều kiện kinh
tế, xã hội. Hệ thống BHXH Việt Nam ngày càng phát triển với số người
tham gia BHXH tăng, năm 1995 mới
có 2.275.998 người tham gia BHXH
thì tính cho đến cuối năm 2004 số
người tham gia đã lên tới 6.344.508
người
(tăng gần 3 lần).Năm 2008,
số người
tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
thống BHXH Việt Nam dựa trên phân cấp hành chính. Trên cơ sở phân cấp
này hoạt động thu, chi của BHXH được triển khai rộng khắp cả nước. Việc
thực hiện thu chủ yếu là thông qua chuyển khoản từ tài khoản của doanh
nghiệp vào tài khoản thu BHXH lập tại Kho bạc Nhà nước, hay ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt nam. Hình thức thu nộp trên vừa
đảm bảo tính an toàn, chính xác lại giúp cho các doanh nghiệp và cơ quan
BHXH thực hiện dễ dàng. Kết quả là số thu của BHXH Việt Nam năm sau
luôn tăng hơn năm trước, giảm tình trạng nợ đóng, trốn đóng, chậm đóng.
Từ đó quỹ BHXH được ổn định, thực hiện theo đúng kế hoạch quản lí, bảo
tồn và tăng trưởng quỹ, đảm bảo được khả năng chi trả của quỹ BHXH.
1.4. Quỹ đã có thu từ hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ, giảm được nhược
điểm của cơ chế quản lí PAYGO.
Từ sau 1997 BHXH Việt Nam thực sự có thu từ hoạt động đầu tư tăng
trưởng quỹ. Đây là một hoạt động đóng vai trò vị trí thực sự quan trọng
không những làm tăng thu mà còn góp phần bảo toàn khả năng chi trả của
quỹ BHXH. Tuy thu từ đầu tư chưa cao song đảm bảo an toàn, không để xảy
ra thất thoát, nó đã thể hiện sự đúng đắn trong quản lí tài chính BHXH. Đặc
biệt như điều kiện nước ta hiện nay chỉ số giá tiêu dùng tương đối cao (tỉ lệ
lạm phát cao) có thể dẫn tới việc Nhà nước phải quy định lại mức lương tối
thiểu. Như vậy nếu không có sự đầu tư bảo toàn và tăng trưởng quỹ thì sự bù
thiếu cho những chênh lệch khi nộp và khi hưởng là không có. Hơn nữa,
hoạt động đầu tư còn mang lại không những lợi ích về mặt kinh tế mà cả về
mặt xã hội. Các dự án đầu tư có thể mang đến việc làm cho nhiều lao động
thất nghiệp giảm gánh nặng cho xã hội . Việc đầu tư đã được thực hiện
theo đúng danh mục đầu tư, đúng hạn mức đầu tư và đảm bảo an toàn, tăng
trưởng quỹ BHXH góp phần đảm bảo khả năng chi trả cho các chế độ.
2. Những tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân.
2.1. Việc số người tham gia còn ít đặc biệt là tình trạng trốn tham gia, trốn
thấp, nếu cứ như hiện nay thì các biện pháp đầu tư bảo toàn và tăng trưởng
quỹ chưa đủ để khác phục sự mất cân đối lâu dài của quỹ BHXH trong
tương lai. Tình hình tài chính khu vực mới ổn định trở lại sau khủng hoảng
kinh tế khu vực năm 1997, nền kinh tế nước ta còn kém khả năng hấp thụ
vốn đầu tư. Bên cạnh đó thị trường tài chính Việt Nam chưa thực sự ổn định,
tỷ lệ lạm phát ở mức tương đối cao. Nhà nước hiện nay đang thực hiện chính
sách tiền tệ thắt chặt, tỷ lệ lãi suất huy động tiền gửi thấp.
2.4.Trên thực tế còn có các hạn chế như:
- Mặc dù bộ luật lao động ở nước ta quy định có hai loại hình BHXH nhưng mới
chỉ có điều lệ về loại hình BHXH bắt buộc còn BHXH tự nguyện vẫn mang tính
chất áp dụng thử nghiệm.
- Hiện vẫn tồn tại sự lạm dụng quỹ bảo hiểm thông qua chi trả cho tai nạn giao
thông; giá thuốc trong quản lý và cung ứng qua BHXH còn gây nhiều áp lực, đúng
sai chưa rõ; đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội mới còn hạn chế
- Đối tượng chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc còn là một số lượng không hề
nhỏ
số đơn vị và đối tượng cũng như mức tiền lương đóng BHXH bắt buộc năm sau
cao hơn năm trước, chuă đánh giá đúng mức tình hình thực hiện luật BHXH
-Thực tế, tổng quỹ thu bảo hiểm xã hội bắt buộc năm sau đều cao hơn năm trước
nhưng thấp hơn tốc độ điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu và tổng số đối tượng
tăng thêm. Điều đó cho thấy, việc thu quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc vẫn thụ động,
phụ thuộc vào việc đăng ký của tổ chức, doanh nghiệp chứ cơ quan quản lý chưa
kiểm soát được.
- việc xác định đơn vị có sử dụng lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội giữa các
tỉnh là không thống nhất. Hiện, có tỉnh dựa vào số liệu của Sở kế hoạch đầu tư
cung cấp rồi tiến hành rà soát, có tỉnh lại dựa vào số liệu của ngành thuế, tỉnh thì
dựa trên số liệu thống kê chung, cũng có tỉnh thì tổ chức phối hợp rà soát, điều
tra nhưng nhìn chung vẫn trên tinh thần thụ động.
- Các đơn vị bảo hiểm xã hội địa phương chỉ nắm và xác định được khá chính xác
số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội thuộc các cơ quan hành chính sự nghiệp,
công tác thi đua, thanh tra và kiểm tra, tham gia vào phát triển kinh tế,
bảo toàn và tăng trưởng quỹ.
2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Xuất phát từ phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới, vấn đề
hoàn thành hệ thống pháp luật về BHXH là rất cần thiết và cần thực
hiện từng bước cụ thể:
• Phải sắp xếp, rà soát lại toàn bộ các văn bản pháp quy về hoạt
động BHXH trước đây và hiện hành với mục đích loại bỏ hoặc điều
chỉnh bổ sung cho phù hợp với nhu cầu quản lý trong điều kiện nền
kinh tế thị trường.
• Nâng cáo khả năng thực thi của các văn bản pháp lý trong lĩnh
vực BHXH. Muốn thực hiện được những điều này, ngoài sự đóng góp
xây dựng và hoàn thiện cúa các chuyên gia, các bộ có kinh nghiệm
trong và ngoài ngành thì việc học tập kinh nghiệm xây dựng khung